BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Niết Bàn không là quá khứ, không là hiện tại, không là vị lai, không phải là được sanh lên, không phải là không được sanh lên, không phải là sẽ được làm cho sanh lên.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây người nào đó thực hành đúng đắn và chứng ngộ Niết Bàn, thì người ấy chứng ngộ cái (Niết Bàn) đã được sanh lên, hay là làm cho (Niết Bàn) sanh lên rồi chứng ngộ?”
“Tâu đại vương, người nào đó thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn, người ấy chứng ngộ không phải cái (Niết Bàn) đã được sanh lên, không phải là làm cho (Niết Bàn) sanh lên rồi chứng ngộ. Tâu đại vương, tuy nhiên có cảnh giới Niết Bàn ấy, người ấy thực hành đúng đắn và chứng ngộ cái ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chớ làm cho câu hỏi này bị che đậy lại rồi mới giải thích. Xin ngài hãy làm cho nó được mở ra, được rõ ràng, rồi giải thích. Với ước muốn đã được sanh khởi, với sự nỗ lực đã được sanh khởi, điều nào ngài đã học, xin ngài hãy tuôn ra tất cả các điều ấy cho chính trường hợp này. Ở đây, đám người này là mê muội, bị sanh khởi nỗi phân vân, bị khởi lên sự nghi ngờ. Xin ngài hãy phá vỡ mũi tên có sự độc hại ở bên trong ấy.”
BJT 2“Tâu đại vương, có cảnh giới Niết Bàn ấy, tịch tịnh, an lạc, hảo hạng. Người thực hành đúng đắn, trong khi quán sát về các hành theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ Niết Bàn. Tâu đại vương, giống như người đệ tử, theo lời dạy của vị thầy, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ được kiến thức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người thực hành đúng đắn theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ Niết Bàn.”
“Vậy thì Niết Bàn sẽ được nhìn thấy như thế nào?”
“Sẽ được nhìn thấy là không có rủi ro, không có bất hạnh, không có sợ hãi, là an toàn, tịch tịnh, an lạc, thoải mái, hảo hạng, trong sạch, mát lạnh. Tâu đại vương, giống như người đàn ông, trong khi bị đốt nóng bởi ngọn lửa với nhiều đống củi đã được phát cháy sôi sục, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi không có ngọn lửa, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa sức nóng của ngọn lửa gồm ba loại. Tâu đại vương, ngọn lửa là như thế nào thì ngọn lửa gồm ba loại nên được xem xét như vậy. Người đàn ông ở trong ngọn lửa là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có ngọn lửa là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông đi đến nơi chất đống các xác chết của rắn, chó, người và các phần thải bỏ của cơ thể, bị kẹt vào ở giữa các búi tóc bị rối lại của các xác chết, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi không có xác chết, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa xác chết phiền não. Tâu đại vương, xác chết là như thế nào thì năm loại dục nên được xem xét như vậy. Người đàn ông đi đến nơi các xác chết là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có xác chết là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông bị khiếp sợ, bị run sợ, bị rúng động, có tâm bị xáo trộn và bị tán loạn, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi chắc chắn, vững chãi, không dao động, không có sự sợ hãi, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa sự sợ hãi và sự run sợ. Tâu đại vương, sự sợ hãi là như thế nào thì sự sợ hãi được vận hành một cách liên tục tùy thuận theo sanh-già-bệnh-chết nên được xem xét như vậy. Người đàn ông bị khiếp sợ là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có sự sợ hãi là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông bị té ngã vào khu vực là vũng bùn, đầm lầy, bị ô nhiễm, dơ bẩn, sau khi ra khỏi vũng bùn, đầm lầy ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi đến khu vực hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa vũng lầy phiền não ô nhiễm. Tâu đại vương, vũng bùn là như thế nào thì lợi lộc, tôn vinh, danh tiếng nên được xem xét như vậy. Người đàn ông ở trong vũng bùn là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Khu vực hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.”
BJT 4“Thưa ngài, vậy thì người thực hành đúng đắn làm cách nào chứng ngộ Niết Bàn ấy?”
“Tâu đại vương, người nào thực hành đúng đắn, người ấy quán sát về sự vận hành của các hành; trong khi quán sát về sự vận hành, nhìn thấy sự sanh, nhìn thấy sự già, nhìn thấy sự bệnh, nhìn thấy sự chết ở nơi ấy, không nhìn thấy bất cứ điều gì an lạc, thoải mái ở nơi ấy, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Người ấy không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm bắt.
Tâu đại vương, giống như người đàn ông không nhìn thấy bất cứ chỗ nào đáng được nắm bắt ở cục sắt được đốt nóng trọn ngày, bị bốc cháy, sôi sục, nóng bỏng, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào quán sát về sự vận hành của các hành, người ấy trong khi quán sát về sự vận hành, nhìn thấy sự sanh, nhìn thấy sự già, nhìn thấy sự bệnh, nhìn thấy sự chết ở nơi ấy, không nhìn thấy bất cứ điều gì an lạc, thoải mái ở nơi ấy, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Người ấy không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm bắt. Đối với người ấy, trong khi không nhìn thấy điều gì đáng được nắm bắt, sự không thích thú được thành lập ở tâm của người ấy, sự nóng bức xuất hiện ở thân của người ấy. Người ấy, không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở các hữu.
Tâu đại vương, giống như người đi vào đống lửa lớn, có ngọn lửa cháy rực. Ở đó, người ấy không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở ngọn lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đối với người ấy, trong khi không nhìn thấy điều gì đáng được nắm bắt, sự không thích thú được thành lập ở tâm của người ấy, sự nóng bức xuất hiện ở thân của người ấy. Người ấy, không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở các hữu. Đối với người ấy, đã nhìn thấy nỗi sợ hãi ở sự vận hành, có tâm như vầy sanh khởi: ‘Sự vận hành này quả đã bị đốt nóng, bị cháy đỏ, bị cháy rực, có nhiều khổ đau, có nhiều ưu phiền. Nếu ai đó có thể đạt được sự không vận hành, điều ấy là tịch tịnh, điều ấy là hảo hạng, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt tận ái dục, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịnh diệt, Niết Bàn.’ Nhờ vậy, tâm của người ấy lao vào ở sự không vận hành, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Sự thoát ra đã đạt được bởi ta.’
Tâu đại vương, giống như người đàn ông bị lạc lối, bị rơi vào nơi lạ, sau khi nhìn thấy lối ra, thì lao vào nơi ấy, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Lối ra đã đạt được bởi ta.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã nhìn thấy nỗi sợ hãi ở sự vận hành, thì tâm của người ấy lao vào ở sự không vận hành, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Sự thoát ra đã đạt được bởi ta.’ Người ấy tích lũy, theo đuổi, tu tập, thực hành thường xuyên đạo lộ đưa đến sự không vận hành. Đối với người ấy, niệm được thành lập ở mục đích ấy, tinh tấn được thành lập ở mục đích ấy, hỷ được thành lập ở mục đích ấy. Trong khi người ấy chú tâm liên tục ở tâm ấy, thì vượt qua sự vận hành, đi đến sự không vận hành. Tâu đại vương, người đã đạt đến sự không vận hành, đã thực hành đúng đắn, được gọi là ‘chứng ngộ Niết Bàn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự chứng ngộ Niết Bàn là thứ mười một.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘nibbānaṁ na atītaṁ, na anāgataṁ, na paccuppannaṁ, na uppannaṁ na anuppannaṁ na uppādanīyan’ti.
Idha, bhante nāgasena, yo koci sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti, so uppannaṁ sacchikaroti, udāhu uppādetvā sacchikarotī”ti?
“Yo koci, mahārāja, sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti, so na uppannaṁ sacchikaroti, na uppādetvā sacchikaroti, api ca, mahārāja, atthesā nibbānadhātu, yaṁ so sammāpaṭipanno sacchikarotī”ti.
“Mā, bhante nāgasena, imaṁ pañhaṁ paṭicchannaṁ katvā dīpehi, vivaṭaṁ pākaṭaṁ katvā dīpehi chandajāto ussāhajāto, yaṁ te sikkhitaṁ, taṁ sabbaṁ etthevākirāhi, etthāyaṁ jano sammūḷho vimatijāto saṁsayapakkhando, bhindetaṁ antodosasallan”ti.
“Atthesā, mahārāja, nibbānadhātu santā sukhā paṇītā, taṁ sammāpaṭipanno jinānusiṭṭhiyā saṅkhāre sammasanto paññāya sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, antevāsiko ācariyānusiṭṭhiyā vijjaṁ paññāya sacchikaroti;
evameva kho, mahārāja, sammāpaṭipanno jinānusiṭṭhiyā paññāya nibbānaṁ sacchikaroti.
Kathaṁ pana taṁ nibbānaṁ daṭṭhabbanti?
Anītito nirupaddavato abhayato khemato santato sukhato sātato paṇītato sucito sītalato daṭṭhabbaṁ.
Yathā, mahārāja, puriso bahukaṭṭhapuñjena jalitakaṭṭhitena agginā dayhamāno vāyāmena tato muñcitvā niraggikokāsaṁ pavisitvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatatividhaggisantāpaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, aggi, evaṁ tividhaggi daṭṭhabbo;
yathā aggigato puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā niraggikokāso, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso ahikukkuramanussakuṇapasarīravaḷañjakoṭṭhāsarāsigato kuṇapajaṭājaṭitantaramanupaviṭṭho vāyāmena tato muñcitvā nikkuṇapokāsaṁ pavisitvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatakilesakuṇapaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, kuṇapaṁ, evaṁ pañca kāmaguṇā daṭṭhabbā;
yathā kuṇapagato puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā nikkuṇapokāso, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso bhīto tasito kampito viparītavibbhantacitto vāyāmena tato muñcitvā daḷhaṁ thiraṁ acalaṁ abhayaṭṭhānaṁ pavisitvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatabhayasantāsaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, bhayaṁ, evaṁ jātijarābyādhimaraṇaṁ paṭicca aparāparaṁ pavattabhayaṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā bhīto puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā abhayaṭṭhānaṁ, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso kiliṭṭhamalinakalalakaddamadese patito vāyāmena taṁ kalalakaddamaṁ apavāhetvā parisuddhavimaladesamupagantvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatakilesamalakaddamaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, kalalaṁ, evaṁ lābhasakkārasiloko daṭṭhabbo;
yathā kalalagato puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā parisuddhavimaladeso, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Tañca pana nibbānaṁ sammāpaṭipanno kinti sacchikaroti?
Yo so, mahārāja, sammāpaṭipanno, so saṅkhārānaṁ pavattaṁ sammasati.
Pavattaṁ sammasamāno tattha jātiṁ passati jaraṁ passati byādhiṁ passati maraṇaṁ passati, na tattha kiñci sukhaṁ sātaṁ passati āditopi majjhatopi pariyosānatopi.
So tattha kiñci na gayhūpagaṁ passati.
Yathā, mahārāja, puriso divasasantatte ayoguḷe jalite tatte kaṭhite āditopi majjhatopi pariyosānatopi na kiñci gayhūpagaṁ padesaṁ passati;
evameva kho, mahārāja, yo saṅkhārānaṁ pavattaṁ sammasati, so pavattaṁ sammasamāno tattha jātiṁ passati jaraṁ passati byādhiṁ passati maraṇaṁ passati, na tattha kiñci sukhaṁ sātaṁ passati āditopi majjhatopi pariyosānatopi.
So tattha na kiñci gayhūpagaṁ passati, tassa gayhūpagaṁ apassantassa citte arati saṇṭhāti, kāyasmiṁ ḍāho okkamati, so atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto bhavesu nibbindati.
Yathā, mahārāja, puriso jalitajālaṁ mahantaṁ aggikkhandhaṁ paviseyya, so tattha atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto aggimhi nibbindeyya;
evameva kho, mahārāja, tassa gayhūpagaṁ apassantassa citte arati saṇṭhāti, kāyasmiṁ ḍāho okkamati, so atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto bhavesu nibbindati.
Tassa pavatte bhayadassāvissa evaṁ cittaṁ uppajjati ‘santattaṁ kho panetaṁ pavattaṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ bahudukkhaṁ bahūpāyāsaṁ, yadi koci labhetha appavattaṁ etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.
Iti hetaṁ tassa appavatte cittaṁ pakkhandati pasīdati pahaṁsayati tusayati ‘paṭiladdhaṁ kho me nissaraṇan’ti.
Yathā, mahārāja, puriso vippanaṭṭho videsapakkhando nibbāhanamaggaṁ disvā tattha pakkhandati pasīdati pahaṁsayati tusayati ‘paṭiladdho me nibbāhanamaggo’ti;
evameva kho, mahārāja, pavatte bhayadassāvissa appavatte cittaṁ pakkhandati pasīdati pahaṁsayati tusayati ‘paṭiladdhaṁ kho me nissaraṇan’ti.
So appavattatthāya maggaṁ āyūhati gavesati bhāveti bahulīkaroti, tassa tadatthaṁ sati santiṭṭhati, tadatthaṁ vīriyaṁ santiṭṭhati, tadatthaṁ pīti santiṭṭhati, tassa taṁ cittaṁ aparāparaṁ manasikaroto pavattaṁ samatikkamitvā appavattaṁ okkamati, appavattamanuppatto, mahārāja, sammāpaṭipanno ‘nibbānaṁ sacchikarotī’ti vuccatī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nibbānasacchikaraṇapañho ekādasamo.
PTS cs 76 ‘Venerable Nāgasena, your people say:
“Nirvāṇa is not past, nor future, nor present, nor produced, nor not produced, nor producible.”
‘In that case, Nāgasena, does the man who, having ordered his life aright, realises Nirvāṇa, realise something already produced, or does he himself produce it first, and then realise it?’
‘Neither the one, O king, nor the other. And nevertheless, O king, that principle of Nirvāṇa (nibbāna-dhātu) which he, so ordering his life aright, realises—that exists.’ PTS vp En 196
‘Do not, venerable Nāgasena, clear up this puzzle by making it dark! Make it open and plain as you elucidate it. With a will, strenuous in endeavour, pour out upon it all that has been taught you. It is a point on which this people is bewildered, plunged into perplexity, lost in doubt. Dissipate this guilty uncertainty; it pierces like a dart!’
PTS cs 77 ‘That principle of Nirvāṇa, O king, so peaceful, so blissful, so delicate, exists. And it is that which he who orders his life aright, grasping the idea of all things (of the conditions, Saṁkhāras) according to the teachings of the Conquerors, realises by his wisdom—even as a pupil, by his knowledge, makes himself, according to the instruction of his teacher, master of an art.
‘And if you ask: “How is Nirvāṇa to be known ?” it is by freedom from distress and danger, by confidence, by peace, by calm, by bliss, by happiness, by delicacy, by purity, by freshness.
PTS cs 78 ‘Just, O king, as a man being burnt in a blazing fiery furnace heaped up with many faggots of dry sticks, when he has freed himself from it by PTS vp En 197 a violent effort, and escaped into a cool place, PTS vp Pali 324 would experience supreme bliss—just so whosoever orders his life aright, he by his careful thinking will realise the supreme bliss of Nirvāṇa, in which the burning heat of the threefold fire (of lust, malice, and delusion) has all gone out. As the furnace, O king, so should you regard this threefold fire, as the man fallen into the fire the man who is ordering his life aright, as the cool place Nirvāṇa.
PTS cs 79 ‘Or again, O king, as a man fallen into a pit full of the dead bodies of snakes and dogs and men, of ordure, and of refuse, when, finding himself in the midst of it entangled in the hair of the corpses, he had by a violent effort escaped into a place where no dead bodies were, would experience supreme bliss—just so whosoever orders his life aright, he by his careful thinking will realise the supreme bliss of Nirvāṇa, from which the corpses of all evil dispositions have been removed. As a corpse, O king, so should you regard the four pleasures of sense, as the man fallen among corpses the man who is ordering his life aright, as the place free from corpses Nirvāṇa.
PTS cs 80 ‘Or again, O king, as a man (fallen among enemies with drawn swords in their hands), quaking with fear and terror, agitated and upset in mind, when with a violent effort he has freed himself from them, and escaped into a strong refuge, a firm place of security, experiences supreme bliss—just so whosoever orders his life aright, he by his careful thinking will realise the supreme bliss of Nirvāṇa, PTS vp En 198 in which fear and terror have been put away. As the terror, O king, so should you regard the anxiety which arises again and again on account of birth, old age, disease, and death, as the terrified man the man who is ordering his life aright, as the place of refuge Nirvāṇa.
PTS cs 81 ‘Or again, O king, as a man fallen on a spot filthy with dirt, and slime, and mud, when with a violent effort he has got rid of the mud, and escaped to a clean and spotless place, would experience supreme bliss-just so whosoever orders his life aright, he by his careful thinking will realise the supreme bliss of Nirvāṇa, from which the stains and mud of evil dispositions have been removed. As the mud, O king, PTS vp Pali 325 so should you regard income, and honour, and praise, as the man fallen into the mud the man who is ordering his life aright, as the clean and spotless place Nirvāṇa.
PTS cs 82 ‘And if again you should ask: “How does he who orders his life aright realise that Nirvāṇa?” (I should reply), He, O king, who orders his life aright grasps the truth as to the development of all things, and when he is doing so he perceives therein birth, he perceives old age, he perceives disease, he perceives death. But he perceives not therein either happiness or bliss, he perceives not therein, whether in the beginning, or the middle, or the end, anything worthy of being laid hold of (as lasting satisfaction). As a man, O king, if a mass of iron PTS vp En 199 had been heated the livelong day, and were all glowing, scorching, and red hot, would find no spot on it, whether at one end or in the middle or at the other end, fit to be taken hold of—just so, O king, he who orders his life aright grasps the truth of the development of things, and in doing so he perceives therein birth, he perceives old age, he perceives disease, he perceives death. But he perceives not therein either happiness or bliss, he perceives not therein, whether in the beginning, or in the middle, or in the end, anything fit to be taken hold of (as a lasting satisfaction).
PTS cs 83 ‘And discontent arises in his mind when he thus finds nothing fit to be relied on as a lasting satisfaction, and a fever takes possession of his body, and without a refuge or protection, hopeless, he becomes weary of repeated lives. As if a man had fallen into a burning and blazing mighty fiery furnace, and saw no refuge from it, no way of escape, he would, hopeless, be weary of the fire—just so, O king, discontent arises in his mind when he thus finds nothing fit to be relied on as a lasting satisfaction, and a fever takes possession of his body, and without a refuge or protection, hopeless, he becomes weary of repeated births.
PTS cs 84 ‘And in the mind of him who thus perceives
PTS vp En 200 The insecurity of transitory life, (of starting afresh ha innumerable births) the thought arises: “All on fire is this endless becoming, burning, and blazing! Full of pain is it, of despair! If only one could reach a state in which there were no becoming, there would there be calm, that would be sweet-the cessation of all these conditions, the getting rid of all these defects (of lusts, of evil, and of Karma), the end of cravings, the absence of passion, peace, Nirvāṇa!” And therewith does his mind leap forward into that state in which there is no becoming, and then has he found peace, PTS vp Pali 326 Then does he exult and rejoice at the thought: “A refuge have I gained at last!” Just, O king, as a man who, venturing into a strange land, has lost his way, on becoming aware of a path, free from jungle, that will lead him home, bounds forward along it, contented in mind, exulting and rejoicing at the thought: “I have found the way at last!"—just so in him who thus perceives the insecurity of transitory births there arises the thought: “All on fire is this endless becoming, burning, and blazing! Full of pain is it, and despair! If only one could reach a state in which there were no becoming, there would there be calm, that would be sweet-the cessation of all these conditions, the getting rid of all these defects, the end of cravings, the absence of passion, peace, Nirvāṇa!” And therewith does his mind leap forward into that state in which there is no becoming, PTS vp En 201 and then has he found peace, then does he exult and rejoice at the thought: “A refuge have I found at last!” And he strives with might and main along that path, searches it out, accustoms himself thoroughly to it, to that end does he make firm his self-possession, to that end does he hold fast in effort, to that end does he remain stedfast in love (toward all beings in all the worlds), and still to that does he direct his mind again and again, until gone far beyond the transitory, he gains the Real, the highest fruit (of Arahatship). And when he has gained that, O king, the man who has ordered his life aright has realised, (seen face to face,) Nirvāṇa!’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the time of Nirvāṇa.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Niết Bàn không là quá khứ, không là hiện tại, không là vị lai, không phải là được sanh lên, không phải là không được sanh lên, không phải là sẽ được làm cho sanh lên.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây người nào đó thực hành đúng đắn và chứng ngộ Niết Bàn, thì người ấy chứng ngộ cái (Niết Bàn) đã được sanh lên, hay là làm cho (Niết Bàn) sanh lên rồi chứng ngộ?”
“Tâu đại vương, người nào đó thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn, người ấy chứng ngộ không phải cái (Niết Bàn) đã được sanh lên, không phải là làm cho (Niết Bàn) sanh lên rồi chứng ngộ. Tâu đại vương, tuy nhiên có cảnh giới Niết Bàn ấy, người ấy thực hành đúng đắn và chứng ngộ cái ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chớ làm cho câu hỏi này bị che đậy lại rồi mới giải thích. Xin ngài hãy làm cho nó được mở ra, được rõ ràng, rồi giải thích. Với ước muốn đã được sanh khởi, với sự nỗ lực đã được sanh khởi, điều nào ngài đã học, xin ngài hãy tuôn ra tất cả các điều ấy cho chính trường hợp này. Ở đây, đám người này là mê muội, bị sanh khởi nỗi phân vân, bị khởi lên sự nghi ngờ. Xin ngài hãy phá vỡ mũi tên có sự độc hại ở bên trong ấy.”
BJT 2“Tâu đại vương, có cảnh giới Niết Bàn ấy, tịch tịnh, an lạc, hảo hạng. Người thực hành đúng đắn, trong khi quán sát về các hành theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ Niết Bàn. Tâu đại vương, giống như người đệ tử, theo lời dạy của vị thầy, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ được kiến thức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người thực hành đúng đắn theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ Niết Bàn.”
“Vậy thì Niết Bàn sẽ được nhìn thấy như thế nào?”
“Sẽ được nhìn thấy là không có rủi ro, không có bất hạnh, không có sợ hãi, là an toàn, tịch tịnh, an lạc, thoải mái, hảo hạng, trong sạch, mát lạnh. Tâu đại vương, giống như người đàn ông, trong khi bị đốt nóng bởi ngọn lửa với nhiều đống củi đã được phát cháy sôi sục, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi không có ngọn lửa, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa sức nóng của ngọn lửa gồm ba loại. Tâu đại vương, ngọn lửa là như thế nào thì ngọn lửa gồm ba loại nên được xem xét như vậy. Người đàn ông ở trong ngọn lửa là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có ngọn lửa là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông đi đến nơi chất đống các xác chết của rắn, chó, người và các phần thải bỏ của cơ thể, bị kẹt vào ở giữa các búi tóc bị rối lại của các xác chết, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi không có xác chết, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa xác chết phiền não. Tâu đại vương, xác chết là như thế nào thì năm loại dục nên được xem xét như vậy. Người đàn ông đi đến nơi các xác chết là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có xác chết là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông bị khiếp sợ, bị run sợ, bị rúng động, có tâm bị xáo trộn và bị tán loạn, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi chắc chắn, vững chãi, không dao động, không có sự sợ hãi, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa sự sợ hãi và sự run sợ. Tâu đại vương, sự sợ hãi là như thế nào thì sự sợ hãi được vận hành một cách liên tục tùy thuận theo sanh-già-bệnh-chết nên được xem xét như vậy. Người đàn ông bị khiếp sợ là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có sự sợ hãi là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông bị té ngã vào khu vực là vũng bùn, đầm lầy, bị ô nhiễm, dơ bẩn, sau khi ra khỏi vũng bùn, đầm lầy ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi đến khu vực hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa vũng lầy phiền não ô nhiễm. Tâu đại vương, vũng bùn là như thế nào thì lợi lộc, tôn vinh, danh tiếng nên được xem xét như vậy. Người đàn ông ở trong vũng bùn là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Khu vực hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.”
BJT 4“Thưa ngài, vậy thì người thực hành đúng đắn làm cách nào chứng ngộ Niết Bàn ấy?”
“Tâu đại vương, người nào thực hành đúng đắn, người ấy quán sát về sự vận hành của các hành; trong khi quán sát về sự vận hành, nhìn thấy sự sanh, nhìn thấy sự già, nhìn thấy sự bệnh, nhìn thấy sự chết ở nơi ấy, không nhìn thấy bất cứ điều gì an lạc, thoải mái ở nơi ấy, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Người ấy không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm bắt.
Tâu đại vương, giống như người đàn ông không nhìn thấy bất cứ chỗ nào đáng được nắm bắt ở cục sắt được đốt nóng trọn ngày, bị bốc cháy, sôi sục, nóng bỏng, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào quán sát về sự vận hành của các hành, người ấy trong khi quán sát về sự vận hành, nhìn thấy sự sanh, nhìn thấy sự già, nhìn thấy sự bệnh, nhìn thấy sự chết ở nơi ấy, không nhìn thấy bất cứ điều gì an lạc, thoải mái ở nơi ấy, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Người ấy không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm bắt. Đối với người ấy, trong khi không nhìn thấy điều gì đáng được nắm bắt, sự không thích thú được thành lập ở tâm của người ấy, sự nóng bức xuất hiện ở thân của người ấy. Người ấy, không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở các hữu.
Tâu đại vương, giống như người đi vào đống lửa lớn, có ngọn lửa cháy rực. Ở đó, người ấy không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở ngọn lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đối với người ấy, trong khi không nhìn thấy điều gì đáng được nắm bắt, sự không thích thú được thành lập ở tâm của người ấy, sự nóng bức xuất hiện ở thân của người ấy. Người ấy, không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở các hữu. Đối với người ấy, đã nhìn thấy nỗi sợ hãi ở sự vận hành, có tâm như vầy sanh khởi: ‘Sự vận hành này quả đã bị đốt nóng, bị cháy đỏ, bị cháy rực, có nhiều khổ đau, có nhiều ưu phiền. Nếu ai đó có thể đạt được sự không vận hành, điều ấy là tịch tịnh, điều ấy là hảo hạng, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt tận ái dục, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịnh diệt, Niết Bàn.’ Nhờ vậy, tâm của người ấy lao vào ở sự không vận hành, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Sự thoát ra đã đạt được bởi ta.’
Tâu đại vương, giống như người đàn ông bị lạc lối, bị rơi vào nơi lạ, sau khi nhìn thấy lối ra, thì lao vào nơi ấy, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Lối ra đã đạt được bởi ta.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã nhìn thấy nỗi sợ hãi ở sự vận hành, thì tâm của người ấy lao vào ở sự không vận hành, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Sự thoát ra đã đạt được bởi ta.’ Người ấy tích lũy, theo đuổi, tu tập, thực hành thường xuyên đạo lộ đưa đến sự không vận hành. Đối với người ấy, niệm được thành lập ở mục đích ấy, tinh tấn được thành lập ở mục đích ấy, hỷ được thành lập ở mục đích ấy. Trong khi người ấy chú tâm liên tục ở tâm ấy, thì vượt qua sự vận hành, đi đến sự không vận hành. Tâu đại vương, người đã đạt đến sự không vận hành, đã thực hành đúng đắn, được gọi là ‘chứng ngộ Niết Bàn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự chứng ngộ Niết Bàn là thứ mười một.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘nibbānaṁ na atītaṁ, na anāgataṁ, na paccuppannaṁ, na uppannaṁ na anuppannaṁ na uppādanīyan’ti.
Idha, bhante nāgasena, yo koci sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti, so uppannaṁ sacchikaroti, udāhu uppādetvā sacchikarotī”ti?
“Yo koci, mahārāja, sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti, so na uppannaṁ sacchikaroti, na uppādetvā sacchikaroti, api ca, mahārāja, atthesā nibbānadhātu, yaṁ so sammāpaṭipanno sacchikarotī”ti.
“Mā, bhante nāgasena, imaṁ pañhaṁ paṭicchannaṁ katvā dīpehi, vivaṭaṁ pākaṭaṁ katvā dīpehi chandajāto ussāhajāto, yaṁ te sikkhitaṁ, taṁ sabbaṁ etthevākirāhi, etthāyaṁ jano sammūḷho vimatijāto saṁsayapakkhando, bhindetaṁ antodosasallan”ti.
“Atthesā, mahārāja, nibbānadhātu santā sukhā paṇītā, taṁ sammāpaṭipanno jinānusiṭṭhiyā saṅkhāre sammasanto paññāya sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, antevāsiko ācariyānusiṭṭhiyā vijjaṁ paññāya sacchikaroti;
evameva kho, mahārāja, sammāpaṭipanno jinānusiṭṭhiyā paññāya nibbānaṁ sacchikaroti.
Kathaṁ pana taṁ nibbānaṁ daṭṭhabbanti?
Anītito nirupaddavato abhayato khemato santato sukhato sātato paṇītato sucito sītalato daṭṭhabbaṁ.
Yathā, mahārāja, puriso bahukaṭṭhapuñjena jalitakaṭṭhitena agginā dayhamāno vāyāmena tato muñcitvā niraggikokāsaṁ pavisitvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatatividhaggisantāpaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, aggi, evaṁ tividhaggi daṭṭhabbo;
yathā aggigato puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā niraggikokāso, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso ahikukkuramanussakuṇapasarīravaḷañjakoṭṭhāsarāsigato kuṇapajaṭājaṭitantaramanupaviṭṭho vāyāmena tato muñcitvā nikkuṇapokāsaṁ pavisitvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatakilesakuṇapaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, kuṇapaṁ, evaṁ pañca kāmaguṇā daṭṭhabbā;
yathā kuṇapagato puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā nikkuṇapokāso, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso bhīto tasito kampito viparītavibbhantacitto vāyāmena tato muñcitvā daḷhaṁ thiraṁ acalaṁ abhayaṭṭhānaṁ pavisitvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatabhayasantāsaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, bhayaṁ, evaṁ jātijarābyādhimaraṇaṁ paṭicca aparāparaṁ pavattabhayaṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā bhīto puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā abhayaṭṭhānaṁ, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso kiliṭṭhamalinakalalakaddamadese patito vāyāmena taṁ kalalakaddamaṁ apavāhetvā parisuddhavimaladesamupagantvā tattha paramasukhaṁ labheyya;
evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatakilesamalakaddamaṁ paramasukhaṁ nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, kalalaṁ, evaṁ lābhasakkārasiloko daṭṭhabbo;
yathā kalalagato puriso, evaṁ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo;
yathā parisuddhavimaladeso, evaṁ nibbānaṁ daṭṭhabbaṁ.
Tañca pana nibbānaṁ sammāpaṭipanno kinti sacchikaroti?
Yo so, mahārāja, sammāpaṭipanno, so saṅkhārānaṁ pavattaṁ sammasati.
Pavattaṁ sammasamāno tattha jātiṁ passati jaraṁ passati byādhiṁ passati maraṇaṁ passati, na tattha kiñci sukhaṁ sātaṁ passati āditopi majjhatopi pariyosānatopi.
So tattha kiñci na gayhūpagaṁ passati.
Yathā, mahārāja, puriso divasasantatte ayoguḷe jalite tatte kaṭhite āditopi majjhatopi pariyosānatopi na kiñci gayhūpagaṁ padesaṁ passati;
evameva kho, mahārāja, yo saṅkhārānaṁ pavattaṁ sammasati, so pavattaṁ sammasamāno tattha jātiṁ passati jaraṁ passati byādhiṁ passati maraṇaṁ passati, na tattha kiñci sukhaṁ sātaṁ passati āditopi majjhatopi pariyosānatopi.
So tattha na kiñci gayhūpagaṁ passati, tassa gayhūpagaṁ apassantassa citte arati saṇṭhāti, kāyasmiṁ ḍāho okkamati, so atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto bhavesu nibbindati.
Yathā, mahārāja, puriso jalitajālaṁ mahantaṁ aggikkhandhaṁ paviseyya, so tattha atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto aggimhi nibbindeyya;
evameva kho, mahārāja, tassa gayhūpagaṁ apassantassa citte arati saṇṭhāti, kāyasmiṁ ḍāho okkamati, so atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto bhavesu nibbindati.
Tassa pavatte bhayadassāvissa evaṁ cittaṁ uppajjati ‘santattaṁ kho panetaṁ pavattaṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ bahudukkhaṁ bahūpāyāsaṁ, yadi koci labhetha appavattaṁ etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.
Iti hetaṁ tassa appavatte cittaṁ pakkhandati pasīdati pahaṁsayati tusayati ‘paṭiladdhaṁ kho me nissaraṇan’ti.
Yathā, mahārāja, puriso vippanaṭṭho videsapakkhando nibbāhanamaggaṁ disvā tattha pakkhandati pasīdati pahaṁsayati tusayati ‘paṭiladdho me nibbāhanamaggo’ti;
evameva kho, mahārāja, pavatte bhayadassāvissa appavatte cittaṁ pakkhandati pasīdati pahaṁsayati tusayati ‘paṭiladdhaṁ kho me nissaraṇan’ti.
So appavattatthāya maggaṁ āyūhati gavesati bhāveti bahulīkaroti, tassa tadatthaṁ sati santiṭṭhati, tadatthaṁ vīriyaṁ santiṭṭhati, tadatthaṁ pīti santiṭṭhati, tassa taṁ cittaṁ aparāparaṁ manasikaroto pavattaṁ samatikkamitvā appavattaṁ okkamati, appavattamanuppatto, mahārāja, sammāpaṭipanno ‘nibbānaṁ sacchikarotī’ti vuccatī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nibbānasacchikaraṇapañho ekādasamo.