BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có điều kỳ diệu ở bảo tháp của tất cả các vị đã viên tịch Niết Bàn, hay là của chỉ một số vị?”
“Tâu đại vương, có (điều kỳ diệu ở bảo tháp) của một số vị, không có của một số vị.”
“Thưa ngài, có (điều kỳ diệu ở bảo tháp) của những vị nào? Không có của những vị nào?”
“Tâu đại vương, do sự chú nguyện của một hạng nào đó trong ba hạng mà có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn. Của ba hạng nào?
Tâu đại vương, ở đây vị A-la-hán, vì lòng thương tưởng đến chư Thiên và loài người, ngay trong khi đang còn tồn tại chú nguyện rằng: ‘Hãy có thần thông ở bảo tháp tên như vầy.’ Do năng lực chú nguyện của vị ấy nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp. Như vậy, do năng lực chú nguyện của vị A-la-hán nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vị Thiên nhân vì lòng thương tưởng đến loài người nên phô bày điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn (nghĩ rằng): ‘Do điều kỳ diệu này, Chánh Pháp sẽ được duy trì lâu dài, và loài người, được tịnh tín, sẽ tăng trưởng về thiện pháp.’ Như vậy, do sự chú nguyện của chư Thiên nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người nữ hoặc là người nam, có đức tin, được tịnh tín, sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đạt được tánh giác, sau khi suy nghĩ đúng đường lối, sau khi quyết định rồi đem vật thơm, hoặc tràng hoa, hoặc vải vóc, hoặc bất cứ vật gì để ở ngôi bảo tháp (nguyện rằng): ‘Hãy là có tên như vầy.’ Như vậy, do năng lực quyết định của loài người nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn. Tâu đại vương, do năng lực chú nguyện của một hạng nào đó trong ba hạng mà có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, nếu không có sự chú nguyện của ba hạng ấy, thì không có điều kỳ diệu ở bảo tháp dầu là của bậc Lậu Tận, có sáu thắng trí, đã đạt đến năng lực của tâm. Tâu đại vương, thậm chí khi không có điều kỳ diệu, thì nên nhìn xem nết hạnh vô cùng trong sạch, nên tin cậy, nên đi đến kết luận, nên tin tưởng rằng: ‘Người con trai này của đức Phật đã khéo viên tịch Niết Bàn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về điều kỳ diệu ở bảo tháp là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, sabbesaṁ parinibbutānaṁ cetiye pāṭihīraṁ hoti, udāhu ekaccānaṁyeva hotī”ti?
“Ekaccānaṁ, mahārāja, hoti, ekaccānaṁ na hotī”ti.
“Katamesaṁ, bhante, hoti, katamesaṁ na hotī”ti?
“Tiṇṇannaṁ, mahārāja, aññatarassa adhiṭṭhānā parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Katamesaṁ tiṇṇannaṁ?
Idha, mahārāja, arahā devamanussānaṁ anukampāya tiṭṭhantova adhiṭṭhāti ‘evaṁnāma cetiye pāṭihīraṁ hotū’ti, tassa adhiṭṭhānavasena cetiye pāṭihīraṁ hoti, evaṁ arahato adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Puna caparaṁ, mahārāja, devatā manussānaṁ anukampāya parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ dassenti ‘iminā pāṭihīrena saddhammo niccasampaggahito bhavissati, manussā ca pasannā kusalena abhivaḍḍhissantī’ti, evaṁ devatānaṁ adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Puna caparaṁ, mahārāja, itthī vā puriso vā saddho pasanno paṇḍito byatto medhāvī buddhisampanno yoniso cintayitvā gandhaṁ vā mālaṁ vā dussaṁ vā aññataraṁ vā kiñci adhiṭṭhahitvā cetiye ukkhipati ‘evaṁnāma hotū’ti, tassapi adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti, evaṁ manussānaṁ adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Imesaṁ kho, mahārāja, tiṇṇannaṁ aññatarassa adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Yadi, mahārāja, tesaṁ adhiṭṭhānaṁ na hoti, khīṇāsavassapi chaḷabhiññassa cetovasippattassa cetiye pāṭihīraṁ na hoti, asatipi, mahārāja, pāṭihīre caritaṁ disvā suparisuddhaṁ okappetabbaṁ niṭṭhaṁ gantabbaṁ saddahitabbaṁ ‘suparinibbuto ayaṁ buddhaputto’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Cetiyapāṭihāriyapañho sattamo.
PTS cs 51 ‘Venerable Nāgasena, are there wonders at the cetiyas (the mounds raised over the ashes) of all who have passed entirely away (of all the Arahats deceased) ?
‘Of some, O king, but not of others.’
‘But of which, Sir, is this the case, and of which not?’ PTS vp En 175
‘It is by the stedfast resolve, O king, of three kinds of people, that wonders take place at the cetiya of some person deceased who has been entirely set free. And who are the three? In the first place, O king, an Arahat, when still alive, may, out of pity for gods and men, make the resolve: “Let there be such and such wonders at my cetiya.” Then, by reason of his resolve, wonders happen there. Thus is it that wonders occur by the resolve of an Arahat at the cetiya of one entirely set free.
‘And again, O king, the gods, out of pity for men, show wonders at the cetiya of one who has been entirely set free, thinking: “By this wonder may the true faith remain always established on the earth, and may mankind, believing, grow in grace!” Thus is it that wonders occur by the resolve of a god at the Ketiya of one entirely set free.
‘And again, O king, some woman or some man of believing heart, able, intelligent, wise, endowed with insight, may deliberately take perfumes, or a garland, or a cloth, and place it on the Ketiya, making the resolve: “May such and such a wonder take place!” Thus is it that wonders occur by the resolve of human beings at the cetiya of one entirely set free.
PTS cs 52 ‘These, O king, are the three kinds of people by whose stedfast resolve wonders take place at the cetiyas of Arahats deceased. And if there has been no such resolve, O king, by one of these, then PTS vp En 176 is there no wonder at the cetiya even of one whose āsavas had been destroyed, who had attained to the sixfold insight, who was master of himself. And if there be no such wonder, then, O king, PTS vp Pali 310 one should call to mind the purity of conduct one has seen, and draw in trusting faith the conclusion: “Verily, this child of the Buddhas has been entirely set free!”’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to wonders at the grave.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có điều kỳ diệu ở bảo tháp của tất cả các vị đã viên tịch Niết Bàn, hay là của chỉ một số vị?”
“Tâu đại vương, có (điều kỳ diệu ở bảo tháp) của một số vị, không có của một số vị.”
“Thưa ngài, có (điều kỳ diệu ở bảo tháp) của những vị nào? Không có của những vị nào?”
“Tâu đại vương, do sự chú nguyện của một hạng nào đó trong ba hạng mà có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn. Của ba hạng nào?
Tâu đại vương, ở đây vị A-la-hán, vì lòng thương tưởng đến chư Thiên và loài người, ngay trong khi đang còn tồn tại chú nguyện rằng: ‘Hãy có thần thông ở bảo tháp tên như vầy.’ Do năng lực chú nguyện của vị ấy nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp. Như vậy, do năng lực chú nguyện của vị A-la-hán nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vị Thiên nhân vì lòng thương tưởng đến loài người nên phô bày điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn (nghĩ rằng): ‘Do điều kỳ diệu này, Chánh Pháp sẽ được duy trì lâu dài, và loài người, được tịnh tín, sẽ tăng trưởng về thiện pháp.’ Như vậy, do sự chú nguyện của chư Thiên nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người nữ hoặc là người nam, có đức tin, được tịnh tín, sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đạt được tánh giác, sau khi suy nghĩ đúng đường lối, sau khi quyết định rồi đem vật thơm, hoặc tràng hoa, hoặc vải vóc, hoặc bất cứ vật gì để ở ngôi bảo tháp (nguyện rằng): ‘Hãy là có tên như vầy.’ Như vậy, do năng lực quyết định của loài người nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn. Tâu đại vương, do năng lực chú nguyện của một hạng nào đó trong ba hạng mà có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, nếu không có sự chú nguyện của ba hạng ấy, thì không có điều kỳ diệu ở bảo tháp dầu là của bậc Lậu Tận, có sáu thắng trí, đã đạt đến năng lực của tâm. Tâu đại vương, thậm chí khi không có điều kỳ diệu, thì nên nhìn xem nết hạnh vô cùng trong sạch, nên tin cậy, nên đi đến kết luận, nên tin tưởng rằng: ‘Người con trai này của đức Phật đã khéo viên tịch Niết Bàn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về điều kỳ diệu ở bảo tháp là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, sabbesaṁ parinibbutānaṁ cetiye pāṭihīraṁ hoti, udāhu ekaccānaṁyeva hotī”ti?
“Ekaccānaṁ, mahārāja, hoti, ekaccānaṁ na hotī”ti.
“Katamesaṁ, bhante, hoti, katamesaṁ na hotī”ti?
“Tiṇṇannaṁ, mahārāja, aññatarassa adhiṭṭhānā parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Katamesaṁ tiṇṇannaṁ?
Idha, mahārāja, arahā devamanussānaṁ anukampāya tiṭṭhantova adhiṭṭhāti ‘evaṁnāma cetiye pāṭihīraṁ hotū’ti, tassa adhiṭṭhānavasena cetiye pāṭihīraṁ hoti, evaṁ arahato adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Puna caparaṁ, mahārāja, devatā manussānaṁ anukampāya parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ dassenti ‘iminā pāṭihīrena saddhammo niccasampaggahito bhavissati, manussā ca pasannā kusalena abhivaḍḍhissantī’ti, evaṁ devatānaṁ adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Puna caparaṁ, mahārāja, itthī vā puriso vā saddho pasanno paṇḍito byatto medhāvī buddhisampanno yoniso cintayitvā gandhaṁ vā mālaṁ vā dussaṁ vā aññataraṁ vā kiñci adhiṭṭhahitvā cetiye ukkhipati ‘evaṁnāma hotū’ti, tassapi adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti, evaṁ manussānaṁ adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Imesaṁ kho, mahārāja, tiṇṇannaṁ aññatarassa adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṁ hoti.
Yadi, mahārāja, tesaṁ adhiṭṭhānaṁ na hoti, khīṇāsavassapi chaḷabhiññassa cetovasippattassa cetiye pāṭihīraṁ na hoti, asatipi, mahārāja, pāṭihīre caritaṁ disvā suparisuddhaṁ okappetabbaṁ niṭṭhaṁ gantabbaṁ saddahitabbaṁ ‘suparinibbuto ayaṁ buddhaputto’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Cetiyapāṭihāriyapañho sattamo.