BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, những người nam và nữ ở thế gian này nhìn thấy giấc mơ, tốt đẹp, xấu xa, đã thấy trước đây, chưa thấy trước đây, đã làm trước đây, chưa làm trước đây, bình yên, có sự sợ hãi, ở xa, ở gần. Họ nhìn thấy nhiều loại, hàng ngàn hình dáng. Và cái gọi là giấc mơ ấy là cái gì? Và ai nhìn thấy điều này?”
“Tâu đại vương, cái gọi là giấc mơ ấy là điềm báo hiệu, là cái tiến đến gần lãnh vực của tâm. Tâu đại vương, sáu hạng này nhìn thấy giấc mơ: hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến gió, hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến mật, hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến đờm, hạng nhìn thấy giấc mơ do chư Thiên đem lại, hạng nhìn thấy giấc mơ do đã được làm thường xuyên, hạng nhìn thấy giấc mơ do điềm báo hiệu. Tâu đại vương, ở đây nhìn thấy giấc mơ nào do điềm báo hiệu, thì chính cái ấy là thật, phần còn lại là giả.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, người nào nhìn thấy giấc mơ do điềm báo hiệu, có phải tâm của người ấy tự đi đến và tìm kiếm điềm báo hiệu ấy, hay là điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm, hay là cái nào khác đi đến và thông báo cho người ấy?”
“Tâu đại vương, không phải tâm của người ấy tự đi đến và xem xét điềm báo hiệu ấy, cũng không phải cái nào nào khác đi đến và thông báo cho người ấy. Khi ấy, chính điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm. Tâu đại vương, giống như tấm gương soi không tự đi đến nơi nào đó và xem xét cái bóng phản chiếu, cũng không phải cái nào khác đem cái bóng phản chiếu lại và áp vào tấm gương soi. Khi ấy, từ nơi nào đó cái bóng phản chiếu đi đến và lại gần lãnh vực của tấm gương soi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải tâm của người ấy tự đi đến và xem xét điềm báo hiệu ấy, cũng không phải cái nào khác đi đến và thông báo. Khi ấy, từ nơi nào đó điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, tâm nào đó nhìn thấy giấc mơ, phải chăng tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi’?”
“Tâu đại vương, không phải là tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi.’ Trái lại, khi điềm báo hiệu được sanh lên, thì nó nói cho những cái khác. Sau đó, những cái ấy nói ra ý nghĩa.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy xin ngài chỉ cho thấy lý do.”
“Tâu đại vương, giống như các nốt ruồi, mụt nhọt, ghẻ lở xuất hiện ở cơ thể là đưa đến việc có lợi lộc hay không có lợi lộc, có danh tiếng hay không có danh tiếng, chê trách hay khen ngợi, an lạc hay khổ đau. Tâu đại vương, phải chăng các nốt ruồi, mụt nhọt, ghẻ lở sanh lên sau khi biết được rằng: ‘Chúng tôi sẽ tạo ra sự việc này’?”
“Thưa ngài, không đúng. Ở bất kỳ vị trí nào mà các mụt nhọt sanh lên, sau khi nhìn thấy các mụt nhọt ấy ở chỗ ấy, các nhà tướng số giải thích: ‘Kết quả sẽ là như vầy.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tâm nào đó nhìn thấy giấc mơ, không phải là tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi.’ Trái lại, khi điềm báo hiệu được sanh lên, thì nó nói cho những cái khác; sau đó, những cái ấy nói về ý nghĩa.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, người nào nhìn thấy giấc mơ, thì người ấy nhìn thấy trong lúc đang ngủ hay là nhìn thấy trong khi còn thức?”
“Tâu đại vương, người nào nhìn thấy giấc mơ, thì không phải người ấy nhìn thấy trong lúc đang ngủ, cũng không phải nhìn thấy trong khi còn thức, tuy nhiên nhìn thấy giấc mơ ở vào khoảng giữa của giai đoạn đang rơi vào trạng thái ngủ mơ màng nhưng chưa đạt đến luồng tâm hộ kiếp. Tâu đại vương, đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, thì tâm tiến đến luồng tâm hộ kiếp; tâm đã đi vào luồng tâm hộ kiếp thì không vận hành; tâm không vận hành thì không nhận biết an lạc hay khổ đau; trong khi không nhận thức thì không có giấc mơ, khi tâm đang được vận hành thì nhìn thấy giấc mơ.
Tâu đại vương, giống như ở nơi mờ mịt, tối tăm, không có ánh sáng, thì bóng phản chiếu không được nhìn thấy ở gương soi, dầu là vô cùng trong sạch. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi tâm đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, đã đi vào luồng tâm hộ kiếp, và đang được duy trì, thì tâm là không vận hành ở cơ thể; tâm không vận hành thì không nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, tấm gương soi là như thế nào thì cơ thể nên được xem xét như vậy. Sự tối tăm là như thế nào thì trạng thái ngủ mơ màng nên được xem xét như vậy. Ánh sáng là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như khi mặt trời bị che lại bởi băng giá thì ánh sáng không được nhìn thấy; tia sáng mặt trời tuy có hiện hữu nhưng không vận hành; khi tia sáng mặt trời không vận hành thì không có ánh sáng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, thì tâm đi vào luồng tâm hộ kiếp; tâm đã đi vào luồng tâm hộ kiếp thì không vận hành; tâm không vận hành thì không nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, mặt trời là như thế nào thì cơ thể nên được xem xét như vậy. Sự che lại bởi băng giá là như thế nào thì trạng thái ngủ mơ màng nên được xem xét như vậy. Tia sáng mặt trời là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy.
BJT 5Tâu đại vương, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành trong hai trường hợp: Đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, đã đi vào luồng tâm hộ kiếp, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành; đối với người đã thể nhập thiền diệt, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành. Tâu đại vương, đối với người đang tỉnh táo, tâm lao xao, mở ra, năng động, không cố định, điềm báo hiệu không tiến đến gần lãnh vực ở tâm của người có trạng thái như vậy. Tâu đại vương, giống như những ước muốn thầm kín xa lánh người nam cởi mở, năng động, không nghiêm chỉnh, không kín đáo. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nghĩa lý siêu tự nhiên không tiến đến gần lãnh vực của người đang tỉnh táo. Do đó, người đang tỉnh táo không nhìn thấy giấc mơ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như các thiện pháp dự phần vào giác ngộ không tiến đến gần lãnh vực là vị tỳ khưu có sự nuôi mạng bị sứt mẻ, không nết hạnh, có bạn ác, có giới tồi, biếng nhác, có sự tinh tấn thấp kém. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nghĩa lý siêu tự nhiên không tiến đến gần lãnh vực của người đang tỉnh táo.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, có phải trạng thái ngủ mơ màng là có chặng đầu, chặng giữa, và chặng cuối?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Trạng thái ngủ mơ màng có chặng đầu, có chặng giữa, và có chặng cuối.”
“Chặng đầu là cái nào, chặng giữa là cái nào, và chặng cuối là cái nào?”
“Tâu đại vương, trạng thái nào là sự che đậy, sự bao bọc lại, sự yếu đuối của danh uẩn và sắc uẩn, là trạng thái trì trệ, không sẵn sàng cho hành động của thân; đây là chặng đầu của trạng thái ngủ mơ màng. Tâu đại vương, người nào có được giấc ngủ của con khỉ, ngủ mơ màng một cách lộn xộn (nửa ngủ nửa thức); đây là chặng giữa của trạng thái ngủ mơ màng. Chặng cuối là việc đi vào luồng tâm hộ kiếp. Tâu đại vương, người đã tiến đến gần chặng giữa, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, giống như người nào đó có sự thực hành về tiết chế, có tâm được định tĩnh, có pháp được bền vững, có sự sáng suốt không dao động, sau khi đi sâu vào khu rừng, nơi đã được dứt hẳn sự loạn động và tiếng động, rồi suy nghĩ về ý nghĩa vi tế, và ở nơi ấy, người ấy không rơi vào trạng thái ngủ mơ màng. Ở nơi ấy, được định tĩnh, có tâm chuyên nhất, người ấy thấu hiểu được ý nghĩa vi tế. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tỉnh táo, không đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, tiến đến gần giấc ngủ của con khỉ, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, sự loạn động và tiếng động là như thế nào thì sự tỉnh táo nên được xem xét như vậy. Khu rừng tách biệt là như thế nào thì việc có được giấc ngủ của con khỉ nên được xem xét như vậy. ‘Người ấy sau khi từ bỏ sự loạn động và tiếng động, sau khi tránh né trạng thái ngủ mơ màng, có được trạng thái trầm tĩnh, thì thấu hiểu được ý nghĩa vi tế’ là như thế nào thì ‘người tỉnh táo, không đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ’ là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về giấc mơ là thứ năm.
“Bhante nāgasena, imasmiṁ loke naranāriyo supinaṁ passanti kalyāṇampi pāpakampi, diṭṭhapubbampi adiṭṭhapubbampi, katapubbampi akatapubbampi, khemampi sabhayampi, dūrepi santikepi, bahuvidhānipi anekavaṇṇasahassāni dissanti, kiñcetaṁ supinaṁ nāma, ko cetaṁ passatī”ti?
“Nimittametaṁ, mahārāja, supinaṁ nāma, yaṁ cittassa āpātamupagacchati.
Chayime, mahārāja, supinaṁ passanti, vātiko supinaṁ passati, pittiko supinaṁ passati, semhiko supinaṁ passati, devatūpasaṁhārato supinaṁ passati, samudāciṇṇato supinaṁ passati, pubbanimittato supinaṁ passati, tatra, mahārāja, yaṁ pubbanimittato supinaṁ passati, taṁyeva saccaṁ, avasesaṁ micchā”ti.
“Bhante nāgasena, yo pubbanimittato supinaṁ passati, kiṁ tassa cittaṁ sayaṁ gantvā taṁ nimittaṁ vicināti, taṁ vā nimittaṁ cittassa āpātamupagacchati, añño vā āgantvā tassa ārocetī”ti?
“Na, mahārāja, tassa cittaṁ sayaṁ gantvā taṁ nimittaṁ vicināti, nāpi añño koci āgantvā tassa āroceti, atha kho taṁyeva nimittaṁ cittassa āpātamupagacchati.
Yathā, mahārāja, ādāso na sayaṁ kuhiñci gantvā chāyaṁ vicināti, nāpi añño koci chāyaṁ ānetvā ādāsaṁ āropeti, atha kho yato kutoci chāyā āgantvā ādāsassa āpātamupagacchati;
evameva kho, mahārāja, na tassa cittaṁ sayaṁ gantvā taṁ nimittaṁ vicināti, nāpi añño koci āgantvā āroceti, atha kho yato kutoci nimittaṁ āgantvā cittassa āpātamupagacchatī”ti.
“Bhante nāgasena, yaṁ taṁ cittaṁ supinaṁ passati, api nu taṁ cittaṁ jānāti ‘evaṁ nāma vipāko bhavissati khemaṁ vā bhayaṁ vā’ti?
Na hi, mahārāja, taṁ cittaṁ jānāti ‘evaṁvipāko bhavissati khemaṁ vā bhayaṁ vā’ti, nimitte pana uppanne aññesaṁ katheti, tato te atthaṁ kathentī”ti.
“Iṅgha, bhante nāgasena, kāraṇaṁ me dassehī”ti.
“Yathā, mahārāja, sarīre tilakā pīḷakā daddūni uṭṭhahanti lābhāya vā alābhāya vā, yasāya vā ayasāya vā, nindāya vā pasaṁsāya vā, sukhāya vā dukkhāya vā, api nu tā, mahārāja, pīḷakā jānitvā uppajjanti ‘imaṁ nāma mayaṁ atthaṁ nipphādessāmā’”ti?
“Na hi, bhante, yādise tā okāse pīḷakā sambhavanti, tattha tā pīḷakā disvā nemittakā byākaronti ‘evaṁ nāma vipāko bhavissatī’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yaṁ taṁ cittaṁ supinaṁ passati, na taṁ cittaṁ jānāti ‘evaṁ nāma vipāko bhavissati khemaṁ vā bhayaṁ vā’ti, nimitte pana uppanne aññesaṁ katheti, tato te atthaṁ kathentī”ti.
“Bhante nāgasena, yo supinaṁ passati, so niddāyanto, udāhu jāgaranto passatī”ti?
“Yo so, mahārāja, supinaṁ passati, na so niddāyanto passati, nāpi jāgaranto passati.
Api ca okkante middhe asampatte bhavaṅge etthantare supinaṁ passati.
Middhasamārūḷhassa, mahārāja, cittaṁ bhavaṅgagataṁ hoti, bhavaṅgagataṁ cittaṁ nappavattati, appavattaṁ cittaṁ sukhadukkhaṁ nappajānāti, appaṭivijānantassa supino na hoti, pavattamāne citte supinaṁ passati.
Yathā, mahārāja, timire andhakāre appabhāse suparisuddhepi ādāse chāyā na dissati;
evameva kho, mahārāja, middhasamārūḷhe citte bhavaṅgagate tiṭṭhamānepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, appavatte citte supinaṁ na passati.
Yathā, mahārāja, ādāso, evaṁ sarīraṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā andhakāro, evaṁ middhaṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā āloko, evaṁ cittaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, mahikotthaṭassa sūriyassa pabhā na dissati santāyeva sūriyarasmi appavattā hoti, appavattāya sūriyarasmiyā āloko na hoti;
evameva kho, mahārāja, middhasamārūḷhassa cittaṁ bhavaṅgagataṁ hoti, bhavaṅgagataṁ cittaṁ nappavattati, appavatte citte supinaṁ na passati.
Yathā, mahārāja, sūriyo, evaṁ sarīraṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā mahikottharaṇaṁ, evaṁ middhaṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā sūriyarasmi, evaṁ cittaṁ daṭṭhabbaṁ.
Dvinnaṁ, mahārāja, santepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, middhasamārūḷhassa bhavaṅgagatassa santepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, nirodhasamāpannassa santepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, jāgarantassa, mahārāja, cittaṁ lolaṁ hoti vivaṭaṁ pākaṭaṁ anibaddhaṁ, evarūpassa citte nimittaṁ āpātaṁ na upeti.
Yathā, mahārāja, purisaṁ vivaṭaṁ pākaṭaṁ akiriyaṁ arahassaṁ rahassakāmā parivajjenti;
evameva kho, mahārāja, jāgarantassa dibbo attho āpātaṁ na upeti, tasmā jāgaranto supinaṁ na passati.
Yathā vā pana, mahārāja, bhikkhuṁ bhinnājīvaṁ anācāraṁ pāpamittaṁ dussīlaṁ kusītaṁ hīnavīriyaṁ kusalā bodhipakkhiyā dhammā āpātaṁ na upenti;
evameva kho, mahārāja, jāgarantassa dibbo attho āpātaṁ na upeti, tasmā jāgaranto supinaṁ na passatī”ti.
“Bhante nāgasena, atthi middhassa ādimajjhapariyosānan”ti?
“Āma, mahārāja, atthi middhassa ādimajjhapariyosānan”ti.
“Katamaṁ ādi, katamaṁ majjhaṁ, katamaṁ pariyosānan”ti?
“Yo, mahārāja, kāyassa onāho pariyonāho dubbalyaṁ mandatā akammaññatā kāyassa, ayaṁ middhassa ādi;
yo, mahārāja, kapiniddāpareto vokiṇṇakaṁ jaggati, idaṁ middhassa majjhaṁ;
bhavaṅgagati pariyosānaṁ.
Majjhūpagato, mahārāja, kapiniddāpareto supinaṁ passati.
Yathā, mahārāja, koci yatacārī samāhitacitto ṭhitadhammo acalabuddhi pahīnakotūhalasaddaṁ vanamajjhogāhitvā sukhumaṁ atthaṁ cintayati, na ca so tattha middhaṁ okkamati, so tattha samāhito ekaggacitto sukhumaṁ atthaṁ paṭivijjhati;
evameva kho, mahārāja, jāgaro na middhasamāpanno, majjhūpagato kapiniddāpareto supinaṁ passati.
Yathā, mahārāja, kotūhalasaddo, evaṁ jāgaraṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā vivittaṁ vanaṁ, evaṁ kapiniddāpareto daṭṭhabbo;
yathā so kotūhalasaddaṁ ohāya middhaṁ vivajjetvā majjhattabhūto sukhumaṁ atthaṁ paṭivijjhati, evaṁ jāgaro na middhasamāpanno kapiniddāpareto supinaṁ passatī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Supinapañho pañcamo.
PTS cs 33 ‘Venerable Nāgasena, men and women in this world see dreams pleasant and evil, things they have seen before and things they have not, things they have done before and things they have not, PTS vp Pali 298 dreams peaceful and terrible, dreams of matters near to them and distant from them, full of many shapes and innumerable colours. What is this that men call a dream, and who is it who dreams it?’
‘It is a suggestion, O king, coming across the path of the mind which is what is called a dream. And there are six kinds of people who see dreams—the man who is of a windy humour, or of a bilious one, or of a phlegmatic one, the man who dreams dreams by the influence of a god, the man who does so by the influence of his own habits, and the man who does so in the way of prognostication. And PTS vp En 158 of these, O king, only the last kind of dreams is true; all the rest are false.’
PTS cs 34 ‘Venerable Nāgasena, when a man dreams a dream that is a prognostication, how is it? Does his own mind set out itself to seek the omen, or does the prognostication come of its own accord into the path of his mind, or does some one else come and tell him of it?’
‘His own mind does not itself seek the omen, neither does any one else come and tell him of it. The prognostication comes of its own accord into his mind. It is like the case of a looking-glass, which does not go anywhere to seek for the reflection; neither does any one else come and put the reflection on to the looking-glass. But the object reflected comes from somewhere or other across the sphere over which the reflecting power of the looking-glass extends.’
PTS cs 35 ‘Venerable Nāgasena, does the same mind which sees the dream also know: “Such and such a result, auspicious or terrible, will follow?”’
‘No, that is not so, O king. After the omen has occurred he tells others, and then they explain the meaning of it.’
‘Come, now, Nāgasena, give me a simile to explain this.’
‘It is like the marks, O king, and pimples, and cutaneous eruptions which arise on a man’s body to his profit or loss, to his fame or dishonour, to his praise or blame, to his happiness or woe. PTS vp Pali 299 Do PTS vp En 159 in that case the pimples come because they know: “Such and such is the event which we shall bring about?”’
‘Certainly not, Sir. But according to the place on which the pimples have arisen, the fortune-tellers, making their observations, give decision, saying: Such and such will be the result.”’
‘Well, in the same way, O king, it is not the same mind which dreams the dream which also knows: “Such and such a result, conspicuous or terrible, will follow.” But after the omen has occurred he tells others, and they then explain the meaning of it.’
PTS cs 36 ‘Venerable Nāgasena, when a man dreams a dream, is he awake or asleep?’
‘Neither the one, O king; nor yet the other. But when his sleep has become light, and he is not yet fully conscious, in that interval it is that dreams are dreamt. When a man is in deep sleep, O king, his mind has returned home (has entered again into the Bhavaṅga), and a mind thus shut in does not act, and a mind hindered in its action knows not the evil and the good, and he who knows not has no dreams. It is when the mind is active that dreams are dreamt. just, O king, as in the darkness and gloom, where no light is, no shadow will fall even on the most burnished mirror, so when a man is in deep sleep his mind has returned into itself, and PTS vp En 160 a mind shut in does not act, and a mind inactive knows not the evil and the good, and he who knows not does not dream. For it is when the mind is active that dreams are dreamt. As the mirror, O king, are you to regard the body, as the darkness sleep, as the light the mind. Or again, O king, just as the glory of a sun veiled in fog is imperceptible, as its rays, though they do exist, are unable to pierce through, and as when its rays act not there is no light, so when a man is in deep sleep his mind has returned into itself, and a mind shut in does not act, and a mind inactive knows not the evil and the good, and he who knows not does not dream. For it is when the mind is active that dreams are dreamt. As the sun, O king, are you to regard the body, as the veil of fog sleep, PTS vp Pali 300 as the rays the mind.
PTS cs 37 ‘Under two conditions, O king, is the mind inactive though the body is there—when a man being in deep sleep the mind has returned into itself, and when the man has fallen into a trance. The mind of a man who is awake, O king, is excited, open, clear, untrammelled, and no prognostication occurs to one whose mind is so. Just, O king, as men seeking concealment avoid the man who is open, candid, unoccupied, and unreserved—just so is it that the divine intention is not manifested to the wakeful man, and the man who is awake therefore sees no dream. Or again, O king, just as the qualities which lead to wisdom are found not in that brother whose mode of livelihood and conduct are wrong, who is the friend of sinners, wicked, insolent, devoid PTS vp En 161 of zeal—just so is it that the divine intention is not manifested to the wakeful man, and the man who is awake, therefore, sees no dream.’
PTS cs 38 ‘Venerable Nāgasena, is there a beginning, a middle, and an end in sleep?’
‘Yes, O king, there is.’
‘Which then is the beginning, which the middle, and which the end?’
‘The feeling of oppression and inability in the body, O king, of weakness, slackness, inertness—that is the beginning of sleep. The light “monkey’s sleep” in which a man still guards his scattered thoughts —that is the middle of sleep. When the mind has entered into itself—that is the end of sleep. And it is in the middle stage, O king, in the “monkey’s sleep” that dreams are dreamt. Just, O king, as when a man self-restrained with collected thoughts, stedfast in the faith, unshaken in wisdom, plunges deep into the woods far from the sound of strife, and thinks over some subtle matter, he there, tranquil and at peace, will master the meaning of it—just so a man still watchful, not fallen into sleep, but dozing in a “monkey’s sleep,” will dream a dream. PTS vp Pali 301 As the sound of strife, so, O king, are you to regard wakefulness, and as the lonely wood the “monkey’s sleep.” And as that man avoiding the sound of strife, keeping out of sleep, remaining in the middle stage, will master the meaning of that subtle matter, so the still watchful man, not fallen into sleep, but dozing in a “monkey’s sleep,” will dream a dream.’ PTS vp En 162
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to dreams.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, những người nam và nữ ở thế gian này nhìn thấy giấc mơ, tốt đẹp, xấu xa, đã thấy trước đây, chưa thấy trước đây, đã làm trước đây, chưa làm trước đây, bình yên, có sự sợ hãi, ở xa, ở gần. Họ nhìn thấy nhiều loại, hàng ngàn hình dáng. Và cái gọi là giấc mơ ấy là cái gì? Và ai nhìn thấy điều này?”
“Tâu đại vương, cái gọi là giấc mơ ấy là điềm báo hiệu, là cái tiến đến gần lãnh vực của tâm. Tâu đại vương, sáu hạng này nhìn thấy giấc mơ: hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến gió, hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến mật, hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến đờm, hạng nhìn thấy giấc mơ do chư Thiên đem lại, hạng nhìn thấy giấc mơ do đã được làm thường xuyên, hạng nhìn thấy giấc mơ do điềm báo hiệu. Tâu đại vương, ở đây nhìn thấy giấc mơ nào do điềm báo hiệu, thì chính cái ấy là thật, phần còn lại là giả.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, người nào nhìn thấy giấc mơ do điềm báo hiệu, có phải tâm của người ấy tự đi đến và tìm kiếm điềm báo hiệu ấy, hay là điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm, hay là cái nào khác đi đến và thông báo cho người ấy?”
“Tâu đại vương, không phải tâm của người ấy tự đi đến và xem xét điềm báo hiệu ấy, cũng không phải cái nào nào khác đi đến và thông báo cho người ấy. Khi ấy, chính điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm. Tâu đại vương, giống như tấm gương soi không tự đi đến nơi nào đó và xem xét cái bóng phản chiếu, cũng không phải cái nào khác đem cái bóng phản chiếu lại và áp vào tấm gương soi. Khi ấy, từ nơi nào đó cái bóng phản chiếu đi đến và lại gần lãnh vực của tấm gương soi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải tâm của người ấy tự đi đến và xem xét điềm báo hiệu ấy, cũng không phải cái nào khác đi đến và thông báo. Khi ấy, từ nơi nào đó điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, tâm nào đó nhìn thấy giấc mơ, phải chăng tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi’?”
“Tâu đại vương, không phải là tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi.’ Trái lại, khi điềm báo hiệu được sanh lên, thì nó nói cho những cái khác. Sau đó, những cái ấy nói ra ý nghĩa.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy xin ngài chỉ cho thấy lý do.”
“Tâu đại vương, giống như các nốt ruồi, mụt nhọt, ghẻ lở xuất hiện ở cơ thể là đưa đến việc có lợi lộc hay không có lợi lộc, có danh tiếng hay không có danh tiếng, chê trách hay khen ngợi, an lạc hay khổ đau. Tâu đại vương, phải chăng các nốt ruồi, mụt nhọt, ghẻ lở sanh lên sau khi biết được rằng: ‘Chúng tôi sẽ tạo ra sự việc này’?”
“Thưa ngài, không đúng. Ở bất kỳ vị trí nào mà các mụt nhọt sanh lên, sau khi nhìn thấy các mụt nhọt ấy ở chỗ ấy, các nhà tướng số giải thích: ‘Kết quả sẽ là như vầy.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tâm nào đó nhìn thấy giấc mơ, không phải là tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi.’ Trái lại, khi điềm báo hiệu được sanh lên, thì nó nói cho những cái khác; sau đó, những cái ấy nói về ý nghĩa.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, người nào nhìn thấy giấc mơ, thì người ấy nhìn thấy trong lúc đang ngủ hay là nhìn thấy trong khi còn thức?”
“Tâu đại vương, người nào nhìn thấy giấc mơ, thì không phải người ấy nhìn thấy trong lúc đang ngủ, cũng không phải nhìn thấy trong khi còn thức, tuy nhiên nhìn thấy giấc mơ ở vào khoảng giữa của giai đoạn đang rơi vào trạng thái ngủ mơ màng nhưng chưa đạt đến luồng tâm hộ kiếp. Tâu đại vương, đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, thì tâm tiến đến luồng tâm hộ kiếp; tâm đã đi vào luồng tâm hộ kiếp thì không vận hành; tâm không vận hành thì không nhận biết an lạc hay khổ đau; trong khi không nhận thức thì không có giấc mơ, khi tâm đang được vận hành thì nhìn thấy giấc mơ.
Tâu đại vương, giống như ở nơi mờ mịt, tối tăm, không có ánh sáng, thì bóng phản chiếu không được nhìn thấy ở gương soi, dầu là vô cùng trong sạch. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi tâm đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, đã đi vào luồng tâm hộ kiếp, và đang được duy trì, thì tâm là không vận hành ở cơ thể; tâm không vận hành thì không nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, tấm gương soi là như thế nào thì cơ thể nên được xem xét như vậy. Sự tối tăm là như thế nào thì trạng thái ngủ mơ màng nên được xem xét như vậy. Ánh sáng là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như khi mặt trời bị che lại bởi băng giá thì ánh sáng không được nhìn thấy; tia sáng mặt trời tuy có hiện hữu nhưng không vận hành; khi tia sáng mặt trời không vận hành thì không có ánh sáng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, thì tâm đi vào luồng tâm hộ kiếp; tâm đã đi vào luồng tâm hộ kiếp thì không vận hành; tâm không vận hành thì không nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, mặt trời là như thế nào thì cơ thể nên được xem xét như vậy. Sự che lại bởi băng giá là như thế nào thì trạng thái ngủ mơ màng nên được xem xét như vậy. Tia sáng mặt trời là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy.
BJT 5Tâu đại vương, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành trong hai trường hợp: Đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, đã đi vào luồng tâm hộ kiếp, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành; đối với người đã thể nhập thiền diệt, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành. Tâu đại vương, đối với người đang tỉnh táo, tâm lao xao, mở ra, năng động, không cố định, điềm báo hiệu không tiến đến gần lãnh vực ở tâm của người có trạng thái như vậy. Tâu đại vương, giống như những ước muốn thầm kín xa lánh người nam cởi mở, năng động, không nghiêm chỉnh, không kín đáo. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nghĩa lý siêu tự nhiên không tiến đến gần lãnh vực của người đang tỉnh táo. Do đó, người đang tỉnh táo không nhìn thấy giấc mơ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như các thiện pháp dự phần vào giác ngộ không tiến đến gần lãnh vực là vị tỳ khưu có sự nuôi mạng bị sứt mẻ, không nết hạnh, có bạn ác, có giới tồi, biếng nhác, có sự tinh tấn thấp kém. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nghĩa lý siêu tự nhiên không tiến đến gần lãnh vực của người đang tỉnh táo.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, có phải trạng thái ngủ mơ màng là có chặng đầu, chặng giữa, và chặng cuối?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Trạng thái ngủ mơ màng có chặng đầu, có chặng giữa, và có chặng cuối.”
“Chặng đầu là cái nào, chặng giữa là cái nào, và chặng cuối là cái nào?”
“Tâu đại vương, trạng thái nào là sự che đậy, sự bao bọc lại, sự yếu đuối của danh uẩn và sắc uẩn, là trạng thái trì trệ, không sẵn sàng cho hành động của thân; đây là chặng đầu của trạng thái ngủ mơ màng. Tâu đại vương, người nào có được giấc ngủ của con khỉ, ngủ mơ màng một cách lộn xộn (nửa ngủ nửa thức); đây là chặng giữa của trạng thái ngủ mơ màng. Chặng cuối là việc đi vào luồng tâm hộ kiếp. Tâu đại vương, người đã tiến đến gần chặng giữa, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, giống như người nào đó có sự thực hành về tiết chế, có tâm được định tĩnh, có pháp được bền vững, có sự sáng suốt không dao động, sau khi đi sâu vào khu rừng, nơi đã được dứt hẳn sự loạn động và tiếng động, rồi suy nghĩ về ý nghĩa vi tế, và ở nơi ấy, người ấy không rơi vào trạng thái ngủ mơ màng. Ở nơi ấy, được định tĩnh, có tâm chuyên nhất, người ấy thấu hiểu được ý nghĩa vi tế. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tỉnh táo, không đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, tiến đến gần giấc ngủ của con khỉ, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, sự loạn động và tiếng động là như thế nào thì sự tỉnh táo nên được xem xét như vậy. Khu rừng tách biệt là như thế nào thì việc có được giấc ngủ của con khỉ nên được xem xét như vậy. ‘Người ấy sau khi từ bỏ sự loạn động và tiếng động, sau khi tránh né trạng thái ngủ mơ màng, có được trạng thái trầm tĩnh, thì thấu hiểu được ý nghĩa vi tế’ là như thế nào thì ‘người tỉnh táo, không đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ’ là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về giấc mơ là thứ năm.
“Bhante nāgasena, imasmiṁ loke naranāriyo supinaṁ passanti kalyāṇampi pāpakampi, diṭṭhapubbampi adiṭṭhapubbampi, katapubbampi akatapubbampi, khemampi sabhayampi, dūrepi santikepi, bahuvidhānipi anekavaṇṇasahassāni dissanti, kiñcetaṁ supinaṁ nāma, ko cetaṁ passatī”ti?
“Nimittametaṁ, mahārāja, supinaṁ nāma, yaṁ cittassa āpātamupagacchati.
Chayime, mahārāja, supinaṁ passanti, vātiko supinaṁ passati, pittiko supinaṁ passati, semhiko supinaṁ passati, devatūpasaṁhārato supinaṁ passati, samudāciṇṇato supinaṁ passati, pubbanimittato supinaṁ passati, tatra, mahārāja, yaṁ pubbanimittato supinaṁ passati, taṁyeva saccaṁ, avasesaṁ micchā”ti.
“Bhante nāgasena, yo pubbanimittato supinaṁ passati, kiṁ tassa cittaṁ sayaṁ gantvā taṁ nimittaṁ vicināti, taṁ vā nimittaṁ cittassa āpātamupagacchati, añño vā āgantvā tassa ārocetī”ti?
“Na, mahārāja, tassa cittaṁ sayaṁ gantvā taṁ nimittaṁ vicināti, nāpi añño koci āgantvā tassa āroceti, atha kho taṁyeva nimittaṁ cittassa āpātamupagacchati.
Yathā, mahārāja, ādāso na sayaṁ kuhiñci gantvā chāyaṁ vicināti, nāpi añño koci chāyaṁ ānetvā ādāsaṁ āropeti, atha kho yato kutoci chāyā āgantvā ādāsassa āpātamupagacchati;
evameva kho, mahārāja, na tassa cittaṁ sayaṁ gantvā taṁ nimittaṁ vicināti, nāpi añño koci āgantvā āroceti, atha kho yato kutoci nimittaṁ āgantvā cittassa āpātamupagacchatī”ti.
“Bhante nāgasena, yaṁ taṁ cittaṁ supinaṁ passati, api nu taṁ cittaṁ jānāti ‘evaṁ nāma vipāko bhavissati khemaṁ vā bhayaṁ vā’ti?
Na hi, mahārāja, taṁ cittaṁ jānāti ‘evaṁvipāko bhavissati khemaṁ vā bhayaṁ vā’ti, nimitte pana uppanne aññesaṁ katheti, tato te atthaṁ kathentī”ti.
“Iṅgha, bhante nāgasena, kāraṇaṁ me dassehī”ti.
“Yathā, mahārāja, sarīre tilakā pīḷakā daddūni uṭṭhahanti lābhāya vā alābhāya vā, yasāya vā ayasāya vā, nindāya vā pasaṁsāya vā, sukhāya vā dukkhāya vā, api nu tā, mahārāja, pīḷakā jānitvā uppajjanti ‘imaṁ nāma mayaṁ atthaṁ nipphādessāmā’”ti?
“Na hi, bhante, yādise tā okāse pīḷakā sambhavanti, tattha tā pīḷakā disvā nemittakā byākaronti ‘evaṁ nāma vipāko bhavissatī’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yaṁ taṁ cittaṁ supinaṁ passati, na taṁ cittaṁ jānāti ‘evaṁ nāma vipāko bhavissati khemaṁ vā bhayaṁ vā’ti, nimitte pana uppanne aññesaṁ katheti, tato te atthaṁ kathentī”ti.
“Bhante nāgasena, yo supinaṁ passati, so niddāyanto, udāhu jāgaranto passatī”ti?
“Yo so, mahārāja, supinaṁ passati, na so niddāyanto passati, nāpi jāgaranto passati.
Api ca okkante middhe asampatte bhavaṅge etthantare supinaṁ passati.
Middhasamārūḷhassa, mahārāja, cittaṁ bhavaṅgagataṁ hoti, bhavaṅgagataṁ cittaṁ nappavattati, appavattaṁ cittaṁ sukhadukkhaṁ nappajānāti, appaṭivijānantassa supino na hoti, pavattamāne citte supinaṁ passati.
Yathā, mahārāja, timire andhakāre appabhāse suparisuddhepi ādāse chāyā na dissati;
evameva kho, mahārāja, middhasamārūḷhe citte bhavaṅgagate tiṭṭhamānepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, appavatte citte supinaṁ na passati.
Yathā, mahārāja, ādāso, evaṁ sarīraṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā andhakāro, evaṁ middhaṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā āloko, evaṁ cittaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, mahikotthaṭassa sūriyassa pabhā na dissati santāyeva sūriyarasmi appavattā hoti, appavattāya sūriyarasmiyā āloko na hoti;
evameva kho, mahārāja, middhasamārūḷhassa cittaṁ bhavaṅgagataṁ hoti, bhavaṅgagataṁ cittaṁ nappavattati, appavatte citte supinaṁ na passati.
Yathā, mahārāja, sūriyo, evaṁ sarīraṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā mahikottharaṇaṁ, evaṁ middhaṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā sūriyarasmi, evaṁ cittaṁ daṭṭhabbaṁ.
Dvinnaṁ, mahārāja, santepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, middhasamārūḷhassa bhavaṅgagatassa santepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, nirodhasamāpannassa santepi sarīre cittaṁ appavattaṁ hoti, jāgarantassa, mahārāja, cittaṁ lolaṁ hoti vivaṭaṁ pākaṭaṁ anibaddhaṁ, evarūpassa citte nimittaṁ āpātaṁ na upeti.
Yathā, mahārāja, purisaṁ vivaṭaṁ pākaṭaṁ akiriyaṁ arahassaṁ rahassakāmā parivajjenti;
evameva kho, mahārāja, jāgarantassa dibbo attho āpātaṁ na upeti, tasmā jāgaranto supinaṁ na passati.
Yathā vā pana, mahārāja, bhikkhuṁ bhinnājīvaṁ anācāraṁ pāpamittaṁ dussīlaṁ kusītaṁ hīnavīriyaṁ kusalā bodhipakkhiyā dhammā āpātaṁ na upenti;
evameva kho, mahārāja, jāgarantassa dibbo attho āpātaṁ na upeti, tasmā jāgaranto supinaṁ na passatī”ti.
“Bhante nāgasena, atthi middhassa ādimajjhapariyosānan”ti?
“Āma, mahārāja, atthi middhassa ādimajjhapariyosānan”ti.
“Katamaṁ ādi, katamaṁ majjhaṁ, katamaṁ pariyosānan”ti?
“Yo, mahārāja, kāyassa onāho pariyonāho dubbalyaṁ mandatā akammaññatā kāyassa, ayaṁ middhassa ādi;
yo, mahārāja, kapiniddāpareto vokiṇṇakaṁ jaggati, idaṁ middhassa majjhaṁ;
bhavaṅgagati pariyosānaṁ.
Majjhūpagato, mahārāja, kapiniddāpareto supinaṁ passati.
Yathā, mahārāja, koci yatacārī samāhitacitto ṭhitadhammo acalabuddhi pahīnakotūhalasaddaṁ vanamajjhogāhitvā sukhumaṁ atthaṁ cintayati, na ca so tattha middhaṁ okkamati, so tattha samāhito ekaggacitto sukhumaṁ atthaṁ paṭivijjhati;
evameva kho, mahārāja, jāgaro na middhasamāpanno, majjhūpagato kapiniddāpareto supinaṁ passati.
Yathā, mahārāja, kotūhalasaddo, evaṁ jāgaraṁ daṭṭhabbaṁ;
yathā vivittaṁ vanaṁ, evaṁ kapiniddāpareto daṭṭhabbo;
yathā so kotūhalasaddaṁ ohāya middhaṁ vivajjetvā majjhattabhūto sukhumaṁ atthaṁ paṭivijjhati, evaṁ jāgaro na middhasamāpanno kapiniddāpareto supinaṁ passatī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Supinapañho pañcamo.