BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải hết thảy tất cả các đức Bồ Tát đều bố thí con và vợ, hay là chỉ riêng đức vua Vessantara đã bố thí con và vợ?”
“Tâu đại vương, tất cả các đức Bồ Tát cũng đều bố thí con và vợ, không phải chỉ riêng đức vua Vessantara đã bố thí con và vợ.”
“Thưa ngài, phải chăng các vị ấy bố thí với sự đồng ý của những người ấy?”
“Tâu đại vương, người vợ thì đồng ý. Trái lại, hai đứa bé đã than vãn do bản chất trẻ thơ. Nếu chúng có thể biết được mục đích, chúng cũng có thể tùy hỷ, chúng có thể không than vãn.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, hành động khó làm đã được làm bởi đức Bồ Tát là việc vị ấy đã bố thí những đứa con ruột thịt yêu quý của chính mình để làm nô lệ cho người Bà-la-môn.
Việc thứ nhì này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là việc vị ấy đã dửng dưng sau khi nhìn thấy người Bà-la-môn ấy trói lại những đứa con ruột thịt yêu quý dại khờ thơ ấu của chính mình bằng dây rừng và đang đánh đập bằng dây rừng.
Việc thứ ba này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là việc đứa bé trai, sau khi đã được thoát khỏi sự trói buộc nhờ vào sức mạnh bản thân, đã đi đến, bị lâm vào sự hoảng sợ, thì vị ấy đã trói bằng dây rừng rồi lại bố thí lần nữa.
Việc thứ tư này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là khi đứa bé trai đang than vãn rằng: ‘Cha ơi, gã Dạ-xoa này dẫn chúng con đi để ăn đó,’ vị ấy đã không an ủi rằng: ‘Các con chớ hãi sợ.’
Việc thứ năm này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là trong khi đứa bé trai Jāli đang khóc lóc, nằm mọp xuống ở hai bàn chân, cầu xin rằng: ‘Cha ơi, thôi đi! Hãy đưa Kaṇhājinā quay về. Chính con sẽ đi với gã Dạ-xoa. Hãy để gã Dạ-xoa ăn con đi,’ vị ấy đã không chấp nhận như thế.
Việc thứ sáu này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là trong khi đứa bé trai Jāli đang than vãn rằng: ‘Cha ơi, không lẽ trái tim của cha giống như hòn đá mất rồi, bởi vì trong khi quan sát chúng con bị đau khổ, đang bị gã Dạ-xoa dẫn đi vào trong khu rừng rộng lớn không có bóng người, mà cha không ngăn cản,’ vị ấy đã không thể hiện lòng thương xót.
Hơn nữa, việc thứ bảy này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là khi đứa trẻ bị dẫn đi đã đi ra khỏi tầm nhìn, mà trái tim của vị ấy, dầu là vô cùng hoảng hốt, vô cùng kinh hãi, đã không vỡ ra thành trăm mảnh hay ngàn mảnh. Con người mong mỏi phước thiện được cái gì với việc gây khổ đau cho kẻ khác? Không lẽ có thể đem cho thân quyến như là vật thí?”
“Tâu đại vương, do trạng thái đã làm hành động khó làm, tiếng tăm tốt đẹp của đức Bồ Tát đã được lan rộng ở mười ngàn thế giới có cả chư Thiên và nhân loại. Chư Thiên ở cõi Trời tán thán, các A-tu-la ở cõi A-tu-la tán thán, các nhân điểu ở cõi nhân điểu tán thán, các con rồng ở Long cung tán thán, các Dạ-xoa ở cõi Dạ-xoa tán thán, theo tuần tự tiếng tăm tốt đẹp của vị ấy lần lượt đã đến được cuộc hội họp của chúng ta tại đây vào lúc này hôm nay. Trong khi họ tán thán, thì chúng ta lại ngồi bôi bác việc bố thí ấy (suy nghĩ rằng): ‘Đã được bố thí tốt đẹp, hay là đã được bố thí tồi?’ Tâu đại vương, hơn nữa tiếng tăm tốt đẹp này đây phô bày mười đức tính của các vị Bồ Tát khôn khéo, tri thức, hiểu biết, rành rẽ. Mười đức tính nào? Bản chất không tham muốn, không mong cầu, buông xả, dứt bỏ, không quay trở lại, có sự tinh tế, vĩ đại, khó hiểu thấu, khó đạt được, không sánh bằng, thuộc về pháp của vị Phật. Tâu đại vương, hơn nữa tiếng tăm tốt đẹp này đây phô bày mười đức tính này của các vị Bồ Tát khôn khéo, hiểu biết, tri thức, rành rẽ.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, người nào làm cho kẻ khác khổ đau rồi đem bố thí (như là) vật thí, phải chăng sự bố thí ấy có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có điều gì cần phải nói?”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy xin ngài chỉ cho thấy lý do.”
“Tâu đại vương, ở đây có vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó là người có giới, có thiện pháp, vị ấy có thể bị liệt một bên, hoặc què quặt, hoặc mắc phải cơn bệnh nào đó. Rồi một người nào đó, mong mỏi phước báu, mới đặt người kia vào chiếc xe rồi đưa đi đến xứ sở đã được ao ước. Tâu đại vương, phải chăng do nhân ấy có thể có sự an lạc nào đó sanh khởi cho người nam ấy? Có phải việc làm ấy có thể đưa đến cõi trời?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có điều gì cần phải nói? Thưa ngài, người nam ấy có thể đạt được phương tiện di chuyển là voi, hoặc phương tiện di chuyển là ngựa, hoặc phương tiện di chuyển là xe, phương tiện di chuyển ở đất liền khi ở đất liền, phương tiện di chuyển ở biển khi ở biển, phương tiện di chuyển của chư Thiên khi ở giữa chư Thiên, phương tiện di chuyển của loài người khi ở giữa loài người, có thể sanh ra ở cõi này cõi khác thích hợp với điều ấy, phù hợp với điều ấy, và các sự an lạc thích hợp với điều ấy được sanh lên cho vị này, có thể đi đến từ chốn an vui (này) đến chốn an vui (khác), do kết quả của việc làm ấy thôi, vị ấy có thể cỡi lên phương tiện di chuyển là thần thông và đạt đến thành phố Niết Bàn đã được ao ước.”
“Tâu đại vương, như thế thì vật thí đã được bố thí cùng với việc làm kẻ khác khổ đau lại có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời, là việc người đàn ông ấy, sau khi gây khổ đau cho những con bò kéo, lại thọ hưởng sự an lạc có hình thức như thế. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa nói về vật thí đã được bố thí cùng với việc làm kẻ khác khổ đau lại có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời. Tâu đại vương, ở đây một vị vua nào đó sau khi tăng thuế má một cách hợp pháp từ nơi xứ sở, rồi do việc ban hành mệnh lệnh mà có thể ban phát tặng phẩm. Tâu đại vương, phải chăng do nhân ấy vị vua ấy có thể thọ hưởng sự an lạc nào đó? Có phải việc bố thí ấy có thể đưa đến cõi trời?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có điều gì cần phải nói? Thưa ngài, do nhân ấy vị vua ấy có thể đạt được công đức nhiều trăm ngàn lần thêm hơn nữa là có thể trở thành vị vua vượt trội các vị vua, có thể trở thành vị Trời vượt trội các vị Trời, có thể trở thành vị Phạm Thiên vượt trội các vị Phạm Thiên, có thể trở thành vị Sa-môn vượt trội các vị Sa-môn, có thể trở thành vị Bà-la-môn vượt trội các vị Bà-la-môn, có thể trở thành vị A-la-hán vượt trội các vị A-la-hán.”
“Tâu đại vương, như thế thì vật thí đã được bố thí cùng với việc làm kẻ khác khổ đau lại có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời, là việc vị vua ấy sau khi áp bức dân chúng bằng thuế má rồi với tặng phẩm đã được ban phát thì thọ hưởng sự an lạc về danh vọng có hình thức như thế thêm hơn nữa.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vật thí vượt trội đã được đức vua Vessantara bố thí, là việc vị ấy đã bố thí vợ của mình để làm vợ của kẻ khác, đã bố thí những đứa con ruột thịt của mình để làm nô lệ cho người Bà-la-môn. Thưa ngài Nāgasena, vật thí vượt trội đã bị lên án, đã bị chê trách bởi các bậc hiểu biết ở thế gian.
Thưa ngài Nāgasena, giống như bởi vật nặng quá tải mà cái trục của chiếc xe kéo bị gãy, vì vật nặng quá tải mà thuyền chìm, vì đã được ăn quá nhiều mà vật thực trở thành không tiêu, do mưa quá nhiều là thóc lúa bị hư hại, do sự bố thí quá nhiều mà đưa đến việc khánh tận tài sản, do quá nóng mà phát cháy, do ái luyến quá mức mà trở thành kẻ điên, do quá sân mà trở thành đáng chết, do quá si mê mà lâm cảnh bất hạnh, do quá tham mà đi đến việc bị cướp bắt giữ, do quá sợ hãi mà bị tiêu hoại, do quá đầy mà sông tràn bờ, do gió quá mức mà sét đánh, do quá lửa mà cơm trào, do việc đi lang thang quá mức mà không sống lâu. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế vật thí vượt trội đã bị lên án, đã bị chê trách bởi các bậc hiểu biết ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, vật thí vượt trội đã được đức vua Vessantara bố thí, trong trường hợp ấy không có bất cứ quả báu nào là được mong mỏi.”
BJT 5“Tâu đại vương, vật thí vượt trội đã được ngợi khen, tán dương, ca tụng bởi các bậc hiểu biết ở thế gian. Bất cứ những ai bố thí vật thí như thế này hay như thế nào, thì người bố thí vật thí vượt trội đạt được tiếng tăm ở thế gian. Tâu đại vương, giống như rễ cây rừng thuộc về cõi trời, với tính chất cao quý vượt trội, đã được nắm vào thì không bị những người khác thậm chí đứng trong tầm tay nhìn thấy; thuốc chữa bệnh với phẩm chất vượt trội là vật tiêu diệt sự đau đớn, làm chấm dứt các căn bệnh; ngọn lửa với ánh sáng vượt trội thì đốt cháy; nước với tính chất mát lạnh vượt trội thì dập tắt; hoa sen với tính chất trong sạch vượt trội thì không bị bùn nước làm lấm lem; ngọc ma-ni với đức tính vượt trội là vật ban cho điều ước; kim cương với tính chất vô cùng sắc bén thì xuyên thủng ngọc ma-ni, ngọc trai, ngọc pha-lê; trái đất với tính chất vô cùng to lớn thì nâng đỡ con người, rắn, thú rừng, chim, nước, đá, núi, cây cối; biển cả bởi tính chất vô cùng rộng lớn mà không bị đầy tràn; núi Sineru do sức nặng vượt trội mà không bị dao động; bầu trời do tính chất cực kỳ rộng lớn là vô biên; mặt trời với ánh sáng vượt trội tiêu diệt sự tăm tối; sư tử do dòng dõi vượt trội không còn sợ hãi; võ sĩ đấu vật do có sức mạnh cực kỳ quật ngã đối thủ một cách nhanh chóng; đức vua với phước báu vượt trội là vị chúa tể; vị tỳ khưu với giới hạnh vượt trội đáng được cúi chào bởi các hạng rồng, Dạ-xoa, loài người, và chư Thiên; đức Phật do tính chất cực kỳ cao cả là không kẻ tương đương.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vật thí vượt trội đã được ngợi khen, tán dương, ca tụng bởi các bậc hiểu biết ở thế gian. Bất cứ những ai bố thí vật thí như thế này hay như thế nào, thì người bố thí vật thí vượt trội đạt được tiếng tăm ở thế gian. Với sự bố thí vượt trội, đức vua Vessantara đã được ngợi khen, tán dương, ca tụng, trọng vọng, tiếng tăm ở trong mười ngàn thế giới. Chính nhờ vào sự bố thí vượt trội ấy, đức vua Vessantara giờ đây hôm nay đã được trở thành đức Phật, là bậc cao cả ở thế gian có cả chư Thiên. Tâu đại vương, phải chăng ở trên thế gian có loại vật thí là cần được đình chỉ, là không nên được bố thí cho người xứng đáng sự cúng đường, cho người đã đi đến?”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, mười sự bố thí này ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí những vật thí này, người ấy có sự đi đến địa ngục. Mười sự bố thí nào? Thưa ngài Nāgasena, sự bố thí chất say ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục. Sự bố thí hội h … (như trên) … Sự bố thí người n … (như trên) … Sự bố thí bò đự … (như trên) … Sự bố thí tranh ản … (như trên) … Sự bố thí vũ kh … (như trên) … Sự bố thí thuốc độ … (như trên) … Sự bố thí xích xiền … (như trên) … Sự bố thí gà he … (như trên) … Thưa ngài Nāgasena, sự bố thí cách gian lận về cân và cách gian lận về đo lường ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục. Thưa ngài Nāgasena, mười sự bố thí này ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí những vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục.”
BJT 7“Tâu đại vương, tôi không hỏi ngài về việc không được xem là bố thí. Tâu đại vương, tôi hỏi ngài về điều này. Tâu đại vương, phải chăng ở trên thế gian có loại vật thí là cần được đình chỉ, là không nên được bố thí cho người xứng đáng sự cúng đường đã đi đến?”
“Thưa ngài Nāgasena, ở trên thế gian không có loại vật thí là cần được đình chỉ, là không nên được bố thí cho người xứng đáng sự cúng đường đã đi đến. Khi sự tịnh tín của tâm được sanh khởi, một số người dâng vật thực đến các bậc đáng cúng dường, một số người dâng y áo, một số người dâng giường nằm, một số người dâng chỗ ngụ, một số người dâng tấm trải và tấm đắp, một số người dâng tôi trai tớ gái, một số người dâng ruộng vườn, một số người dâng thú hai chân hoặc bốn chân, một số người dâng trăm, ngàn, trăm ngàn đồng, một số người dâng vương quốc rộng lớn, một số người bố thí luôn cả mạng sống.”
“Tâu đại vương, nếu một số người bố thí luôn cả mạng sống, thì vì lý do gì ngài lại công kích thí chủ Vessantara quá dữ dội về việc đã khéo bố thí các con và vợ. Tâu đại vương, phải chăng có thói thường ở thế gian, tập quán ở thế gian là người cha bị mắc nợ hoặc không có kế sinh nhai thì được cầm cố hoặc bán đi người con trai?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Người cha bị mắc nợ hoặc không có kế sinh nhai thì được phép để cầm cố hoặc bán đi người con trai.”
“Tâu đại vương, nếu người cha bị mắc nợ hoặc không có kế sinh nhai thì được phép để cầm cố hoặc bán đi người con trai. Tâu đại vương, đức vua Vessantara, trong khi không đạt được Trí Toàn Tri, bị buồn rầu, bị khổ sở, nên đã cầm cố và đã bán đi các con và vợ nhằm đạt được tài sản Giáo Pháp ấy. Tâu đại vương, như thế việc đã bố thí bởi đức vua Vessantara cũng chỉ là việc đã bố thí của những người khác, việc đã làm cũng chỉ là việc đã được làm. Tâu đại vương, vậy thì tại sao ngài lại công kích thí chủ Vessantara quá dữ dội về việc bố thí ấy?”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chê trách việc bố thí của thí chủ Vessantara. Tuy nhiên, trong khi người ta cầu xin con và vợ, thì nên mặc cả và nên bố thí bản thân mình.”
“Tâu đại vương, việc ấy không phải là việc làm của người có đức hạnh, là trong khi người ta cầu xin con và vợ thì lại bố thí bản thân mình. Bởi vì trong khi người ta cầu xin cái nào, thì chính cái ấy nên được bố thí. Đây là hành động của các bậc thiện nhân. Tâu đại vương, giống như người nam nào đó bảo đem nước đến, người nào đem đến thức ăn cho ông ta, tâu đại vương, phải chăng người nam ấy là người làm được việc cho ông ta?”
“Thưa ngài, không đúng. Ông ta bảo đem lại cái gì, thì trong khi trao cho ông ta chính cái ấy mới là người làm được việc.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức vua Vessantara trong khi người Bà-la-môn cầu xin các con và vợ thì đã bố thí chính các con và vợ. Tâu đại vương, nếu người Bà-la-môn cầu xin thân xác của Vessantara, tâu đại vương, vị ấy sẽ không bảo vệ bản thân mình, không dao động, không bị quyến luyến, đối với vị ấy chính cái vật được bố thí, được xả bỏ, sẽ là thân xác. Tâu đại vương, nếu ai đó đi đến thí chủ Vessantara và cầu xin: ‘Hãy trở thành nô lệ của ta,’ thì chính cái vật được bố thí, được xả bỏ, sẽ là thân xác của vị ấy. Sau khi đã bố thí, vị ấy không bứt rứt. Tâu đại vương, thân thể của đức vua Vessantara là chung cho cả số đông.
Tâu đại vương, giống như miếng thịt đã nấu chín là chung cho cả số đông. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thân thể của đức vua Vessantara là chung cho cả số đông. Tâu đại vương, hoặc là giống như cây đã được kết trái là chung cho các bầy chim khác nhau. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thân thể của đức vua Vessantara là chung cho cả số đông. Vì lý do gì? (Nghĩ rằng): ‘Trong khi thực hành như vầy, ta sẽ đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác.’
Tâu đại vương, giống như người nam không có tài sản, tầm cầu về tài sản, trong khi đi lang thang tìm kiếm tài sản, thì đi theo lối đi của loài dê, theo lối đi đầy gai góc, theo lối đi nơi hoang dã, tiến hành việc buôn bán ở sông nước hoặc ở đất liền, tom góp tài sản bằng thân bằng khẩu bằng ý, nỗ lực nhằm đạt được tài sản. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhằm sự thành tựu báu vật là Trí Toàn Tri, sau khi buông bỏ tài sản và lúa gạo, tôi trai và tớ gái, thuyền và xe, toàn bộ của cải, các con và vợ của mình luôn cả bản thân cho những người xin xỏ, thí chủ Vessantara không có tài sản về tài sản của vị Phật, tầm cầu chỉ riêng phẩm vị Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vị quan đại thần, mong muốn cái dấu ấn, có sự tranh chấp về dấu ấn, bất cứ vật gì ở trong nhà như tài sản, lúa gạo, vàng khối, vàng ròng, thậm chí cho đi tất cả các thứ ấy, và nỗ lực nhằm đạt được cái dấu ấn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thí chủ Vessantara, sau khi cho đi tất cả tài sản ở bên ngoài và bên trong ấy, còn cho luôn mạng sống của những người khác, và tầm cầu chỉ riêng phẩm vị Chánh Đẳng Giác.
BJT 9Tâu đại vương, thêm nữa thí chủ Vessantara đã khởi ý như vầy: ‘Vật mà người Bà-la-môn cầu xin, trong khi cho chính vật ấy đến gã, ta được gọi là người làm được việc.’ Như thế vị ấy đã bố thí các con và vợ đến gã ấy. Tâu đại vương, thí chủ Vessantara không phải vì ghét bỏ mà đã bố thí các con và vợ đến người Bà-la-môn, không phải vì nghĩ rằng: ‘Các con và vợ của ta là quá nhiều, ta không thể nuôi dưỡng họ’ mà đã bố thí các con và vợ, đã không bất mãn (nghĩ rằng): ‘Họ không được ta yêu quý’ mà đã bố thí các con và vợ vì muốn đuổi đi. Khi ấy, vì lòng yêu quý đối với chỉ riêng báu vật là Trí Toàn Tri, vì lý do của Trí Toàn Tri, đức vua Vessantara đã bố thí đến người Bà-la-môn vật thí quý giá gồm các con và vợ, là vật yêu quý, được ưa thích, được yêu mến, sánh bằng mạng sống, không thể đo lường, bao la, vô thượng có hình thức như thế.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Cariyāpiṭaka (Hạnh Tạng):
‘Cả hai người con không có bị ta ghét bỏ, Hoàng Hậu Maddī không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã bố thí những người thân yêu.’
Tâu đại vương, ở nơi ấy, đức vua Vessantara, sau khi bố thí các con, đã đi vào gian nhà lá rồi nằm xuống. Vị ấy, bị đau khổ do lòng thương mến quá độ, đã khởi lên cơn sầu muộn mãnh liệt, vùng trái tim đã trở nên nóng, khi mũi không được thông, đã đưa hơi thở ra vào nóng hổi qua đường miệng, các giọt nước mắt, sau khi lăn tròn trở thành những hạt máu đỏ, đã đi ra từ những con mắt. Tâu đại vương, với nỗi khổ đau như thế đức vua Vessantara đã bố thí các con (nghĩ rằng): ‘Chớ làm suy giảm đạo lộ bố thí của ta.’
Tâu đại vương, thêm nữa đức vua Vessantara đã bố thí hai đứa nhỏ cho người Bà-la-môn vì hai điều lợi ích. Hai điều nào? (Nghĩ rằng): ‘Đạo lộ bố thí của ta sẽ không bị hư hỏng. Và khi những đứa con nhỏ của ta bị khổ sở vì rễ và trái cây rừng, do nhân này ông nội sẽ giải thoát chúng.’ Tâu đại vương, bởi vì đức vua Vessantara biết rằng: ‘Hai đứa nhỏ của ta không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Và ông nội sẽ chuộc lại hai đứa nhỏ này. Cuộc hành trình của chúng ta sẽ là như vậy.’ Tâu đại vương, vì hai điều lợi ích này mà đức Bồ Tát đã bố thí hai đứa nhỏ cho người Bà-la-môn.
Tâu đại vương, hơn nữa đức vua Vessantara biết rằng: ‘Người Bà-la-môn quả đã già, lão, lớn tuổi, yếu đuối, tàn tạ, chống gậy, tuổi thọ đã hết, phước báu ít ỏi, gã này không có khả năng để sử dụng hai đứa nhỏ này theo lối sử dụng nô lệ.’ Tâu đại vương, phải chăng người nam với sức mạnh tự nhiên có thể cầm lấy mặt trăng và mặt trời có đại thần lực có đại oai lực này bỏ vào cái hộp hay cái giỏ, làm cho hết ánh sáng, rồi sử dụng theo lối sử dụng cái đĩa?”
“Thưa ngài, không được.”
BJT 10“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như mặt trăng và mặt trời ở thế gian này, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như viên ngọc quý ma-ni của đức Chuyển Luân Vương là rực rỡ, có phẩm chất, đã khéo được gọt dũa thành tám mặt, bề dài bốn cánh tay, có chu vi giống như trục bánh của chiếc xe kéo, không thể bị bất cứ ai bao bọc lại bằng mảnh vải rồi bỏ trong cái hộp, và sử dụng theo lối sử dụng đá mài dao. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như viên ngọc quý ma-ni của đức Chuyển Luân Vương ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như Long Vương Uposatha, bị tiết dục ở ba nơi, hoàn toàn màu trắng, được vững chãi gấp bảy lần, có chiều cao tám ratana, chiều dài và chu vi chín ratana, duyên dáng, đáng nhìn, không thể bị bất cứ ai che đậy lại bằng cái nia hoặc cái vung, hoặc quăng vào trại bò để chăm nom như là con bò con. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như Long Vương Uposatha ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như đại dương được trải rộng bao la về chiều dài, sâu thẳm, không thể đo lường, khó thể vượt qua, chưa bị thăm dò, không bị che lại, không thể bị bất cứ ai đóng lại tất cả các nơi để tiến hành việc sử dụng bằng một bến tàu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như đại dương ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như núi chúa Hi-mã-lạp vươn cao lên không trung năm trăm do-tuần, chiều dài và chiều rộng ba ngàn do-tuần, được điểm tô với tám mươi bốn ngàn đỉnh núi, là khởi nguyên của năm trăm con sông lớn, là chỗ ngụ của những đoàn sinh vật khổng lồ, nơi chất chứa các hương thơm nhiều loại, được điểm trang với hàng trăm dược thảo ở cõi trời, được nhìn thấy vươn lên cao như là đám mây ở không trung. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như núi chúa Hi-mã-lạp ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đang cháy sáng ở bên trên đỉnh núi trong đêm tối đen mờ mịt được nhận biết dầu ở rất xa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức vua Vessantara, tợ như khối lửa lớn đang cháy sáng ở đỉnh núi, được nổi tiếng, được nhận biết dầu ở rất xa. Hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như ở núi Hi-mã-lạp, vào mùa hoa của cây thiết mộc, khi có ngọn gió trực chỉ đang thổi thì hương của các bông hoa tỏa ra mười, mười hai do-tuần. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tiếng tăm tốt đẹp của đức vua Vessantara cũng được loan truyền và hương thơm cao quý về giới hạnh của vị này tỏa ra một ngàn do-tuần ở các cung điện của chư Thiên, A-tu-la, nhân điểu, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, quỷ sứ, rắn chúa, chim đầu người, và vị Thần Inda, ở khoảng giữa của các nơi ấy cho đến cõi Sắc Cứu Cánh, vì thế hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hoàng tử Jālī đã được vua cha Vessantara chỉ dạy là: ‘Này con yêu, trong khi ông nội của con trao tài sản cho người Bà-la-môn và chuộc lại con, thì ông nội hãy trao cho ông ta một ngàn đồng tiền vàng rồi chuộc lại. Trong khi chuộc lại Kaṇhājinā, thì ông nội hãy trao ra mỗi thứ một trăm là trăm tôi trai, trăm tớ gái, trăm voi, trăm ngựa, trăm bò sữa, trăm bò mộng, trăm đồng tiền vàng, rồi chuộc lại. Này con yêu, nếu ông nội của con giành lấy các con từ tay của người Bà-la-môn bằng mệnh lệnh, bằng sức lực, hoặc miễn phí, thì các con chớ làm theo lời nói của ông nội, mà hãy đi theo chính người Bà-la-môn.’ Sau khi chỉ dạy như thế rồi đã gởi đi. Sau đó, hoàng tử Jālī đã ra đi, đến khi được ông nội hỏi, đã nói rằng:
‘Thưa ông, bởi vì cha đã cho con đến người Bà-la-môn với giá một ngàn, còn cô con gái Kaṇhājinā là bằng tài sản cá nhân và giá của những con voi.’”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, mạng lưới tà kiến đã khéo được phá vỡ, các học thuyết khác đã khéo được nghiền nát, kiến thức của bản thân đã khéo được giải thích, vấn đề phụ thuộc đã khéo được làm rõ, ý nghĩa đã khéo được phân tích. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc bố thí con của Vessanta là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, sabbeva bodhisattā puttadāraṁ denti, udāhu vessantareneva raññā puttadāraṁ dinnan”ti?
“Sabbepi, mahārāja, bodhisattā puttadāraṁ denti, na vessantareneva raññā puttadāraṁ dinnan”ti.
“Api ca kho, bhante nāgasena, tesaṁ anumatena dentī”ti.
“Bhariyā, mahārāja, anumatā, dārakā pana bālatāya vilapiṁsu, yadi te atthato jāneyyuṁ, tepi anumodeyyuṁ, na te vilapeyyun”ti.
“Dukkaraṁ, bhante nāgasena, bodhisattena kataṁ, yaṁ so attano orase piye putte brāhmaṇassa dāsatthāya adāsi.
Idampi dutiyaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so attano orase piye putte bālake taruṇake latāya bandhitvā tena brāhmaṇena latāya anumajjīyante disvā ajjhupekkhi.
Idampi tatiyaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so sakena balena bandhanā muccitvā āgate dārake sārajjamupagate punadeva latāya bandhitvā adāsi.
Idampi catutthaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so dārake ‘ayaṁ kho, tāta, yakkho khādituṁ neti amhe’ti vilapante ‘mā bhāyitthā’ti na assāsesi.
Idampi pañcamaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so jālissa kumārassa rudamānassa pādesu nipatitvā ‘alaṁ, tāta, kaṇhājinaṁ nivattehi, ahameva gacchāmi yakkhena saha, khādatu maṁ yakkho’ti yācamānassa evaṁ na sampaṭicchi.
Idampi chaṭṭhaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so jālissa kumārassa ‘pāsāṇasamaṁ nūna te, tāta, hadayaṁ, yaṁ tvaṁ amhākaṁ dukkhitānaṁ pekkhamāno nimmanussake brahāraññe yakkhena nīyamāne na nivāresī’ti vilapamānassa kāruññaṁ nākāsi.
Idampi sattamaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ tassa ruḷaruḷassa bhīmabhīmassa nīte dārake adassanaṁ gamite na phali hadayaṁ satadhā vā sahassadhā vā, puññakāmena manujena kiṁ paradukkhāpanena, nanu nāma sakadānaṁ dātabbaṁ hotī”ti?
“Dukkarassa, mahārāja, katattā bodhisattassa kittisaddo dasasahassiyā lokadhātuyā sadevamanussesu abbhuggato, devā devabhavane pakittenti, asurā asurabhavane pakittenti, garuḷā garuḷabhavane pakittenti, nāgā nāgabhavane pakittenti, yakkhā yakkhabhavane pakittenti, anupubbena tassa kittisaddo paramparāya ajjetarahi idha amhākaṁ samayaṁ anuppatto, taṁ mayaṁ dānaṁ pakittentā vikopentā nisinnā sudinnaṁ, udāhu duddinnanti.
So kho panāyaṁ, mahārāja, kittisaddo nipuṇānaṁ viññūnaṁ vidūnaṁ vibhāvīnaṁ bodhisattānaṁ dasa guṇe anudassati.
Katame dasa?
Agedhatā nirālayatā cāgo pahānaṁ apunarāvattitā sukhumatā mahantatā duranubodhatā dullabhatā asadisatā buddhadhammassa, so kho panāyaṁ, mahārāja, kittisaddo nipuṇānaṁ viññūnaṁ vidūnaṁ vibhāvīnaṁ bodhisattānaṁ ime dasa guṇe anudassatī”ti.
“Bhante nāgasena, yo paraṁ dukkhāpetvā dānaṁ deti, api nu taṁ dānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikan”ti?
“Āma, mahārāja, kiṁ vattabban”ti.
“Iṅgha, bhante nāgasena, kāraṇaṁ upadassehī”ti.
“Idha, mahārāja, koci samaṇo vā brāhmaṇo vā sīlavā hoti kalyāṇadhammo, so bhaveyya pakkhahato vā pīṭhasappī vā aññataraṁ vā byādhiṁ āpanno, tamenaṁ yo koci puññakāmo yānaṁ āropetvā patthitaṁ desamanupāpeyya, api nu kho, mahārāja, tassa purisassa tatonidānaṁ kiñci sukhaṁ nibbatteyya saggasaṁvattanikaṁ taṁ kamman”ti?
“Āma, bhante, kiṁ vattabbaṁ?
Hatthiyānaṁ vā so, bhante, puriso labheyya assayānaṁ vā rathayānaṁ vā, thale thalayānaṁ jale jalayānaṁ devesu devayānaṁ manussesu manussayānaṁ, tadanucchavikaṁ tadanulomikaṁ bhave bhave nibbatteyya, tadanucchavikāni tadanulomikāni cassa sukhāni nibbatteyyuṁ, sugatito sugatiṁ gaccheyya, teneva kammābhisandena iddhiyānaṁ abhiruyha patthitaṁ nibbānanagaraṁ pāpuṇeyyā”ti.
“Tena hi, mahārāja, paradukkhāpanena dinnadānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikaṁ, yaṁ so puriso balībadde dukkhāpetvā evarūpaṁ sukhaṁ anubhavati.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yathā paradukkhāpanena dinnadānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikaṁ.
Idha, mahārāja, yo koci rājā janapadato dhammikaṁ baliṁ uddharāpetvā āṇāpavattanena dānaṁ dadeyya, api nu kho so, mahārāja, rājā tatonidānaṁ kiñci sukhaṁ anubhaveyya saggasaṁvattanikaṁ taṁ dānan”ti?
“Āma, bhante, kiṁ vattabbaṁ, tatonidānaṁ so, bhante, rājā uttariṁ anekasatasahassaguṇaṁ labheyya.
Rājūnaṁ atirājā bhaveyya, devānaṁ atidevo bhaveyya, brahmānaṁ atibrahmā bhaveyya, samaṇānaṁ atisamaṇo bhaveyya, brāhmaṇānaṁ atibrāhmaṇo bhaveyya, arahantānaṁ atiarahā bhaveyyā”ti.
“Tena hi, mahārāja, paradukkhāpanena dinnadānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikaṁ, yaṁ so rājā balinā janaṁ pīḷetvā dinnadānena evarūpaṁ uttariṁ yasasukhaṁ anubhavatī”ti.
“Atidānaṁ, bhante nāgasena, vessantarena raññā dinnaṁ, yaṁ so sakaṁ bhariyaṁ parassa bhariyatthāya adāsi, sake orase putte brāhmaṇassa dāsatthāya adāsi, atidānaṁ nāma, bhante nāgasena, loke vidūhi ninditaṁ garahitaṁ, yathā nāma, bhante nāgasena, atibhārena sakaṭassa akkho bhijjati, atibhārena nāvā osīdati, atibhuttena bhojanaṁ visamaṁ pariṇamati, ativassena dhaññaṁ vinassati, atidānena bhogakkhayaṁ upeti, atitāpena pathavī upaḍayhati, atirāgena ummattako hoti, atidosena vajjho hoti, atimohena anayaṁ āpajjati, atilobhena coraggahaṇamupagacchati, atibhayena nirujjhati, atipūrena nadī uttarati, ativātena asani patati, atiagginā odanaṁ uttarati, atisañcaraṇena na ciraṁ jīvati.
Evameva kho, bhante nāgasena, atidānaṁ nāma loke vidūhi ninditaṁ garahitaṁ, atidānaṁ, bhante nāgasena, vessantarena raññā dinnaṁ, na tattha kiñci phalaṁ icchitabban”ti.
“Atidānaṁ, mahārāja, loke vidūhi vaṇṇitaṁ thutaṁ pasatthaṁ, ye keci yādisaṁ kīdisaṁ dānaṁ denti, atidānadāyī loke kittiṁ pāpuṇāti.
Yathā, mahārāja, atipavaratāya dibbaṁ vanamūlaṁ gahitampi hatthapāse ṭhitānaṁ parajanānaṁ na dassayati, agado atijaccatāya pīḷāya samugghātako rogānaṁ antakaro, aggi atijotitāya ḍahati, udakaṁ atisītatāya nibbāpeti, padumaṁ parisuddhatāya na upalimpati vārikaddamena, maṇi atiguṇatāya kāmadado, vajiraṁ atitikhiṇatāya vijjhati maṇimuttāphalikaṁ, pathavī atimahantatāya naroragamigapakkhijalaselapabbatadume dhāreti, samuddo atimahantatāya aparipūraṇo, sineru atibhāratāya acalo, ākāso ativitthāratāya ananto, sūriyo atippabhatāya timiraṁ ghāteti, sīho atijātitāya vigatabhayo, mallo atibalavatāya paṭimallaṁ khippaṁ ukkhipati, rājā atipuññatāya adhipati, bhikkhu atisīlavantatāya nāgayakkhanaramarūhi namassanīyo, buddho atiaggatāya anupamo.
Evameva kho, mahārāja, atidānaṁ nāma loke vidūhi vaṇṇitaṁ thutaṁ pasatthaṁ, ye keci yādisaṁ kīdisaṁ dānaṁ denti, atidānadāyī loke kittiṁ pāpuṇāti, atidānena vessantaro rājā dasasahassiyā lokadhātuyā vaṇṇito thuto pasattho mahito kittito, teneva atidānena vessantaro rājā ajjetarahi buddho jāto aggo sadevake loke.
Atthi pana, mahārāja, loke ṭhapanīyaṁ dānaṁ, yaṁ dakkhiṇeyye anuppatte na dātabban”ti?
“Dasa kho panimāni, bhante nāgasena, dānāni, yāni loke adānasammatāni, yo tāni dānāni deti, so apāyagāmī hoti.
Katamāni dasa?
Majjadānaṁ, bhante nāgasena, loke adānasammataṁ, yo taṁ dānaṁ deti, so apāyagāmī hoti.
Samajjadānaṁ …pe…
itthidānaṁ …
usabhadānaṁ …
cittakammadānaṁ …
satthadānaṁ …
visadānaṁ …
saṅkhalikadānaṁ …
kukkuṭasūkaradānaṁ …
tulākūṭamānakūṭadānaṁ, bhante nāgasena, loke adānasammataṁ hoti, yo taṁ dānaṁ deti, so apāyagāmī hoti.
Imāni kho, bhante nāgasena, dasa dānāni loke adānasammatāni, yo tāni dānāni deti, so apāyagāmī hotī”ti.
“Nāhaṁ taṁ, mahārāja, adānasammataṁ pucchāmi, imaṁ khvāhaṁ, mahārāja, taṁ pucchāmi ‘atthi pana, mahārāja, loke ṭhapanīyaṁ dānaṁ, yaṁ dakkhiṇeyye anuppatte na dātabban’”ti.
“Natthi, bhante nāgasena, loke ṭhapanīyaṁ dānaṁ.
Yaṁ dakkhiṇeyye anuppatte na dātabbaṁ, cittappasāde uppanne keci dakkhiṇeyyānaṁ bhojanaṁ denti, keci acchādanaṁ, keci sayanaṁ, keci āvasathaṁ, keci attharaṇapāvuraṇaṁ, keci dāsidāsaṁ, keci khettavatthuṁ, keci dvipadacatuppadaṁ, keci sataṁ sahassaṁ satasahassaṁ, keci mahārajjaṁ, keci jīvitampi dentī”ti.
“Yadi pana, mahārāja, keci jīvitampi denti, kiṁ kāraṇā vessantaraṁ dānapatiṁ atibāḷhaṁ paripātesi sudinne putte ca dāre ca?
Api nu kho, mahārāja, atthi lokapakati lokāciṇṇaṁ, labhati pitā puttaṁ iṇaṭṭo vā ājīvikapakato vā āvapituṁ vā vikkiṇituṁ vā”ti?
“Āma, bhante, labhati pitā puttaṁ iṇaṭṭo vā ājīvikapakato vā āvapituṁ vā vikkiṇituṁ vā”ti.
“Yadi, mahārāja, labhati pitā puttaṁ iṇaṭṭo vā ājīvikapakato vā āvapituṁ vā vikkiṇituṁ vā, vessantaropi, mahārāja, rājā alabhamāno sabbaññutañāṇaṁ upadduto dukkhito tassa dhammadhanassa paṭilābhāya puttadāraṁ āvapesi ca vikkiṇi ca.
Iti, mahārāja, vessantarena raññā aññesaṁ dinnaṁyeva dinnaṁ, kataṁyeva kataṁ.
Kissa pana tvaṁ, mahārāja, tena dānena vessantaraṁ dānapatiṁ atibāḷhaṁ apasādesī”ti?
“Nāhaṁ, bhante nāgasena, vessantarassa dānapatino dānaṁ garahāmi, api ca puttadāraṁ yācante niminitvā attānaṁ dātabban”ti.
“Etaṁ kho, mahārāja, asabbhikāraṇaṁ, yaṁ puttadāraṁ yācante attānaṁ dadeyya, yaṁ yaṁ hi yācante taṁ tadeva dātabbaṁ, etaṁ sappurisānaṁ kammaṁ.
Yathā, mahārāja, koci puriso pānīyaṁ āharāpeyya, tassa yo bhojanaṁ dadeyya, api nu so, mahārāja, puriso tassa kiccakārī assā”ti?
“Na hi, bhante, yaṁ so āharāpeti, tameva tassa dento kiccakārī assā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā brāhmaṇe puttadāraṁ yācante puttadāraṁ yeva adāsi.
Sace, mahārāja, brāhmaṇo vessantarassa sarīraṁ yāceyya, na so, mahārāja, attānaṁ rakkheyya na kampeyya na rajjeyya, tassa dinnaṁ pariccattaṁyeva sarīraṁ bhaveyya.
Sace, mahārāja, koci vessantaraṁ dānapatiṁ upagantvā yāceyya ‘dāsattaṁ me upehī’ti, dinnaṁ pariccattaṁyevassa sarīraṁ bhaveyya, na so datvā tapeyya, rañño, mahārāja, vessantarassa kāyo bahusādhāraṇo.
Yathā, mahārāja, pakkā maṁsapesi bahusādhāraṇā;
evameva kho, mahārāja, rañño vessantarassa kāyo bahusādhāraṇo.
Yathā vā pana, mahārāja, phalito rukkho nānādijagaṇasādhāraṇo;
evameva kho, mahārāja, rañño vessantarassa kāyo bahusādhāraṇo.
Kiṁ kāraṇā?
‘Evāhaṁ paṭipajjanto sammāsambodhiṁ pāpuṇissāmī’ti.
Yathā, mahārāja, puriso adhano dhanatthiko dhanapariyesanaṁ caramāno ajapathaṁ saṅkupathaṁ vettapathaṁ gacchati, jalathalavāṇijjaṁ karoti, kāyena vācāya manasā dhanaṁ ārādheti, dhanappaṭilābhāya vāyamati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro dānapati adhano buddhadhanena sabbaññutañāṇaratanappaṭilābhāya yācakānaṁ dhanadhaññaṁ dāsidāsaṁ yānavāhanaṁ sakalasāpateyyaṁ sakaṁ puttadāraṁ attānañca cajitvā sammāsambodhiṁyeva pariyesati.
Yathā vā pana, mahārāja, amacco muddakāmo muddādhikaraṇaṁ yaṁ kiñci gehe dhanadhaññaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ, taṁ sabbaṁ datvāpi muddappaṭilābhāya vāyamati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro dānapati sabbaṁ taṁ bāhirabbhantaradhanaṁ datvā jīvitampi paresaṁ datvā sammāsambodhiṁyeva pariyesati.
Api ca, mahārāja, vessantarassa dānapatino evaṁ ahosi ‘yaṁ so brāhmaṇo yācati, tamevāhaṁ tassa dento kiccakārī nāma homī’ti, evaṁ so tassa puttadāramadāsi.
Na kho, mahārāja, vessantaro dānapati dessatāya brāhmaṇassa puttadāramadāsi, na adassanakāmatāya puttadāramadāsi, na atibahukā me puttadārā, ‘na sakkomi te posetun’ti puttadāramadāsi, na ukkaṇṭhito ‘appiyā me’ti nīharitukāmatāya puttadāramadāsi.
Atha kho sabbaññutañāṇaratanasseva piyattā sabbaññutañāṇassa kāraṇā vessantaro rājā evarūpaṁ atulaṁ vipulamanuttaraṁ piyaṁ manāpaṁ dayitaṁ pāṇasamaṁ puttadāradānavaraṁ brāhmaṇassa adāsi.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena cariyāpiṭake—
‘Na me dessā ubho puttā,
maddī devī na dessiyā;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā piye adāsahan’ti.
Tasmā, mahārāja, vessantaro rājā puttadānaṁ datvā paṇṇasālaṁ pavisitvā nipajji.
Tassa atipemena dukkhitassa balavasoko uppajji, hadayavatthu uṇhamahosi.
Nāsikāya appahontiyā mukhena uṇhe assāsapassāse vissajjesi, assūni parivattitvā lohitabindūni hutvā nettehi nikkhamiṁsu.
Evameva kho, mahārāja, dukkhena vessantaro rājā brāhmaṇassa puttadāramadāsi ‘mā me dānapatho parihāyī’ti.
Api ca, mahārāja, vessantaro rājā dve atthavase paṭicca brāhmaṇassa dve dārake adāsi.
Katame dve?
Dānapatho ca me aparihīno bhavissati, dukkhite ca me puttake vanamūlaphalehi itonidānaṁ ayyako mocessatīti.
Jānāti hi, mahārāja, vessantaro rājā ‘na me dārakā sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ, ime ca dārake ayyako nikkiṇissati, evaṁ amhākampi gamanaṁ bhavissatī’ti.
Ime kho, mahārāja, dve atthavase paṭicca brāhmaṇassa dve dārake adāsi.
Api ca, mahārāja, vessantaro rājā jānāti ‘ayaṁ kho brāhmaṇo jiṇṇo vuḍḍho mahallako dubbalo bhaggo daṇḍaparāyaṇo khīṇāyuko parittapuñño, neso samattho ime dārake dāsabhogena bhuñjitun’ti.
Sakkuṇeyya pana, mahārāja, puriso pākatikena balena ime candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve gahetvā peḷāya vā samugge vā pakkhipitvā nippabhe katvā thālakaparibhogena paribhuñjitun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, imasmiṁ loke candimasūriyappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjitunti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, rañño cakkavattissa maṇiratanaṁ subhaṁ jātimantaṁ aṭṭhaṁsaṁ suparikammakataṁ catuhatthāyāmaṁ sakaṭanābhipariṇāhaṁ na sakkā kenaci pilotikāya veṭhetvā peḷāya pakkhipitvā satthakanisānaparibhogena paribhuñjituṁ;
evameva kho, mahārāja, loke cakkavattirañño maṇiratanappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, tidhā pabhinno sabbaseto sattappatiṭṭhito aṭṭharatanubbedho navaratanāyāmapariṇāho pāsādiko dassanīyo uposatho nāgarājā na sakkā kenaci suppena vā sarāvena vā pidahituṁ, govacchako viya vacchakasālāya pakkhipitvā pariharituṁ vā;
evameva kho, mahārāja, loke uposathanāgarājappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, mahāsamuddo dīghaputhulavitthiṇṇo gambhīro appameyyo duruttaro apariyogāḷho anāvaṭo na sakkā kenaci sabbattha pidahitvā ekatitthena paribhogaṁ kātuṁ;
evameva kho, mahārāja, loke mahāsamuddappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, himavanto pabbatarājā pañcayojanasataṁ accuggato nabhe tisahassayojanāyāmavitthāro caturāsītikūṭasahassappaṭimaṇḍito pañcannaṁ mahānadīsatānaṁ pabhavo mahābhūtagaṇālayo nānāvidhagandhadharo dibbosadhasatasamalaṅkato nabhe valāhako viya accuggato dissati;
evameva kho, mahārāja, loke himavantapabbatarājappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, rattandhakāratimisāyaṁ uparipabbatagge jalamāno mahāaggikkhandho suvidūrepi paññāyati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā pabbatagge jalamāno mahāaggikkhandho viya suvidūrepi pākaṭo paññāyati, tassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, himavante pabbate nāgapupphasamaye ujuvāte vāyante dasa dvādasa yojanāni pupphagandho vāyati;
evameva kho, mahārāja, vessantarassa rañño api yojanasahassehipi yāva akaniṭṭhabhavanaṁ etthantare surāsuragaruḷagandhabbayakkharakkhasamahoragakinnaraindabhavanesu kittisaddo abbhuggato, sīlavaragandho cassa sampavāyati, tena tassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Anusiṭṭho, mahārāja, jālī kumāro pitarā vessantarena raññā ‘ayyako te, tāta, tumhe brāhmaṇassa dhanaṁ datvā nikkiṇanto taṁ nikkhasahassaṁ datvā nikkiṇātu, kaṇhājinaṁ nikkiṇanto dāsasataṁ dāsisataṁ hatthisataṁ assasataṁ dhenusataṁ usabhasataṁ nikkhasatanti sabbasataṁ datvā nikkiṇātu, yadi te, tāta, ayyako tumhe brāhmaṇassa hatthato āṇāya balasā mudhā gaṇhāti, mā tumhe ayyakassa vacanaṁ karittha, brāhmaṇasseva anuyāyino hothā’ti, evamanusāsitvā putte pesesi, tato jālīkumāro gantvā ayyakena puṭṭho kathesi—
‘Sahassagghañhi maṁ tāta,
brāhmaṇassa pitā adā;
Atho kaṇhājinaṁ kaññaṁ,
hatthīnañca satena cā’”ti.
“Sunibbeṭhito, bhante nāgasena, pañho;
subhinnaṁ diṭṭhijālaṁ;
sumaddito paravādo;
sakasamayo sudīpito;
byañjanaṁ suparisodhitaṁ;
suvibhatto attho;
evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Vessantarapañho paṭhamo.
PTS vp En 114 PTS cs 1 ‘Venerable Nāgasena, do all the Bodisats give away their wives and children, or was it only Vessantara the king who did so?’
‘All of them do so, not Vessantara only.’
PTS vp Pali 275 ‘Do they then give them away with their own consent?’
‘The wife, O king, was a consenting party. But the children, by reason of their tender age, lamented. Had they thoroughly understood, they too would have approved.’
‘A hard thing, Nāgasena, was it that the Bodisat carried out, in that he gave away his own children, his only ones, dearly beloved, into slavery to the Brahman. And this second action was harder still, that he bound his own children, his only ones, and dearly beloved, young and tender though they were, with the jungle rope, and then, when he saw them being dragged along by the Brahman—their hands PTS vp En 115 bruised by the creeper—yet could look on at the sight. And this third action was even harder still, that when his boy ran back to him, after loosing the bonds by his own exertion, then he bound him again with the jungle rope and again gave him away. And this fourth action was even harder still, that when the children, weeping, cried: “Father dear, this ogre is leading us away to eat us!” he should have appeased them by saying: “Don’t be afraid.” And this fifth action was even harder still, that when the prince, Jāli, fell weeping at his feet, and besought him, saying: “Be satisfied, father dear, only keep Kaṇhāginā (his little sister). I will go away with the ogre. Let him eat me!"—that even then he would not yield. And this sixth action was even harder still, that when the boy Jāli, lamenting, exclaimed: “Have you a heart of stone then, father, that you can look upon us, miserable, being led away by the ogre into the dense and haunted jungle, and not call us back?"—that he still had no pity. And this seventh action was even harder still, that when his children were thus led away to nameless horrors until they passed gradually to their bitter fate, out of sight—that then his heart did not break, utterly break! What, pray, has the man who seeks to gain merit to do with bringing sorrow on others! Should he not rather give himself away?’
PTS cs 2 ‘It is because what he did, O king, was so PTS vp En 116 difficult, that the sound of the fame of the Bodisat was spread abroad among gods and men through the ten thousand world systems—PTS vp Pali 276 that the gods exalt him in heaven; and the Titans in the Titan-world, and the Garudas in their abodes, and the Nāgas in the Nāga-world, and the Yakshas where they dwell—that through the ages the reputation of this his glory has been handed down by successive tradition—till now, to-day, it has reached to this meeting of ours, at which we sitting are, forsooth, disparaging and casting a slur on that gift, debating whether it were well given or ill! But that high praise, O king, shows forth the ten great qualities of the intelligent, and wise, and able, and subtle-minded Bodisats. And what are the ten? Freedom from greed, the not clinging (to any worldly aim), self-sacrifice, renunciation, the never turning back again (to the lower state), the equal delicacy and greatness, the incomprehensibility, the rarity, and the peerlessness of Buddhahood. In all these respects is it that the fame of that giving shows forth the great qualities of the Bodisats.’
PTS cs 3 ‘What, venerable Nāgasena? he who gives gifts in such a way as to bring sorrow upon others—does that giving of his bring forth fruit in happiness, does it lead to rebirth in states of bliss?’
‘Yes, O king. What can be said (to the contrary)?’
‘I pray you, Nāgasena, give me a reason for this.’
‘Suppose, O king, there were some virtuous Samaṇa or Brahman, of high character, and he were PTS vp En 117 paralysed, or a cripple, or suffering from some disease or other, and some man desirous of merit were to have him put into a carriage, and taken to the place he wished to go to. Would happiness accrue to that man by reason thereof, would that be an act leading to rebirth in states of bliss?’
‘Yes, Sir. What can be said (to the contrary)? That man would thereby acquire a trained elephant, or a riding-horse, or a bullock-carriage, on land a land-vehicle and on water a water-vehicle, in heaven a vehicle of the gods and on earth one that men could use—from birth to birth there would accrue to him that which in each would be appropriate and fit—and joys appropriate would come to him, and he would pass from state to state of bliss, and by the efficacy of that act mounting on the vehicle of Iddhi he would arrive at the longed-for goal, the city of Nirvāṇa itself.’
‘But then, O king, a gift given in such a way as to bring sorrow upon others does bring forth fruit in happiness, does lead to rebirth in states of bliss PTS vp Pali 277 —inasmuch as that man by putting the cart-bullocks to pain would attain such bliss.
PTS cs 4 ‘And hear another reason, O king, for the same thing. Suppose some monarch were to raise from his subjects a righteous tax, and then by the issue of a command were to bestow thereout a gift, would that monarch, O king, enjoy any happiness on that account, would that be a gift leading to rebirth in states of bliss PTS vp En 118
‘Certainly, Sir. What can be said against it? On that account the monarch would receive a hundred thousandfold, he might become a king of kings, a god above the gods, or Brahmā lord of the Brahmā gods, or a chief among the Samanas, or a leader of the Brahmans, or the most excellent among the Arahats.’
‘Then, O king, a gift given in such a way as to bring sorrow upon others does bring forth fruit in happiness, does lead to rebirth in states of bliss—inasmuch as that monarch by giving as a gift what was gained by harassing his people with taxation would enjoy such exceeding fame and glory.’
PTS cs 5 ‘But, venerable Nāgasena, what was given by Vessantara the king was an excessive gift; in that he gave his own wife as wife to another man, and his own children, his only ones, into slavery to a Brahman. And excessive giving is by the wise in the world held worthy of censure and of blame. Just, Nāgasena, as under too much weight the axle-tree of a cart would break, or a ship would sink, as his food would disagree with him who ate too much, or the crops would be ruined by too heavy rain, or bankruptcy would follow too lavish generosity, or fever would come from too much heat, or a man would go mad from excessive lust, or become guilty of an offence through excessive anger, or fall into sin through excessive stupidity, or into the power of robbers through too much avarice, or be ruined by needless fear, or as a river would overflow through excessive inflow, or a thunderbolt fall through too much wind, or porridge boil over through too hot a fire, or a man who wandered PTS vp En 119 about too much would not live long-just, so, Nāgasena, is excessive giving held by the wise in the world as worthy of censure and of blame. And as king Vessantara’s gift was excessive PTS vp Pali 278 no good result could be expected from it.’
PTS cs 6 ‘Giving exceedingly, O king, is praised, applauded, and approved by the wise in the world; and they who give away anything as a gift just as it may occur to them, acquire fame in the world as very generous givers. Just, O king, as when a man has taken hold of a wild root which by its extraordinary virtues is divine, that moment he becomes invisible even to those standing within arm’s length—just as a medicinal herb by the exceeding power of its nature will utterly kill pain, and put an end to disease—just as fire burns by its exceeding heat, and water puts that fire out by its exceeding cold—just as by its exceeding purity a lotus remains undefiled by water or by mud—just as a (magic) gem by the extraordinary virtue inherent in it procures the granting of every wish—just as lightning by its marvellous quick sharpness cleaves asunder even the diamonds, pearls, and crystals—just as the earth by its exceeding size can support men, and snakes, and wild beasts, and birds, and the waters, PTS vp En 120 and rocks, and hills, and trees—just as the ocean by its exceeding greatness can never be quite filled—just as Sineru by its mighty weight remains immoveable, and space by the greatness of its wide extent is infinite, and the sun by its mighty glory dissipates the darkness—just as the lion in the greatness of its lineage is free from fear—just as a wrestler in the greatness of his might easily lifts up his foe-just as a king by the excellence of his justice becomes overlord, and a Bhikkhu by reason of his very righteousness becomes an object of reverence to Nāgas, and Yakshas, and men, and Māras—just as a Buddha by the excellence of his supremacy is peerless—just so, O king, is exceeding generosity praised, applauded, and approved by the wise in the world; and they who give away anything as a gift, just as it may occur to them, acquire in the world the fame of being nobly generous. And by his mighty giving Vessantara the king, O king, was praised, and lauded, and exalted, and magnified, and famous throughout the ten thousand world systems, and by reason, too, of that mighty giving is it that he, the king Vessantara, has, now in our days, become the Buddha, the chief of gods and men.
PTS cs 7 ‘And now, O king, tell me—is there anything in the world which should be withheld as a gift, and not bestowed, when one worthy of a gift, one to whom it is one’s duty to give, is there?’ PTS vp En 121
‘There are ten sorts of gifts, Nāgasena, in the world that are commonly disapproved of as gifts. And what are the ten? Strong drink, Nāgasena, and festivals in high places, and women, and buffaloes, and suggestive PTS vp Pali 279 paintings, and weapons, and poison, and chains, and fowls, and swine, and false weights and measures. All these, Nāgasena, are disapproved of in the world as gifts, and those who give such presents become liable to rebirth in states of woe.’
‘I did not ask you, O king, what kinds of gifts are not approved of. But this, O king, I asked: “Is there anything in the world which ought to be withheld, and not bestowed as a gift, if one worthy of a gift were present?”’
‘No, Sir. When faith arises in their hearts some give food to those worthy of gifts, and some give clothes, and some give bedding, and some give dwellings, and some give mats or robes, and some give slave girls or slaves, and some give fields or premises, and some give bipeds or quadrupeds, and PTS vp En 122 some give a hundred or a thousand or a hundred thousand, and some give the kingdom itself, and some give away even their own life.’
‘But then, O king, if some give away even their own lives, why do you so violently attack Vessantara, that king of givers, for the virtuous bestowal of his child and wife? Is there not a general practice in the world, an acknowledged custom, according to which it is allowable for a father who has fallen into debt, or lost his livelihood, to deposit his son in pledge, or sell him?’
‘Yes, that is so.’
‘Well, in accordance therewith was it that Vessantara, O king, in suffering and distress at not having obtained the insight of the Omniscient Ones, pledged and sold his wife and children for that spiritual treasure. So that he gave away what other people had given away, he did what other people had done. Why then do you, O king, so violently attack him, the king of givers?’ PTS vp En 123
PTS cs 8 ‘Venerable Nāgasena, I don’t blame him for giving, but for not having made a barter with the beggar, and given away himself rather, instead of his wife and children.’
PTS vp Pali 280 ‘That, O king, would be an act of a wrong doer, to give himself when he was asked for his wife and children. For the thing asked for, whatever it is, is that which ought to be given. And such is the practice of the good. Suppose, O king, a man were to ask that water should be brought, would any one who then brought him food have done what he wanted?’
‘No, Sir. The man who should have given what he first asked to be brought would have done what he wanted.’
‘Just so, O king, when the Brahman asked Vessantara the king for his wife and children, it was his wife and children that he gave. If the Brahman, O king, had asked for Vessantara’s body, then would Vessantara have not saved his body, he would neither have trembled nor been stained (by the love of self), but would have given away and abandoned his own body. If, O king, any one had come up to Vessantara the king, and asked of him, saying: “Become my slave,” then would he have given away and abandoned his own self, and in so giving would he have felt no pain.
PTS cs 9 ‘Now the life of king Vessantara, O king, was a good thing shared in by many—just as meats when cooked are shared in by many, or as a tree covered with fruit is shared in by many flocks of PTS vp En 124 birds. And why so? Because he had said to himself: “Thus acting may I attain to Buddhahood.” As a man in need, O king, who is wandering about in his search after wealth, will have to pass along goat-tracks, and through jungles full of stakes and sticks, and doing merchandise by sea and land, will devote his actions, words, and thoughts to the attainment of wealth—just so, O king, did Vessantara, the king of givers, who was longing for the treasure of Buddhahood, for the attainment of the insight of the Omniscient Ones, by offering up to anyone who begged of him his property and his corn, his slave girls and his slaves, his riding animals and carriages, all that he possessed, his wife and children and himself, seek after the Supreme Enlightenment. Just, O king, as an official who is anxious for the seal, and for the office of the custody thereof PTS vp Pali 281 , will exert himself to the attainment of the seal by sacrificing everything in his house—property and corn, gold and silver, everything—just so, O king, did Vessantara, the king of givers, by giving away all that he had, inside his house and out, by giving even his life for others, seek after the Supreme Enlightenment.
PTS cs 10 ‘And further, O king, Vessantara, the king of givers, thought thus: “It is by giving to him precisely what he asks for, that I shall be of service PTS vp En 125 to the Brahman:” and therefore did he bestow upon him his wife and children. It was not, O king, out of dislike to them that he gave them away, not because he did not care to see them more, not because he considered them an encumbrance or thought he could no longer support them, not (in annoyance) with the wish of being relieved of what was not pleasant to him—but because the jewel treasure of omniscience was dear to him, for the sake of the insight of the Omniscient Ones, did he bestow that glorious gift—immeasurable, magnificent, unsurpassed—of what was near and dear to him, greatly beloved, cherished as his own life, his own children and his wife! For it has been said, O king, by the Blessed One, the god of gods, in the cariyā Piṭaka:
“’Twas not through hatred of my children sweet,
’Twas not through hatred of my queen, Maddī,
Thraller of hearts —not that I loved them less—
But Buddhahood more, that I renounced them all.” PTS vp En 126
‘Now at that time, O king, Vessantara, when he had given away his wife and children, entered the leaf hut, and sat down there. And heavy grief fell upon him distressed by his exceeding love for them, and his very heart became hot, and hot breath, too much to find its way through the nose, came and went through his mouth, and tears rolled in drops of blood from his eyes. Such was the grief, O king, with which Vessantara gave to the Brahman his wife and children in the thought that his practice of giving should not be broken in upon. But there were two reasons, O king, why he thus gave them away. What are those two? That his practice of giving should not be interrupted was one; the other was that as a result of his so doing his children, distressed by living with him only on wild roots and fruits, should eventually be set free by their new master. PTS vp Pali 282 For Vessantara knew, O king: “No one is capable of keeping my children as slaves. Their grandfather will ransom the children, and so they will come back to me.” These are the two reasons why he gave his children away to the Brahman.
PTS cs 12 ‘And further, O king, Vessantara knew:
“This Brahman is worn out, aged, well stricken in years, weak and broken, leaning on a stick, he has drawn near the end of his days, his merit is small, he will not be capable of keeping my children as PTS vp En 127 slaves.” Would a man be able, O king, by his ordinary power, to seize the moon and the sun, PTS vp En 128 mighty and powerful as they are, keeping them in a basket or a box, to use them, deprived of their light, as plates?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Neither, O king, could any one whatever keep in use, as his slaves, the children of Vessantara, who were to the world like the moon and the sun in glory.
PTS cs 13 ‘And hear another reason, O king, for the same thing. That wondrous gem, O king of a sovran overlord, bright and beautiful, with its eight facets so well cut, four cubits in thickness, and in circumference as the nave of a cart-wheel, could no man, wrapping it up in a cloth and putting it into a basket, keep and use as a hone to grind his scissors upon. And neither, O king, could any one soever keep in use, as his slaves, the children of Vessantara, like to the jewels of the lord of the world in glory.
PTS cs 14 ‘And hear, O king, another reason. just as the elephant king Uposatha, gentle and handsome, eight cubits in height and nine in girth and length, showing the signs of rut in three places on his body, all white, sevenfold firm, could never by any one PTS vp En 129 be covered up with a saucer or a winnowing fan, could never be put into a cowpen like a calf, or made use of as one PTS vp Pali 283 ; just so could no one whatever keep in use, as his slaves, the children of Vessantara, who were, in the world, like Uposatha the elephant king.
PTS cs 15 ‘And hear, O king, another reason. Just, O king, as the mighty ocean is great in length and breadth, and deep, not to be measured, and hard to cross, impossible to fathom or to cover up, and no one could close it in and make use of it as a single ferry, just so could no one whatever keep in use, as his slaves, the children of Vessantara, as esteemed in the world as the mighty ocean.
PTS cs 16 ‘And hear another reason, O king. Just as the Himālaya, the king of the mountains, five leagues high, and three thousand leagues in extent at the circumference, with its ranges of eight and forty thousand peaks, the source of five hundred rivers, the dwelling-place of multitudes of mighty—creatures, the producer of manifold perfumes, enriched with hundreds of magical drugs, is seen to rise aloft, like a cloud, in the centre (of the earth); like it, O king, could no one whatever keep in use, as his slaves, the children of Vessantara, as esteemed in the world as Himālaya, the mountain king.
‘And hear another reason, O king. Just as a PTS vp En 130 mighty bonfire burning on a mountain top would be visible afar off in the darkness and the gloom of night, so was Vessantara the king well known among men, and therefore could no one whatever keep in use, as his slaves, the children of so distinguished a man—for just as at the time of the flowering of the Nāga trees in the Himālaya mountains, when the soft winds (of spring) are blowing, the perfume of the flowers is wafted for ten leagues, or for twelve PTS vp Pali 284 , so was the sound of the fame of king Vessantara noised abroad, and the sweet perfume of his righteousness wafted along for thousands of leagues, even up to the abodes of the Akaniṭṭha, (the highest of all) gods, passing on its way the dwelling places of the gods and Asuras, of the Garudas and Gandhabbas, of the Yakshas and Rākshasas, of the Mahoragas and Kinnaras, and of Indra the monarch of the gods! Therefore is it that no one could keep his children as slaves. PTS vp En 131
PTS cs 17 ‘And the young prince Jāli, O king, was instructed by his father, Vessantara, in these words: “When your grandfather, my child, shall ransom you with wealth that he gives to the Brahman, let him buy you back for a thousand ounces of gold, and when he ransoms your sister Kaṇhājinā let him buy her back for a hundred slaves and a hundred slave girls and a hundred elephants and a hundred horses and a hundred cows and a hundred buffaloes and a hundred ounces of gold. And if, my child, your grandfather should take you out of the hands of the Brahman by word of command, or by force, paying nothing, then obey not the words of your grandfather, but remain still in subjection to the Brahman.” Such was his instruction as he sent him away. And young Jāli went accordingly, and when asked by his grandfather, said:
“As worth a thousand ounces, Sir,
My father gave me to this man;
As worth a hundred elephants,
He gave the girl Kaṇhājinā.”’
‘Well has this puzzle, Nāgasena, been unravelled, well has the net of heresy been torn to pieces, well has the argument of the adversaries been overcome and your own doctrine been made evident, well has the letter (of the Scriptures) been maintained while PTS vp En 132 you have thus explained its spirit! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to Vessantara’s gift of his wife and children.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải hết thảy tất cả các đức Bồ Tát đều bố thí con và vợ, hay là chỉ riêng đức vua Vessantara đã bố thí con và vợ?”
“Tâu đại vương, tất cả các đức Bồ Tát cũng đều bố thí con và vợ, không phải chỉ riêng đức vua Vessantara đã bố thí con và vợ.”
“Thưa ngài, phải chăng các vị ấy bố thí với sự đồng ý của những người ấy?”
“Tâu đại vương, người vợ thì đồng ý. Trái lại, hai đứa bé đã than vãn do bản chất trẻ thơ. Nếu chúng có thể biết được mục đích, chúng cũng có thể tùy hỷ, chúng có thể không than vãn.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, hành động khó làm đã được làm bởi đức Bồ Tát là việc vị ấy đã bố thí những đứa con ruột thịt yêu quý của chính mình để làm nô lệ cho người Bà-la-môn.
Việc thứ nhì này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là việc vị ấy đã dửng dưng sau khi nhìn thấy người Bà-la-môn ấy trói lại những đứa con ruột thịt yêu quý dại khờ thơ ấu của chính mình bằng dây rừng và đang đánh đập bằng dây rừng.
Việc thứ ba này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là việc đứa bé trai, sau khi đã được thoát khỏi sự trói buộc nhờ vào sức mạnh bản thân, đã đi đến, bị lâm vào sự hoảng sợ, thì vị ấy đã trói bằng dây rừng rồi lại bố thí lần nữa.
Việc thứ tư này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là khi đứa bé trai đang than vãn rằng: ‘Cha ơi, gã Dạ-xoa này dẫn chúng con đi để ăn đó,’ vị ấy đã không an ủi rằng: ‘Các con chớ hãi sợ.’
Việc thứ năm này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là trong khi đứa bé trai Jāli đang khóc lóc, nằm mọp xuống ở hai bàn chân, cầu xin rằng: ‘Cha ơi, thôi đi! Hãy đưa Kaṇhājinā quay về. Chính con sẽ đi với gã Dạ-xoa. Hãy để gã Dạ-xoa ăn con đi,’ vị ấy đã không chấp nhận như thế.
Việc thứ sáu này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là trong khi đứa bé trai Jāli đang than vãn rằng: ‘Cha ơi, không lẽ trái tim của cha giống như hòn đá mất rồi, bởi vì trong khi quan sát chúng con bị đau khổ, đang bị gã Dạ-xoa dẫn đi vào trong khu rừng rộng lớn không có bóng người, mà cha không ngăn cản,’ vị ấy đã không thể hiện lòng thương xót.
Hơn nữa, việc thứ bảy này còn là hành động khó làm hơn hành động khó làm, là khi đứa trẻ bị dẫn đi đã đi ra khỏi tầm nhìn, mà trái tim của vị ấy, dầu là vô cùng hoảng hốt, vô cùng kinh hãi, đã không vỡ ra thành trăm mảnh hay ngàn mảnh. Con người mong mỏi phước thiện được cái gì với việc gây khổ đau cho kẻ khác? Không lẽ có thể đem cho thân quyến như là vật thí?”
“Tâu đại vương, do trạng thái đã làm hành động khó làm, tiếng tăm tốt đẹp của đức Bồ Tát đã được lan rộng ở mười ngàn thế giới có cả chư Thiên và nhân loại. Chư Thiên ở cõi Trời tán thán, các A-tu-la ở cõi A-tu-la tán thán, các nhân điểu ở cõi nhân điểu tán thán, các con rồng ở Long cung tán thán, các Dạ-xoa ở cõi Dạ-xoa tán thán, theo tuần tự tiếng tăm tốt đẹp của vị ấy lần lượt đã đến được cuộc hội họp của chúng ta tại đây vào lúc này hôm nay. Trong khi họ tán thán, thì chúng ta lại ngồi bôi bác việc bố thí ấy (suy nghĩ rằng): ‘Đã được bố thí tốt đẹp, hay là đã được bố thí tồi?’ Tâu đại vương, hơn nữa tiếng tăm tốt đẹp này đây phô bày mười đức tính của các vị Bồ Tát khôn khéo, tri thức, hiểu biết, rành rẽ. Mười đức tính nào? Bản chất không tham muốn, không mong cầu, buông xả, dứt bỏ, không quay trở lại, có sự tinh tế, vĩ đại, khó hiểu thấu, khó đạt được, không sánh bằng, thuộc về pháp của vị Phật. Tâu đại vương, hơn nữa tiếng tăm tốt đẹp này đây phô bày mười đức tính này của các vị Bồ Tát khôn khéo, hiểu biết, tri thức, rành rẽ.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, người nào làm cho kẻ khác khổ đau rồi đem bố thí (như là) vật thí, phải chăng sự bố thí ấy có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có điều gì cần phải nói?”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy xin ngài chỉ cho thấy lý do.”
“Tâu đại vương, ở đây có vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó là người có giới, có thiện pháp, vị ấy có thể bị liệt một bên, hoặc què quặt, hoặc mắc phải cơn bệnh nào đó. Rồi một người nào đó, mong mỏi phước báu, mới đặt người kia vào chiếc xe rồi đưa đi đến xứ sở đã được ao ước. Tâu đại vương, phải chăng do nhân ấy có thể có sự an lạc nào đó sanh khởi cho người nam ấy? Có phải việc làm ấy có thể đưa đến cõi trời?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có điều gì cần phải nói? Thưa ngài, người nam ấy có thể đạt được phương tiện di chuyển là voi, hoặc phương tiện di chuyển là ngựa, hoặc phương tiện di chuyển là xe, phương tiện di chuyển ở đất liền khi ở đất liền, phương tiện di chuyển ở biển khi ở biển, phương tiện di chuyển của chư Thiên khi ở giữa chư Thiên, phương tiện di chuyển của loài người khi ở giữa loài người, có thể sanh ra ở cõi này cõi khác thích hợp với điều ấy, phù hợp với điều ấy, và các sự an lạc thích hợp với điều ấy được sanh lên cho vị này, có thể đi đến từ chốn an vui (này) đến chốn an vui (khác), do kết quả của việc làm ấy thôi, vị ấy có thể cỡi lên phương tiện di chuyển là thần thông và đạt đến thành phố Niết Bàn đã được ao ước.”
“Tâu đại vương, như thế thì vật thí đã được bố thí cùng với việc làm kẻ khác khổ đau lại có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời, là việc người đàn ông ấy, sau khi gây khổ đau cho những con bò kéo, lại thọ hưởng sự an lạc có hình thức như thế. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa nói về vật thí đã được bố thí cùng với việc làm kẻ khác khổ đau lại có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời. Tâu đại vương, ở đây một vị vua nào đó sau khi tăng thuế má một cách hợp pháp từ nơi xứ sở, rồi do việc ban hành mệnh lệnh mà có thể ban phát tặng phẩm. Tâu đại vương, phải chăng do nhân ấy vị vua ấy có thể thọ hưởng sự an lạc nào đó? Có phải việc bố thí ấy có thể đưa đến cõi trời?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có điều gì cần phải nói? Thưa ngài, do nhân ấy vị vua ấy có thể đạt được công đức nhiều trăm ngàn lần thêm hơn nữa là có thể trở thành vị vua vượt trội các vị vua, có thể trở thành vị Trời vượt trội các vị Trời, có thể trở thành vị Phạm Thiên vượt trội các vị Phạm Thiên, có thể trở thành vị Sa-môn vượt trội các vị Sa-môn, có thể trở thành vị Bà-la-môn vượt trội các vị Bà-la-môn, có thể trở thành vị A-la-hán vượt trội các vị A-la-hán.”
“Tâu đại vương, như thế thì vật thí đã được bố thí cùng với việc làm kẻ khác khổ đau lại có quả thành tựu là sự an lạc, có thể đưa đến cõi trời, là việc vị vua ấy sau khi áp bức dân chúng bằng thuế má rồi với tặng phẩm đã được ban phát thì thọ hưởng sự an lạc về danh vọng có hình thức như thế thêm hơn nữa.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vật thí vượt trội đã được đức vua Vessantara bố thí, là việc vị ấy đã bố thí vợ của mình để làm vợ của kẻ khác, đã bố thí những đứa con ruột thịt của mình để làm nô lệ cho người Bà-la-môn. Thưa ngài Nāgasena, vật thí vượt trội đã bị lên án, đã bị chê trách bởi các bậc hiểu biết ở thế gian.
Thưa ngài Nāgasena, giống như bởi vật nặng quá tải mà cái trục của chiếc xe kéo bị gãy, vì vật nặng quá tải mà thuyền chìm, vì đã được ăn quá nhiều mà vật thực trở thành không tiêu, do mưa quá nhiều là thóc lúa bị hư hại, do sự bố thí quá nhiều mà đưa đến việc khánh tận tài sản, do quá nóng mà phát cháy, do ái luyến quá mức mà trở thành kẻ điên, do quá sân mà trở thành đáng chết, do quá si mê mà lâm cảnh bất hạnh, do quá tham mà đi đến việc bị cướp bắt giữ, do quá sợ hãi mà bị tiêu hoại, do quá đầy mà sông tràn bờ, do gió quá mức mà sét đánh, do quá lửa mà cơm trào, do việc đi lang thang quá mức mà không sống lâu. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế vật thí vượt trội đã bị lên án, đã bị chê trách bởi các bậc hiểu biết ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, vật thí vượt trội đã được đức vua Vessantara bố thí, trong trường hợp ấy không có bất cứ quả báu nào là được mong mỏi.”
BJT 5“Tâu đại vương, vật thí vượt trội đã được ngợi khen, tán dương, ca tụng bởi các bậc hiểu biết ở thế gian. Bất cứ những ai bố thí vật thí như thế này hay như thế nào, thì người bố thí vật thí vượt trội đạt được tiếng tăm ở thế gian. Tâu đại vương, giống như rễ cây rừng thuộc về cõi trời, với tính chất cao quý vượt trội, đã được nắm vào thì không bị những người khác thậm chí đứng trong tầm tay nhìn thấy; thuốc chữa bệnh với phẩm chất vượt trội là vật tiêu diệt sự đau đớn, làm chấm dứt các căn bệnh; ngọn lửa với ánh sáng vượt trội thì đốt cháy; nước với tính chất mát lạnh vượt trội thì dập tắt; hoa sen với tính chất trong sạch vượt trội thì không bị bùn nước làm lấm lem; ngọc ma-ni với đức tính vượt trội là vật ban cho điều ước; kim cương với tính chất vô cùng sắc bén thì xuyên thủng ngọc ma-ni, ngọc trai, ngọc pha-lê; trái đất với tính chất vô cùng to lớn thì nâng đỡ con người, rắn, thú rừng, chim, nước, đá, núi, cây cối; biển cả bởi tính chất vô cùng rộng lớn mà không bị đầy tràn; núi Sineru do sức nặng vượt trội mà không bị dao động; bầu trời do tính chất cực kỳ rộng lớn là vô biên; mặt trời với ánh sáng vượt trội tiêu diệt sự tăm tối; sư tử do dòng dõi vượt trội không còn sợ hãi; võ sĩ đấu vật do có sức mạnh cực kỳ quật ngã đối thủ một cách nhanh chóng; đức vua với phước báu vượt trội là vị chúa tể; vị tỳ khưu với giới hạnh vượt trội đáng được cúi chào bởi các hạng rồng, Dạ-xoa, loài người, và chư Thiên; đức Phật do tính chất cực kỳ cao cả là không kẻ tương đương.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vật thí vượt trội đã được ngợi khen, tán dương, ca tụng bởi các bậc hiểu biết ở thế gian. Bất cứ những ai bố thí vật thí như thế này hay như thế nào, thì người bố thí vật thí vượt trội đạt được tiếng tăm ở thế gian. Với sự bố thí vượt trội, đức vua Vessantara đã được ngợi khen, tán dương, ca tụng, trọng vọng, tiếng tăm ở trong mười ngàn thế giới. Chính nhờ vào sự bố thí vượt trội ấy, đức vua Vessantara giờ đây hôm nay đã được trở thành đức Phật, là bậc cao cả ở thế gian có cả chư Thiên. Tâu đại vương, phải chăng ở trên thế gian có loại vật thí là cần được đình chỉ, là không nên được bố thí cho người xứng đáng sự cúng đường, cho người đã đi đến?”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, mười sự bố thí này ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí những vật thí này, người ấy có sự đi đến địa ngục. Mười sự bố thí nào? Thưa ngài Nāgasena, sự bố thí chất say ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục. Sự bố thí hội h … (như trên) … Sự bố thí người n … (như trên) … Sự bố thí bò đự … (như trên) … Sự bố thí tranh ản … (như trên) … Sự bố thí vũ kh … (như trên) … Sự bố thí thuốc độ … (như trên) … Sự bố thí xích xiền … (như trên) … Sự bố thí gà he … (như trên) … Thưa ngài Nāgasena, sự bố thí cách gian lận về cân và cách gian lận về đo lường ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục. Thưa ngài Nāgasena, mười sự bố thí này ở thế gian không được xem là bố thí. Người nào bố thí những vật thí ấy, người ấy có sự đi đến địa ngục.”
BJT 7“Tâu đại vương, tôi không hỏi ngài về việc không được xem là bố thí. Tâu đại vương, tôi hỏi ngài về điều này. Tâu đại vương, phải chăng ở trên thế gian có loại vật thí là cần được đình chỉ, là không nên được bố thí cho người xứng đáng sự cúng đường đã đi đến?”
“Thưa ngài Nāgasena, ở trên thế gian không có loại vật thí là cần được đình chỉ, là không nên được bố thí cho người xứng đáng sự cúng đường đã đi đến. Khi sự tịnh tín của tâm được sanh khởi, một số người dâng vật thực đến các bậc đáng cúng dường, một số người dâng y áo, một số người dâng giường nằm, một số người dâng chỗ ngụ, một số người dâng tấm trải và tấm đắp, một số người dâng tôi trai tớ gái, một số người dâng ruộng vườn, một số người dâng thú hai chân hoặc bốn chân, một số người dâng trăm, ngàn, trăm ngàn đồng, một số người dâng vương quốc rộng lớn, một số người bố thí luôn cả mạng sống.”
“Tâu đại vương, nếu một số người bố thí luôn cả mạng sống, thì vì lý do gì ngài lại công kích thí chủ Vessantara quá dữ dội về việc đã khéo bố thí các con và vợ. Tâu đại vương, phải chăng có thói thường ở thế gian, tập quán ở thế gian là người cha bị mắc nợ hoặc không có kế sinh nhai thì được cầm cố hoặc bán đi người con trai?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Người cha bị mắc nợ hoặc không có kế sinh nhai thì được phép để cầm cố hoặc bán đi người con trai.”
“Tâu đại vương, nếu người cha bị mắc nợ hoặc không có kế sinh nhai thì được phép để cầm cố hoặc bán đi người con trai. Tâu đại vương, đức vua Vessantara, trong khi không đạt được Trí Toàn Tri, bị buồn rầu, bị khổ sở, nên đã cầm cố và đã bán đi các con và vợ nhằm đạt được tài sản Giáo Pháp ấy. Tâu đại vương, như thế việc đã bố thí bởi đức vua Vessantara cũng chỉ là việc đã bố thí của những người khác, việc đã làm cũng chỉ là việc đã được làm. Tâu đại vương, vậy thì tại sao ngài lại công kích thí chủ Vessantara quá dữ dội về việc bố thí ấy?”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chê trách việc bố thí của thí chủ Vessantara. Tuy nhiên, trong khi người ta cầu xin con và vợ, thì nên mặc cả và nên bố thí bản thân mình.”
“Tâu đại vương, việc ấy không phải là việc làm của người có đức hạnh, là trong khi người ta cầu xin con và vợ thì lại bố thí bản thân mình. Bởi vì trong khi người ta cầu xin cái nào, thì chính cái ấy nên được bố thí. Đây là hành động của các bậc thiện nhân. Tâu đại vương, giống như người nam nào đó bảo đem nước đến, người nào đem đến thức ăn cho ông ta, tâu đại vương, phải chăng người nam ấy là người làm được việc cho ông ta?”
“Thưa ngài, không đúng. Ông ta bảo đem lại cái gì, thì trong khi trao cho ông ta chính cái ấy mới là người làm được việc.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức vua Vessantara trong khi người Bà-la-môn cầu xin các con và vợ thì đã bố thí chính các con và vợ. Tâu đại vương, nếu người Bà-la-môn cầu xin thân xác của Vessantara, tâu đại vương, vị ấy sẽ không bảo vệ bản thân mình, không dao động, không bị quyến luyến, đối với vị ấy chính cái vật được bố thí, được xả bỏ, sẽ là thân xác. Tâu đại vương, nếu ai đó đi đến thí chủ Vessantara và cầu xin: ‘Hãy trở thành nô lệ của ta,’ thì chính cái vật được bố thí, được xả bỏ, sẽ là thân xác của vị ấy. Sau khi đã bố thí, vị ấy không bứt rứt. Tâu đại vương, thân thể của đức vua Vessantara là chung cho cả số đông.
Tâu đại vương, giống như miếng thịt đã nấu chín là chung cho cả số đông. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thân thể của đức vua Vessantara là chung cho cả số đông. Tâu đại vương, hoặc là giống như cây đã được kết trái là chung cho các bầy chim khác nhau. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thân thể của đức vua Vessantara là chung cho cả số đông. Vì lý do gì? (Nghĩ rằng): ‘Trong khi thực hành như vầy, ta sẽ đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác.’
Tâu đại vương, giống như người nam không có tài sản, tầm cầu về tài sản, trong khi đi lang thang tìm kiếm tài sản, thì đi theo lối đi của loài dê, theo lối đi đầy gai góc, theo lối đi nơi hoang dã, tiến hành việc buôn bán ở sông nước hoặc ở đất liền, tom góp tài sản bằng thân bằng khẩu bằng ý, nỗ lực nhằm đạt được tài sản. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhằm sự thành tựu báu vật là Trí Toàn Tri, sau khi buông bỏ tài sản và lúa gạo, tôi trai và tớ gái, thuyền và xe, toàn bộ của cải, các con và vợ của mình luôn cả bản thân cho những người xin xỏ, thí chủ Vessantara không có tài sản về tài sản của vị Phật, tầm cầu chỉ riêng phẩm vị Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vị quan đại thần, mong muốn cái dấu ấn, có sự tranh chấp về dấu ấn, bất cứ vật gì ở trong nhà như tài sản, lúa gạo, vàng khối, vàng ròng, thậm chí cho đi tất cả các thứ ấy, và nỗ lực nhằm đạt được cái dấu ấn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thí chủ Vessantara, sau khi cho đi tất cả tài sản ở bên ngoài và bên trong ấy, còn cho luôn mạng sống của những người khác, và tầm cầu chỉ riêng phẩm vị Chánh Đẳng Giác.
BJT 9Tâu đại vương, thêm nữa thí chủ Vessantara đã khởi ý như vầy: ‘Vật mà người Bà-la-môn cầu xin, trong khi cho chính vật ấy đến gã, ta được gọi là người làm được việc.’ Như thế vị ấy đã bố thí các con và vợ đến gã ấy. Tâu đại vương, thí chủ Vessantara không phải vì ghét bỏ mà đã bố thí các con và vợ đến người Bà-la-môn, không phải vì nghĩ rằng: ‘Các con và vợ của ta là quá nhiều, ta không thể nuôi dưỡng họ’ mà đã bố thí các con và vợ, đã không bất mãn (nghĩ rằng): ‘Họ không được ta yêu quý’ mà đã bố thí các con và vợ vì muốn đuổi đi. Khi ấy, vì lòng yêu quý đối với chỉ riêng báu vật là Trí Toàn Tri, vì lý do của Trí Toàn Tri, đức vua Vessantara đã bố thí đến người Bà-la-môn vật thí quý giá gồm các con và vợ, là vật yêu quý, được ưa thích, được yêu mến, sánh bằng mạng sống, không thể đo lường, bao la, vô thượng có hình thức như thế.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Cariyāpiṭaka (Hạnh Tạng):
‘Cả hai người con không có bị ta ghét bỏ, Hoàng Hậu Maddī không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã bố thí những người thân yêu.’
Tâu đại vương, ở nơi ấy, đức vua Vessantara, sau khi bố thí các con, đã đi vào gian nhà lá rồi nằm xuống. Vị ấy, bị đau khổ do lòng thương mến quá độ, đã khởi lên cơn sầu muộn mãnh liệt, vùng trái tim đã trở nên nóng, khi mũi không được thông, đã đưa hơi thở ra vào nóng hổi qua đường miệng, các giọt nước mắt, sau khi lăn tròn trở thành những hạt máu đỏ, đã đi ra từ những con mắt. Tâu đại vương, với nỗi khổ đau như thế đức vua Vessantara đã bố thí các con (nghĩ rằng): ‘Chớ làm suy giảm đạo lộ bố thí của ta.’
Tâu đại vương, thêm nữa đức vua Vessantara đã bố thí hai đứa nhỏ cho người Bà-la-môn vì hai điều lợi ích. Hai điều nào? (Nghĩ rằng): ‘Đạo lộ bố thí của ta sẽ không bị hư hỏng. Và khi những đứa con nhỏ của ta bị khổ sở vì rễ và trái cây rừng, do nhân này ông nội sẽ giải thoát chúng.’ Tâu đại vương, bởi vì đức vua Vessantara biết rằng: ‘Hai đứa nhỏ của ta không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Và ông nội sẽ chuộc lại hai đứa nhỏ này. Cuộc hành trình của chúng ta sẽ là như vậy.’ Tâu đại vương, vì hai điều lợi ích này mà đức Bồ Tát đã bố thí hai đứa nhỏ cho người Bà-la-môn.
Tâu đại vương, hơn nữa đức vua Vessantara biết rằng: ‘Người Bà-la-môn quả đã già, lão, lớn tuổi, yếu đuối, tàn tạ, chống gậy, tuổi thọ đã hết, phước báu ít ỏi, gã này không có khả năng để sử dụng hai đứa nhỏ này theo lối sử dụng nô lệ.’ Tâu đại vương, phải chăng người nam với sức mạnh tự nhiên có thể cầm lấy mặt trăng và mặt trời có đại thần lực có đại oai lực này bỏ vào cái hộp hay cái giỏ, làm cho hết ánh sáng, rồi sử dụng theo lối sử dụng cái đĩa?”
“Thưa ngài, không được.”
BJT 10“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như mặt trăng và mặt trời ở thế gian này, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như viên ngọc quý ma-ni của đức Chuyển Luân Vương là rực rỡ, có phẩm chất, đã khéo được gọt dũa thành tám mặt, bề dài bốn cánh tay, có chu vi giống như trục bánh của chiếc xe kéo, không thể bị bất cứ ai bao bọc lại bằng mảnh vải rồi bỏ trong cái hộp, và sử dụng theo lối sử dụng đá mài dao. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như viên ngọc quý ma-ni của đức Chuyển Luân Vương ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như Long Vương Uposatha, bị tiết dục ở ba nơi, hoàn toàn màu trắng, được vững chãi gấp bảy lần, có chiều cao tám ratana, chiều dài và chu vi chín ratana, duyên dáng, đáng nhìn, không thể bị bất cứ ai che đậy lại bằng cái nia hoặc cái vung, hoặc quăng vào trại bò để chăm nom như là con bò con. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như Long Vương Uposatha ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như đại dương được trải rộng bao la về chiều dài, sâu thẳm, không thể đo lường, khó thể vượt qua, chưa bị thăm dò, không bị che lại, không thể bị bất cứ ai đóng lại tất cả các nơi để tiến hành việc sử dụng bằng một bến tàu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như đại dương ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như núi chúa Hi-mã-lạp vươn cao lên không trung năm trăm do-tuần, chiều dài và chiều rộng ba ngàn do-tuần, được điểm tô với tám mươi bốn ngàn đỉnh núi, là khởi nguyên của năm trăm con sông lớn, là chỗ ngụ của những đoàn sinh vật khổng lồ, nơi chất chứa các hương thơm nhiều loại, được điểm trang với hàng trăm dược thảo ở cõi trời, được nhìn thấy vươn lên cao như là đám mây ở không trung. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Vessantara được xem như núi chúa Hi-mã-lạp ở thế gian, hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đang cháy sáng ở bên trên đỉnh núi trong đêm tối đen mờ mịt được nhận biết dầu ở rất xa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức vua Vessantara, tợ như khối lửa lớn đang cháy sáng ở đỉnh núi, được nổi tiếng, được nhận biết dầu ở rất xa. Hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hai đứa nhỏ của Vessantara không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ. Tâu đại vương, giống như ở núi Hi-mã-lạp, vào mùa hoa của cây thiết mộc, khi có ngọn gió trực chỉ đang thổi thì hương của các bông hoa tỏa ra mười, mười hai do-tuần. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tiếng tăm tốt đẹp của đức vua Vessantara cũng được loan truyền và hương thơm cao quý về giới hạnh của vị này tỏa ra một ngàn do-tuần ở các cung điện của chư Thiên, A-tu-la, nhân điểu, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, quỷ sứ, rắn chúa, chim đầu người, và vị Thần Inda, ở khoảng giữa của các nơi ấy cho đến cõi Sắc Cứu Cánh, vì thế hai đứa nhỏ của vị ấy không thể bị bất cứ ai sử dụng theo lối sử dụng nô lệ.
Tâu đại vương, hoàng tử Jālī đã được vua cha Vessantara chỉ dạy là: ‘Này con yêu, trong khi ông nội của con trao tài sản cho người Bà-la-môn và chuộc lại con, thì ông nội hãy trao cho ông ta một ngàn đồng tiền vàng rồi chuộc lại. Trong khi chuộc lại Kaṇhājinā, thì ông nội hãy trao ra mỗi thứ một trăm là trăm tôi trai, trăm tớ gái, trăm voi, trăm ngựa, trăm bò sữa, trăm bò mộng, trăm đồng tiền vàng, rồi chuộc lại. Này con yêu, nếu ông nội của con giành lấy các con từ tay của người Bà-la-môn bằng mệnh lệnh, bằng sức lực, hoặc miễn phí, thì các con chớ làm theo lời nói của ông nội, mà hãy đi theo chính người Bà-la-môn.’ Sau khi chỉ dạy như thế rồi đã gởi đi. Sau đó, hoàng tử Jālī đã ra đi, đến khi được ông nội hỏi, đã nói rằng:
‘Thưa ông, bởi vì cha đã cho con đến người Bà-la-môn với giá một ngàn, còn cô con gái Kaṇhājinā là bằng tài sản cá nhân và giá của những con voi.’”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, mạng lưới tà kiến đã khéo được phá vỡ, các học thuyết khác đã khéo được nghiền nát, kiến thức của bản thân đã khéo được giải thích, vấn đề phụ thuộc đã khéo được làm rõ, ý nghĩa đã khéo được phân tích. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc bố thí con của Vessanta là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, sabbeva bodhisattā puttadāraṁ denti, udāhu vessantareneva raññā puttadāraṁ dinnan”ti?
“Sabbepi, mahārāja, bodhisattā puttadāraṁ denti, na vessantareneva raññā puttadāraṁ dinnan”ti.
“Api ca kho, bhante nāgasena, tesaṁ anumatena dentī”ti.
“Bhariyā, mahārāja, anumatā, dārakā pana bālatāya vilapiṁsu, yadi te atthato jāneyyuṁ, tepi anumodeyyuṁ, na te vilapeyyun”ti.
“Dukkaraṁ, bhante nāgasena, bodhisattena kataṁ, yaṁ so attano orase piye putte brāhmaṇassa dāsatthāya adāsi.
Idampi dutiyaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so attano orase piye putte bālake taruṇake latāya bandhitvā tena brāhmaṇena latāya anumajjīyante disvā ajjhupekkhi.
Idampi tatiyaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so sakena balena bandhanā muccitvā āgate dārake sārajjamupagate punadeva latāya bandhitvā adāsi.
Idampi catutthaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so dārake ‘ayaṁ kho, tāta, yakkho khādituṁ neti amhe’ti vilapante ‘mā bhāyitthā’ti na assāsesi.
Idampi pañcamaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so jālissa kumārassa rudamānassa pādesu nipatitvā ‘alaṁ, tāta, kaṇhājinaṁ nivattehi, ahameva gacchāmi yakkhena saha, khādatu maṁ yakkho’ti yācamānassa evaṁ na sampaṭicchi.
Idampi chaṭṭhaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ so jālissa kumārassa ‘pāsāṇasamaṁ nūna te, tāta, hadayaṁ, yaṁ tvaṁ amhākaṁ dukkhitānaṁ pekkhamāno nimmanussake brahāraññe yakkhena nīyamāne na nivāresī’ti vilapamānassa kāruññaṁ nākāsi.
Idampi sattamaṁ dukkarato dukkarataraṁ, yaṁ tassa ruḷaruḷassa bhīmabhīmassa nīte dārake adassanaṁ gamite na phali hadayaṁ satadhā vā sahassadhā vā, puññakāmena manujena kiṁ paradukkhāpanena, nanu nāma sakadānaṁ dātabbaṁ hotī”ti?
“Dukkarassa, mahārāja, katattā bodhisattassa kittisaddo dasasahassiyā lokadhātuyā sadevamanussesu abbhuggato, devā devabhavane pakittenti, asurā asurabhavane pakittenti, garuḷā garuḷabhavane pakittenti, nāgā nāgabhavane pakittenti, yakkhā yakkhabhavane pakittenti, anupubbena tassa kittisaddo paramparāya ajjetarahi idha amhākaṁ samayaṁ anuppatto, taṁ mayaṁ dānaṁ pakittentā vikopentā nisinnā sudinnaṁ, udāhu duddinnanti.
So kho panāyaṁ, mahārāja, kittisaddo nipuṇānaṁ viññūnaṁ vidūnaṁ vibhāvīnaṁ bodhisattānaṁ dasa guṇe anudassati.
Katame dasa?
Agedhatā nirālayatā cāgo pahānaṁ apunarāvattitā sukhumatā mahantatā duranubodhatā dullabhatā asadisatā buddhadhammassa, so kho panāyaṁ, mahārāja, kittisaddo nipuṇānaṁ viññūnaṁ vidūnaṁ vibhāvīnaṁ bodhisattānaṁ ime dasa guṇe anudassatī”ti.
“Bhante nāgasena, yo paraṁ dukkhāpetvā dānaṁ deti, api nu taṁ dānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikan”ti?
“Āma, mahārāja, kiṁ vattabban”ti.
“Iṅgha, bhante nāgasena, kāraṇaṁ upadassehī”ti.
“Idha, mahārāja, koci samaṇo vā brāhmaṇo vā sīlavā hoti kalyāṇadhammo, so bhaveyya pakkhahato vā pīṭhasappī vā aññataraṁ vā byādhiṁ āpanno, tamenaṁ yo koci puññakāmo yānaṁ āropetvā patthitaṁ desamanupāpeyya, api nu kho, mahārāja, tassa purisassa tatonidānaṁ kiñci sukhaṁ nibbatteyya saggasaṁvattanikaṁ taṁ kamman”ti?
“Āma, bhante, kiṁ vattabbaṁ?
Hatthiyānaṁ vā so, bhante, puriso labheyya assayānaṁ vā rathayānaṁ vā, thale thalayānaṁ jale jalayānaṁ devesu devayānaṁ manussesu manussayānaṁ, tadanucchavikaṁ tadanulomikaṁ bhave bhave nibbatteyya, tadanucchavikāni tadanulomikāni cassa sukhāni nibbatteyyuṁ, sugatito sugatiṁ gaccheyya, teneva kammābhisandena iddhiyānaṁ abhiruyha patthitaṁ nibbānanagaraṁ pāpuṇeyyā”ti.
“Tena hi, mahārāja, paradukkhāpanena dinnadānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikaṁ, yaṁ so puriso balībadde dukkhāpetvā evarūpaṁ sukhaṁ anubhavati.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yathā paradukkhāpanena dinnadānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikaṁ.
Idha, mahārāja, yo koci rājā janapadato dhammikaṁ baliṁ uddharāpetvā āṇāpavattanena dānaṁ dadeyya, api nu kho so, mahārāja, rājā tatonidānaṁ kiñci sukhaṁ anubhaveyya saggasaṁvattanikaṁ taṁ dānan”ti?
“Āma, bhante, kiṁ vattabbaṁ, tatonidānaṁ so, bhante, rājā uttariṁ anekasatasahassaguṇaṁ labheyya.
Rājūnaṁ atirājā bhaveyya, devānaṁ atidevo bhaveyya, brahmānaṁ atibrahmā bhaveyya, samaṇānaṁ atisamaṇo bhaveyya, brāhmaṇānaṁ atibrāhmaṇo bhaveyya, arahantānaṁ atiarahā bhaveyyā”ti.
“Tena hi, mahārāja, paradukkhāpanena dinnadānaṁ sukhavipākaṁ hoti saggasaṁvattanikaṁ, yaṁ so rājā balinā janaṁ pīḷetvā dinnadānena evarūpaṁ uttariṁ yasasukhaṁ anubhavatī”ti.
“Atidānaṁ, bhante nāgasena, vessantarena raññā dinnaṁ, yaṁ so sakaṁ bhariyaṁ parassa bhariyatthāya adāsi, sake orase putte brāhmaṇassa dāsatthāya adāsi, atidānaṁ nāma, bhante nāgasena, loke vidūhi ninditaṁ garahitaṁ, yathā nāma, bhante nāgasena, atibhārena sakaṭassa akkho bhijjati, atibhārena nāvā osīdati, atibhuttena bhojanaṁ visamaṁ pariṇamati, ativassena dhaññaṁ vinassati, atidānena bhogakkhayaṁ upeti, atitāpena pathavī upaḍayhati, atirāgena ummattako hoti, atidosena vajjho hoti, atimohena anayaṁ āpajjati, atilobhena coraggahaṇamupagacchati, atibhayena nirujjhati, atipūrena nadī uttarati, ativātena asani patati, atiagginā odanaṁ uttarati, atisañcaraṇena na ciraṁ jīvati.
Evameva kho, bhante nāgasena, atidānaṁ nāma loke vidūhi ninditaṁ garahitaṁ, atidānaṁ, bhante nāgasena, vessantarena raññā dinnaṁ, na tattha kiñci phalaṁ icchitabban”ti.
“Atidānaṁ, mahārāja, loke vidūhi vaṇṇitaṁ thutaṁ pasatthaṁ, ye keci yādisaṁ kīdisaṁ dānaṁ denti, atidānadāyī loke kittiṁ pāpuṇāti.
Yathā, mahārāja, atipavaratāya dibbaṁ vanamūlaṁ gahitampi hatthapāse ṭhitānaṁ parajanānaṁ na dassayati, agado atijaccatāya pīḷāya samugghātako rogānaṁ antakaro, aggi atijotitāya ḍahati, udakaṁ atisītatāya nibbāpeti, padumaṁ parisuddhatāya na upalimpati vārikaddamena, maṇi atiguṇatāya kāmadado, vajiraṁ atitikhiṇatāya vijjhati maṇimuttāphalikaṁ, pathavī atimahantatāya naroragamigapakkhijalaselapabbatadume dhāreti, samuddo atimahantatāya aparipūraṇo, sineru atibhāratāya acalo, ākāso ativitthāratāya ananto, sūriyo atippabhatāya timiraṁ ghāteti, sīho atijātitāya vigatabhayo, mallo atibalavatāya paṭimallaṁ khippaṁ ukkhipati, rājā atipuññatāya adhipati, bhikkhu atisīlavantatāya nāgayakkhanaramarūhi namassanīyo, buddho atiaggatāya anupamo.
Evameva kho, mahārāja, atidānaṁ nāma loke vidūhi vaṇṇitaṁ thutaṁ pasatthaṁ, ye keci yādisaṁ kīdisaṁ dānaṁ denti, atidānadāyī loke kittiṁ pāpuṇāti, atidānena vessantaro rājā dasasahassiyā lokadhātuyā vaṇṇito thuto pasattho mahito kittito, teneva atidānena vessantaro rājā ajjetarahi buddho jāto aggo sadevake loke.
Atthi pana, mahārāja, loke ṭhapanīyaṁ dānaṁ, yaṁ dakkhiṇeyye anuppatte na dātabban”ti?
“Dasa kho panimāni, bhante nāgasena, dānāni, yāni loke adānasammatāni, yo tāni dānāni deti, so apāyagāmī hoti.
Katamāni dasa?
Majjadānaṁ, bhante nāgasena, loke adānasammataṁ, yo taṁ dānaṁ deti, so apāyagāmī hoti.
Samajjadānaṁ …pe…
itthidānaṁ …
usabhadānaṁ …
cittakammadānaṁ …
satthadānaṁ …
visadānaṁ …
saṅkhalikadānaṁ …
kukkuṭasūkaradānaṁ …
tulākūṭamānakūṭadānaṁ, bhante nāgasena, loke adānasammataṁ hoti, yo taṁ dānaṁ deti, so apāyagāmī hoti.
Imāni kho, bhante nāgasena, dasa dānāni loke adānasammatāni, yo tāni dānāni deti, so apāyagāmī hotī”ti.
“Nāhaṁ taṁ, mahārāja, adānasammataṁ pucchāmi, imaṁ khvāhaṁ, mahārāja, taṁ pucchāmi ‘atthi pana, mahārāja, loke ṭhapanīyaṁ dānaṁ, yaṁ dakkhiṇeyye anuppatte na dātabban’”ti.
“Natthi, bhante nāgasena, loke ṭhapanīyaṁ dānaṁ.
Yaṁ dakkhiṇeyye anuppatte na dātabbaṁ, cittappasāde uppanne keci dakkhiṇeyyānaṁ bhojanaṁ denti, keci acchādanaṁ, keci sayanaṁ, keci āvasathaṁ, keci attharaṇapāvuraṇaṁ, keci dāsidāsaṁ, keci khettavatthuṁ, keci dvipadacatuppadaṁ, keci sataṁ sahassaṁ satasahassaṁ, keci mahārajjaṁ, keci jīvitampi dentī”ti.
“Yadi pana, mahārāja, keci jīvitampi denti, kiṁ kāraṇā vessantaraṁ dānapatiṁ atibāḷhaṁ paripātesi sudinne putte ca dāre ca?
Api nu kho, mahārāja, atthi lokapakati lokāciṇṇaṁ, labhati pitā puttaṁ iṇaṭṭo vā ājīvikapakato vā āvapituṁ vā vikkiṇituṁ vā”ti?
“Āma, bhante, labhati pitā puttaṁ iṇaṭṭo vā ājīvikapakato vā āvapituṁ vā vikkiṇituṁ vā”ti.
“Yadi, mahārāja, labhati pitā puttaṁ iṇaṭṭo vā ājīvikapakato vā āvapituṁ vā vikkiṇituṁ vā, vessantaropi, mahārāja, rājā alabhamāno sabbaññutañāṇaṁ upadduto dukkhito tassa dhammadhanassa paṭilābhāya puttadāraṁ āvapesi ca vikkiṇi ca.
Iti, mahārāja, vessantarena raññā aññesaṁ dinnaṁyeva dinnaṁ, kataṁyeva kataṁ.
Kissa pana tvaṁ, mahārāja, tena dānena vessantaraṁ dānapatiṁ atibāḷhaṁ apasādesī”ti?
“Nāhaṁ, bhante nāgasena, vessantarassa dānapatino dānaṁ garahāmi, api ca puttadāraṁ yācante niminitvā attānaṁ dātabban”ti.
“Etaṁ kho, mahārāja, asabbhikāraṇaṁ, yaṁ puttadāraṁ yācante attānaṁ dadeyya, yaṁ yaṁ hi yācante taṁ tadeva dātabbaṁ, etaṁ sappurisānaṁ kammaṁ.
Yathā, mahārāja, koci puriso pānīyaṁ āharāpeyya, tassa yo bhojanaṁ dadeyya, api nu so, mahārāja, puriso tassa kiccakārī assā”ti?
“Na hi, bhante, yaṁ so āharāpeti, tameva tassa dento kiccakārī assā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā brāhmaṇe puttadāraṁ yācante puttadāraṁ yeva adāsi.
Sace, mahārāja, brāhmaṇo vessantarassa sarīraṁ yāceyya, na so, mahārāja, attānaṁ rakkheyya na kampeyya na rajjeyya, tassa dinnaṁ pariccattaṁyeva sarīraṁ bhaveyya.
Sace, mahārāja, koci vessantaraṁ dānapatiṁ upagantvā yāceyya ‘dāsattaṁ me upehī’ti, dinnaṁ pariccattaṁyevassa sarīraṁ bhaveyya, na so datvā tapeyya, rañño, mahārāja, vessantarassa kāyo bahusādhāraṇo.
Yathā, mahārāja, pakkā maṁsapesi bahusādhāraṇā;
evameva kho, mahārāja, rañño vessantarassa kāyo bahusādhāraṇo.
Yathā vā pana, mahārāja, phalito rukkho nānādijagaṇasādhāraṇo;
evameva kho, mahārāja, rañño vessantarassa kāyo bahusādhāraṇo.
Kiṁ kāraṇā?
‘Evāhaṁ paṭipajjanto sammāsambodhiṁ pāpuṇissāmī’ti.
Yathā, mahārāja, puriso adhano dhanatthiko dhanapariyesanaṁ caramāno ajapathaṁ saṅkupathaṁ vettapathaṁ gacchati, jalathalavāṇijjaṁ karoti, kāyena vācāya manasā dhanaṁ ārādheti, dhanappaṭilābhāya vāyamati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro dānapati adhano buddhadhanena sabbaññutañāṇaratanappaṭilābhāya yācakānaṁ dhanadhaññaṁ dāsidāsaṁ yānavāhanaṁ sakalasāpateyyaṁ sakaṁ puttadāraṁ attānañca cajitvā sammāsambodhiṁyeva pariyesati.
Yathā vā pana, mahārāja, amacco muddakāmo muddādhikaraṇaṁ yaṁ kiñci gehe dhanadhaññaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ, taṁ sabbaṁ datvāpi muddappaṭilābhāya vāyamati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro dānapati sabbaṁ taṁ bāhirabbhantaradhanaṁ datvā jīvitampi paresaṁ datvā sammāsambodhiṁyeva pariyesati.
Api ca, mahārāja, vessantarassa dānapatino evaṁ ahosi ‘yaṁ so brāhmaṇo yācati, tamevāhaṁ tassa dento kiccakārī nāma homī’ti, evaṁ so tassa puttadāramadāsi.
Na kho, mahārāja, vessantaro dānapati dessatāya brāhmaṇassa puttadāramadāsi, na adassanakāmatāya puttadāramadāsi, na atibahukā me puttadārā, ‘na sakkomi te posetun’ti puttadāramadāsi, na ukkaṇṭhito ‘appiyā me’ti nīharitukāmatāya puttadāramadāsi.
Atha kho sabbaññutañāṇaratanasseva piyattā sabbaññutañāṇassa kāraṇā vessantaro rājā evarūpaṁ atulaṁ vipulamanuttaraṁ piyaṁ manāpaṁ dayitaṁ pāṇasamaṁ puttadāradānavaraṁ brāhmaṇassa adāsi.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena cariyāpiṭake—
‘Na me dessā ubho puttā,
maddī devī na dessiyā;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā piye adāsahan’ti.
Tasmā, mahārāja, vessantaro rājā puttadānaṁ datvā paṇṇasālaṁ pavisitvā nipajji.
Tassa atipemena dukkhitassa balavasoko uppajji, hadayavatthu uṇhamahosi.
Nāsikāya appahontiyā mukhena uṇhe assāsapassāse vissajjesi, assūni parivattitvā lohitabindūni hutvā nettehi nikkhamiṁsu.
Evameva kho, mahārāja, dukkhena vessantaro rājā brāhmaṇassa puttadāramadāsi ‘mā me dānapatho parihāyī’ti.
Api ca, mahārāja, vessantaro rājā dve atthavase paṭicca brāhmaṇassa dve dārake adāsi.
Katame dve?
Dānapatho ca me aparihīno bhavissati, dukkhite ca me puttake vanamūlaphalehi itonidānaṁ ayyako mocessatīti.
Jānāti hi, mahārāja, vessantaro rājā ‘na me dārakā sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ, ime ca dārake ayyako nikkiṇissati, evaṁ amhākampi gamanaṁ bhavissatī’ti.
Ime kho, mahārāja, dve atthavase paṭicca brāhmaṇassa dve dārake adāsi.
Api ca, mahārāja, vessantaro rājā jānāti ‘ayaṁ kho brāhmaṇo jiṇṇo vuḍḍho mahallako dubbalo bhaggo daṇḍaparāyaṇo khīṇāyuko parittapuñño, neso samattho ime dārake dāsabhogena bhuñjitun’ti.
Sakkuṇeyya pana, mahārāja, puriso pākatikena balena ime candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve gahetvā peḷāya vā samugge vā pakkhipitvā nippabhe katvā thālakaparibhogena paribhuñjitun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, imasmiṁ loke candimasūriyappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjitunti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, rañño cakkavattissa maṇiratanaṁ subhaṁ jātimantaṁ aṭṭhaṁsaṁ suparikammakataṁ catuhatthāyāmaṁ sakaṭanābhipariṇāhaṁ na sakkā kenaci pilotikāya veṭhetvā peḷāya pakkhipitvā satthakanisānaparibhogena paribhuñjituṁ;
evameva kho, mahārāja, loke cakkavattirañño maṇiratanappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, tidhā pabhinno sabbaseto sattappatiṭṭhito aṭṭharatanubbedho navaratanāyāmapariṇāho pāsādiko dassanīyo uposatho nāgarājā na sakkā kenaci suppena vā sarāvena vā pidahituṁ, govacchako viya vacchakasālāya pakkhipitvā pariharituṁ vā;
evameva kho, mahārāja, loke uposathanāgarājappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, mahāsamuddo dīghaputhulavitthiṇṇo gambhīro appameyyo duruttaro apariyogāḷho anāvaṭo na sakkā kenaci sabbattha pidahitvā ekatitthena paribhogaṁ kātuṁ;
evameva kho, mahārāja, loke mahāsamuddappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, himavanto pabbatarājā pañcayojanasataṁ accuggato nabhe tisahassayojanāyāmavitthāro caturāsītikūṭasahassappaṭimaṇḍito pañcannaṁ mahānadīsatānaṁ pabhavo mahābhūtagaṇālayo nānāvidhagandhadharo dibbosadhasatasamalaṅkato nabhe valāhako viya accuggato dissati;
evameva kho, mahārāja, loke himavantapabbatarājappaṭibhāgassa vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, rattandhakāratimisāyaṁ uparipabbatagge jalamāno mahāaggikkhandho suvidūrepi paññāyati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā pabbatagge jalamāno mahāaggikkhandho viya suvidūrepi pākaṭo paññāyati, tassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, yena kāraṇena vessantarassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Yathā, mahārāja, himavante pabbate nāgapupphasamaye ujuvāte vāyante dasa dvādasa yojanāni pupphagandho vāyati;
evameva kho, mahārāja, vessantarassa rañño api yojanasahassehipi yāva akaniṭṭhabhavanaṁ etthantare surāsuragaruḷagandhabbayakkharakkhasamahoragakinnaraindabhavanesu kittisaddo abbhuggato, sīlavaragandho cassa sampavāyati, tena tassa dārakā na sakkā kenaci dāsabhogena bhuñjituṁ.
Anusiṭṭho, mahārāja, jālī kumāro pitarā vessantarena raññā ‘ayyako te, tāta, tumhe brāhmaṇassa dhanaṁ datvā nikkiṇanto taṁ nikkhasahassaṁ datvā nikkiṇātu, kaṇhājinaṁ nikkiṇanto dāsasataṁ dāsisataṁ hatthisataṁ assasataṁ dhenusataṁ usabhasataṁ nikkhasatanti sabbasataṁ datvā nikkiṇātu, yadi te, tāta, ayyako tumhe brāhmaṇassa hatthato āṇāya balasā mudhā gaṇhāti, mā tumhe ayyakassa vacanaṁ karittha, brāhmaṇasseva anuyāyino hothā’ti, evamanusāsitvā putte pesesi, tato jālīkumāro gantvā ayyakena puṭṭho kathesi—
‘Sahassagghañhi maṁ tāta,
brāhmaṇassa pitā adā;
Atho kaṇhājinaṁ kaññaṁ,
hatthīnañca satena cā’”ti.
“Sunibbeṭhito, bhante nāgasena, pañho;
subhinnaṁ diṭṭhijālaṁ;
sumaddito paravādo;
sakasamayo sudīpito;
byañjanaṁ suparisodhitaṁ;
suvibhatto attho;
evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Vessantarapañho paṭhamo.