BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải ở thế gian có hạng gọi là Dạ-xoa?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ở thế gian có hạng gọi là Dạ-xoa.”
“Thưa ngài, phải chăng các Dạ-xoa ấy lìa đời từ sanh chủng ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Các Dạ-xoa ấy lìa đời từ sanh chủng ấy.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao thân xác của các Dạ-xoa đã chết ấy không được nhìn thấy, mùi của xác chết cũng không tỏa ra?”
“Tâu đại vương, thân xác của các Dạ-xoa đã chết ấy được nhìn thấy. Mùi xác chết của chúng cũng tỏa ra. Tâu đại vương, thân xác của các Dạ-xoa đã chết với hình dáng của côn trùng được nhìn thấy, với hình dáng của con kiến được nhìn thấy, với hình dáng của con mối được nhìn thấy, với hình dáng của con châu chấu được nhìn thấy, với hình dáng của con rắn được nhìn thấy, với hình dáng của con bọ cạp được nhìn thấy, với hình dáng của con rết được nhìn thấy, với hình dáng của con chim được nhìn thấy, với hình dáng của con thú được nhìn thấy.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, còn có người nào khác có thể trả lời khi được hỏi câu hỏi này, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy?”
Câu hỏi về thây chết của Dạ-xoa là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, atthi loke yakkhā nāmā”ti?
“Āma, mahārāja, atthi loke yakkhā nāmā”ti.
“Cavanti pana te, bhante, yakkhā tamhā yoniyā”ti?
“Āma, mahārāja, cavanti te yakkhā tamhā yoniyā”ti.
“Kissa pana, bhante nāgasena, tesaṁ matānaṁ yakkhānaṁ sarīraṁ na dissati, kuṇapagandhopi na vāyatī”ti?
“Dissati, mahārāja, matānaṁ yakkhānaṁ sarīraṁ, kuṇapagandhopi tesaṁ vāyati, matānaṁ, mahārāja, yakkhānaṁ sarīraṁ kīṭavaṇṇena vā dissati, kimivaṇṇena vā dissati, kipillikavaṇṇena vā dissati, paṭaṅgavaṇṇena vā dissati, ahivaṇṇena vā dissati, vicchikavaṇṇena vā dissati, satapadivaṇṇena vā dissati, dijavaṇṇena vā dissati, migavaṇṇena vā dissatī”ti.
“Ko hi, bhante nāgasena, añño idaṁ pañhaṁ puṭṭho visajjeyya aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Yakkhapañho sattamo.
PTS cs 19 ‘Venerable Nāgasena, are there such things as demons (Yakkhā) in the world?’
‘Yes, O king.’
‘Do they ever leave that condition’ (fall out of that phase of existence)?
‘Yes, they do.’
‘But, if so, why is it that the remains of those dead Yakkhas are never found, nor any odour of their corpses smelt? ’
‘PTS vp Pali 272 Their remains are found, O king, and an odour does arise from their dead bodies. The remains of bad Yakkhas can be seen in the form of PTS vp En 109 worms and beetles and ants and moths and snakes and scorpions and centipedes, and birds and wild beasts.’
‘Who else, O Nāgasena, could have solved this puzzle except one as wise as you!’
Here ends the dilemma as to dead demons.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải ở thế gian có hạng gọi là Dạ-xoa?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ở thế gian có hạng gọi là Dạ-xoa.”
“Thưa ngài, phải chăng các Dạ-xoa ấy lìa đời từ sanh chủng ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Các Dạ-xoa ấy lìa đời từ sanh chủng ấy.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao thân xác của các Dạ-xoa đã chết ấy không được nhìn thấy, mùi của xác chết cũng không tỏa ra?”
“Tâu đại vương, thân xác của các Dạ-xoa đã chết ấy được nhìn thấy. Mùi xác chết của chúng cũng tỏa ra. Tâu đại vương, thân xác của các Dạ-xoa đã chết với hình dáng của côn trùng được nhìn thấy, với hình dáng của con kiến được nhìn thấy, với hình dáng của con mối được nhìn thấy, với hình dáng của con châu chấu được nhìn thấy, với hình dáng của con rắn được nhìn thấy, với hình dáng của con bọ cạp được nhìn thấy, với hình dáng của con rết được nhìn thấy, với hình dáng của con chim được nhìn thấy, với hình dáng của con thú được nhìn thấy.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, còn có người nào khác có thể trả lời khi được hỏi câu hỏi này, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy?”
Câu hỏi về thây chết của Dạ-xoa là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, atthi loke yakkhā nāmā”ti?
“Āma, mahārāja, atthi loke yakkhā nāmā”ti.
“Cavanti pana te, bhante, yakkhā tamhā yoniyā”ti?
“Āma, mahārāja, cavanti te yakkhā tamhā yoniyā”ti.
“Kissa pana, bhante nāgasena, tesaṁ matānaṁ yakkhānaṁ sarīraṁ na dissati, kuṇapagandhopi na vāyatī”ti?
“Dissati, mahārāja, matānaṁ yakkhānaṁ sarīraṁ, kuṇapagandhopi tesaṁ vāyati, matānaṁ, mahārāja, yakkhānaṁ sarīraṁ kīṭavaṇṇena vā dissati, kimivaṇṇena vā dissati, kipillikavaṇṇena vā dissati, paṭaṅgavaṇṇena vā dissati, ahivaṇṇena vā dissati, vicchikavaṇṇena vā dissati, satapadivaṇṇena vā dissati, dijavaṇṇena vā dissati, migavaṇṇena vā dissatī”ti.
“Ko hi, bhante nāgasena, añño idaṁ pañhaṁ puṭṭho visajjeyya aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Yakkhapañho sattamo.