CỦA NIẾT BÀN
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải Niết Bàn là thuần lạc, hay bị xen lẫn khổ?”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ.”
“Thưa ngài, chúng tôi không tin lời nói ấy: ‘Niết Bàn là thuần lạc.’ Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp này chúng tôi đối lập lại như vầy: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’ Và chúng tôi chấp nhận lý do ở đây rằng: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’ Lý do ở đây là điều nào?
Thưa ngài Nāgasena, đối với những người tầm cầu Niết Bàn thì sự khổ hạnh, sự hành xác của thân và của tâm được nhìn thấy, sự thận trọng trong việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, sự chống chọi lại cơn buồn ngủ, sự chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, sự dứt bỏ tài sản, lúa gạo, thân quyến, và bạn bè yêu quý. Những người nào ở thế gian được lạc thú, được cung phụng lạc thú, những người ấy, thậm chí tất cả, làm cho các giác quan được thích thú, được quen thuộc với năm loại dục; làm cho mắt được thích thú, được quen thuộc với sắc có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho tai được thích thú, được quen thuộc với thinh có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của tiếng ca tiếng đàn, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho mũi được thích thú, được quen thuộc với hương có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của bông hoa, trái cây, lá cây, vỏ cây, rễ cây, lõi cây, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho lưỡi được thích thú, được quen thuộc với vị có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của vật nhai, vật ăn, vật nhấm nháp, vật uống, vật nếm, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho thân được thích thú, được quen thuộc với xúc có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, trơn tru, mịn màng, mềm mại, êm dịu, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho ý được thích thú, được quen thuộc với các suy nghĩ và chú tâm, nhiều loại, thiện và ác, đẹp và xấu, làm hài lòng, làm thích ý.
Còn ngài thì tiêu diệt, phá hoại, chặt đứt, bẻ gãy, ngăn chặn, ngưng lại việc làm cho quen thuộc ấy của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì thế, thân cũng bị bực bội, tâm cũng bị bực bội, khi thân bị bực bội thì cảm nhận thọ khổ thuộc thân, khi tâm bị bực bội thì cảm nhận thọ khổ thuộc tâm. Chẳng phải du sĩ ngoại đạo Māgandiya trong lúc chê trách đức Thế Tôn cũng đã nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama có sự hành hạ chúng sinh.’ Ở đây, điều này là lý do mà với lý do ấy trẫm nói rằng: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’”
BJT 2“Tâu đại vương, Niết Bàn hẳn nhiên không bị xen lẫn khổ. Niết Bàn là thuần lạc. Tâu đại vương, còn điều mà ngài đã nói rằng: ‘Niết Bàn là khổ,’ khổ ấy không gọi là Niết Bàn. Tuy nhiên, điều đó là phần xảy ra trước của việc chứng ngộ Niết Bàn, điều ấy là sự tìm kiếm Niết Bàn. Tâu đại vương, Niết Bàn quả là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tôi sẽ nói về lý do của trường hợp ấy. Tâu đại vương, đối với các vị vua, có phải có lạc của vương quyền?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có lạc của vương quyền.”
“Tâu đại vương, phải chăng lạc của vương quyền ấy bị xen lẫn khổ?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao khi biên thùy dấy loạn, nhằm việc ngăn chận những kẻ sống ở vùng biên thùy ấy, các vị vua ấy, được tùy tùng bởi các quan đại thần, tướng lãnh, nhân công, binh lính, ra đi viễn chinh, bị quấy nhiễu bởi ruồi muỗi gió nắng, chạy khắp ở mặt đất bằng phẳng và gồ ghề, rồi tiến hành trận chiến lớn, và có sự hoài nghi về mạng sống?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy không gọi là lạc của vương quyền. Điều đó là phần xảy ra trước của việc tầm cầu lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, các vị vua, sau khi tầm cầu vương quyền một cách cực khổ, thì hưởng thụ lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, lạc của vương quyền không bị xen lẫn khổ là như vậy; lạc của vương quyền ấy là cái khác, khổ là cái khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tuy nhiên, những người nào tầm cầu Niết Bàn thì họ khiến cho thân và tâm khốn khổ, thận trọng về việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, chống chọi lại cơn buồn ngủ, chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, buông bỏ thân xác và mạng sống; sau khi tầm cầu Niết Bàn một cách cực khổ, thì hưởng thụ Niết Bàn, thuần lạc. Ngay khi các kẻ đối nghịch bị tiêu diệt, các vị vua hưởng thụ lạc của vương quyền. Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ, là như vậy; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.
BJT 3Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa: ‘Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.’ Tâu đại vương, có cái gọi là lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy về nghề nghiệp?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái gọi là lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy về nghề nghiệp.”
“Tâu đại vương, phải chăng lạc của nghệ thuật ấy bị xen lẫn khổ?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao đối với các vị thầy thì những người (học trò) ấy khiến cho thân khốn khổ với việc đảnh lễ, đứng dậy, mang nước lại, quét nhà, cung cấp gỗ chà răng, nước rửa mặt, với việc dọn dẹp rác rưởi, thoa bóp, tắm rửa, chăm sóc bàn chân, với việc hành xử thuận theo tâm của người khác sau khi buông tâm của mình, với việc ngủ một cách khổ cực, với thức ăn không đều đặn?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy không gọi là lạc của nghề nghiệp. Điều đó là phần xảy ra trước của việc tầm cầu nghề nghiệp. Thưa ngài Nāgasena, các vị thầy, sau khi tầm cầu nghề nghiệp một cách cực khổ, thì hưởng thụ lạc của nghề nghiệp. Thưa ngài Nāgasena, như vậy lạc của nghề nghiệp là cái khác, khổ là cái khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tuy nhiên, những người nào tầm cầu Niết Bàn thì họ khiến cho thân và mạng sống khốn khổ, thận trọng về việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, chống chọi lại cơn buồn ngủ, chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, buông bỏ thân xác và mạng sống; sau khi tầm cầu Niết Bàn một cách cực khổ, thì hưởng thụ Niết Bàn, thuần lạc, tợ như các vị thầy hưởng thụ lạc của nghề nghiệp. Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ, là như vậy; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất không bị xen lẫn khổ
của Niết Bàn là thứ chín.
“Bhante nāgasena, kiṁ ekantasukhaṁ nibbānaṁ, udāhu dukkhena missan”ti?
“Ekantasukhaṁ, mahārāja, nibbānaṁ, dukkhena amissan”ti.
“Na mayaṁ taṁ, bhante nāgasena, vacanaṁ saddahāma ‘ekantasukhaṁ nibbānan’ti, evamettha mayaṁ, bhante nāgasena, paccema ‘nibbānaṁ dukkhena missan’ti, kāraṇañcettha upalabhāma ‘nibbānaṁ dukkhena missan’ti.
Katamaṁ ettha kāraṇaṁ?
Ye te, bhante nāgasena, nibbānaṁ pariyesanti, tesaṁ dissati kāyassa ca cittassa ca ātāpo paritāpo ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhārapariggaho middhassa ca uparodho āyatanānañca paṭipīḷanaṁ dhanadhaññapiyañātimittappajahanaṁ.
Ye keci loke sukhitā sukhasamappitā, te sabbepi pañcahi kāmaguṇehi āyatane ramenti brūhenti, manāpikamanāpikabahuvidhasubhanimittena rūpena cakkhuṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikagītavāditabahuvidhasubhanimittena saddena sotaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikapupphaphalapattatacamūlasārabahuvidhasubhanimittena gandhena ghānaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikakhajjabhojjaleyyapeyyasāyanīyabahuvidhasubhanimittena rasena jivhaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikasaṇhasukhumamudumaddavabahuvidhasubhanimittena phassena kāyaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikakalyāṇapāpakasubhāsubhabahuvidhavitakkamanasikārena manaṁ ramenti brūhenti.
Tumhe taṁ cakkhusotaghānajivhākāyamanobrūhanaṁ hanatha upahanatha, chindatha upacchindatha, rundhatha uparundhatha.
Tena kāyopi paritapati, cittampi paritapati, kāye paritatte kāyikadukkhavedanaṁ vediyati, citte paritatte cetasikadukkhavedanaṁ vedayati.
Nanu māgaṇḍiyopi paribbājako bhagavantaṁ garahamāno evamāha ‘bhūnahu samaṇo gotamo’ti.
Idamettha kāraṇaṁ, yenāhaṁ kāraṇena brūmi ‘nibbānaṁ dukkhena missan’”ti.
“Na hi, mahārāja, nibbānaṁ dukkhena missaṁ, ekantasukhaṁ nibbānaṁ.
Yaṁ pana tvaṁ, mahārāja, brūsi ‘nibbānaṁ dukkhan’ti, netaṁ dukkhaṁ nibbānaṁ nāma, nibbānassa pana sacchikiriyāya pubbabhāgo eso, nibbānapariyesanaṁ etaṁ, ekantasukhaṁyeva, mahārāja, nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ.
Ettha kāraṇaṁ vadāmi.
Atthi, mahārāja, rājūnaṁ rajjasukhaṁ nāmā”ti?
“Āma, bhante, atthi rājūnaṁ rajjasukhan”ti.
“Api nu kho taṁ, mahārāja, rajjasukhaṁ dukkhena missan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, rājāno paccante kupite tesaṁ paccantanissitānaṁ paṭisedhāya amaccehi pariṇāyakehi bhaṭehi balatthehi parivutā pavāsaṁ gantvā ḍaṁsamakasavātātapapaṭipīḷitā samavisame paridhāvanti, mahāyuddhañca karonti, jīvitasaṁsayañca pāpuṇantī”ti?
“Netaṁ, bhante nāgasena, rajjasukhaṁ nāma, rajjasukhassa pariyesanāya pubbabhāgo eso, dukkhena, bhante nāgasena, rājāno rajjaṁ pariyesitvā rajjasukhaṁ anubhavanti, evaṁ, bhante nāgasena, rajjasukhaṁ dukkhena amissaṁ, aññaṁ taṁ rajjasukhaṁ, aññaṁ dukkhan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ.
Ye pana taṁ nibbānaṁ pariyesanti, te kāyañca cittañca ātāpetvā ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhāraṁ pariggahetvā middhaṁ uparundhitvā āyatanāni paṭipīḷetvā kāyañca jīvitañca pariccajitvā dukkhena nibbānaṁ pariyesitvā ekantasukhaṁ nibbānaṁ anubhavanti, nihatapaccāmittā viya rājāno rajjasukhaṁ.
Evaṁ, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ, aññaṁ nibbānaṁ, aññaṁ dukkhanti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ, aññaṁ dukkhaṁ, aññaṁ nibbānanti.
Atthi, mahārāja, ācariyānaṁ sippavantānaṁ sippasukhaṁ nāmā”ti?
“Āma, bhante, atthi ācariyānaṁ sippavantānaṁ sippasukhan”ti.
“Api nu kho taṁ, mahārāja, sippasukhaṁ dukkhena missan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, ācariyā ācariyānaṁ abhivādanapaccuṭṭhānena udakāharaṇagharasammajjanadantakaṭṭhamukhodakānuppadānena ucchiṭṭhapaṭiggahaṇaucchādananahāpanapādaparikammena sakacittaṁ nikkhipitvā paracittānuvattanena dukkhaseyyāya visamabhojanena kāyaṁ ātāpentī”ti?
“Netaṁ, bhante nāgasena, sippasukhaṁ nāma, sippapariyesanāya pubbabhāgo eso, dukkhena, bhante nāgasena, ācariyā sippaṁ pariyesitvā sippasukhaṁ anubhavanti, evaṁ, bhante nāgasena, sippasukhaṁ dukkhena amissaṁ, aññaṁ taṁ sippasukhaṁ, aññaṁ dukkhan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ.
Ye pana taṁ nibbānaṁ pariyesanti, te kāyañca cittañca ātāpetvā ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhāraṁ pariggahetvā middhaṁ uparundhitvā āyatanāni paṭipīḷetvā kāyañca jīvitañca pariccajitvā dukkhena nibbānaṁ pariyesitvā ekantasukhaṁ nibbānaṁ anubhavanti, ācariyā viya sippasukhaṁ.
Evaṁ, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ, aññaṁ dukkhaṁ, aññaṁ nibbānan”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ekantasukhanibbānapañho navamo.
PTS vp Pali 313 PTS cs 58 ‘Venerable Nāgasena, how is it? Is Nirvāṇa all bliss, or is it partly pain. ? PTS vp En 182
‘Nirvāṇa is all bliss, O king. There is no intermingling of pain in it.’
‘That, Sir, is a saying we cannot believe—that Nirvāṇa is all bliss. On this point, Nāgasena, we maintain that Nirvāṇa must be alloyed with pain. And there is a reason for our adopting that view. What is that reason? Those, Nāgasena, who seek after Nirvāṇa are seen to practise exertion and application both of body and of mind, restraint in standing, walking, sitting, lying, and eating, suppression of sleep, subjugation of the organs of sense, renunciation of wealth and corn, of dear relatives and friends. But all those who are joyful and happy in the world take delight in, are devoted to, the five pleasures of sense—they practise and delight their eyes in many kinds of pleasurable forms, such as at any time they like the best—they practise and delight their ears in many kinds of pleasurable sounds of revelry and song, such as at any time they like the best—they practise and delight their sense of smell with many kinds of perfumes of flowers, and fruits, and leaves, and bark, and roots, and sap, such as at any time they like the best—they practise and delight their tongue with many kinds of pleasurable tastes of hard foods and of soft, of syrups, drinks, and beverages, such as at any time they like the best—they practise and delight their sense of touch with many kinds of pleasurable feelings, tender and delicate, exquisite and soft, such as at any time they like the best—they practise and delight their minds with many sorts of conceptions and ideas, pure and impure, good and bad, such as at any time they like the best. You, on the other hand, put a stop to and destroy, PTS vp En 183 maim and mangle, put a drag on and restrain the development of your eye, and ear, and nose, and tongue, and body, and mind. Therefore is your body afflicted and your mind afflicted too, and your body being afflicted you feel bodily discomfort and pain, and your minds being afflicted you feel mental discomfort too and pain. Did not even Māgandiya, the ascetic, find fault with the Blessed One, and say: PTS vp Pali 314 “The Samaṇa Gotama is a destroyer of increase ?”’
PTS cs 59 ‘Nirvāṇa, O king, has no pain in it. It is bliss unalloyed. When you, O king, maintain that Nirvāṇa is painful, that which you call “painful” is not Nirvāṇa. It is the preliminary stage to the realisation of Nirvāṇa, it is the process of seeking after Nirvāṇa. Nirvāṇa itself is bliss pure and simple, there is no pain mixed with it. And I will give you an explanation of this. Is there such a thing, O king, as the bliss of sovranty which kings enjoy?’
‘Most certainly.’
‘And is there no pain, O king, mingled with that bliss?’
‘No, Sir.’
‘But surely then, O king, why is it that when their frontier provinces have broken out in revolt, the kings, to the end that they may bring the inhabitants of those provinces into subjection again, leave their homes, attended by their ministers and chiefs, their PTS vp En 184 soldiers and their guards, and marching over ground even and uneven, tormented the while by gnats and mosquitoes and hot winds, engage in fierce fights, and suffer the presentiment of death?’
‘That, venerable Nāgasena, is not what is called the bliss of sovranty. It is only the preliminary stage in the pursuit of that bliss. It is after they have thus, in pain, sought after sovranty, that they enjoy the bliss thereof. And thus that bliss, Nāgasena, is itself unmixed with pain, for the bliss of sovranty is one thing, and the pain another.’
‘Just so, O king, is Nirvāṇa all bliss, and there is no pain mingled with it. Those who are in quest of Nirvāṇa afflict their minds and bodies it is true, restrain themselves in standing, walking, sitting, lying, and in food, suppress their sleep, keep their senses in subjection, abandon their very body and their life. But it is after they have thus, in pain, sought after Nirvāṇa, that they enjoy the Nirvāṇa which is bliss unalloyed—as kings do the bliss of sovranty after their foes have been put down. Thus is it, O king, that Nirvāṇa is all bliss, and there is no pain mingled with it. For Nirvāṇa is one thing, and the pain another.
PTS vp Pali 315 PTS cs 60 ‘And hear another explanation, O king, of the same thing. Is there such a thing, O king, as the bliss of knowledge which those teachers have who have passed through their course?’
‘Yes, Sir, there is.’
‘Well, is that bliss of knowledge alloyed with pain?’
‘No.’
‘What then, O king, is the good of their afflicting PTS vp En 185 Themselves by bowing down before and standing up in the presence of their teachers; by drawing water, and sweeping out the cell, and placing tooth-sticks and washing-water ready; by living upon scraps left over; by doing service in shampooing, and bathing, and washing of the feet; by suppressing their own will, and acting according to the will of others; by sleeping in discomfort, and feeding on distasteful food?’
‘That, Nāgasena, is not the bliss of knowledge, it is a preliminary stage in the pursuit thereof. It is after the teachers have, in pain, sought after knowledge, that they enjoy its bliss. Thus is it, Nāgasena, that the bliss of knowledge is unalloyed with pain. For that bliss of knowledge is one thing, and the pain another.’
‘Just so, O king, is Nirvāṇa all bliss, and there is no pain mingled with it. Those who are in quest of Nirvāṇa afflict their minds and bodies it is true, restrain themselves in standing, walking, sitting, lying, and in food, suppress their sleep, keep their senses in subjection, abandon their very body and their life. But it is after they have thus, in pain, sought after Nirvāṇa, that they enjoy the Nirvāṇa which is bliss unalloyed—as teachers do the bliss of knowledge. Thus is it, O king, that Nirvāṇa is all bliss, and there is no pain mingled with it. For Nirvāṇa is one thing, and the pain another.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the pain of Nirvāṇa.
CỦA NIẾT BÀN
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải Niết Bàn là thuần lạc, hay bị xen lẫn khổ?”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ.”
“Thưa ngài, chúng tôi không tin lời nói ấy: ‘Niết Bàn là thuần lạc.’ Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp này chúng tôi đối lập lại như vầy: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’ Và chúng tôi chấp nhận lý do ở đây rằng: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’ Lý do ở đây là điều nào?
Thưa ngài Nāgasena, đối với những người tầm cầu Niết Bàn thì sự khổ hạnh, sự hành xác của thân và của tâm được nhìn thấy, sự thận trọng trong việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, sự chống chọi lại cơn buồn ngủ, sự chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, sự dứt bỏ tài sản, lúa gạo, thân quyến, và bạn bè yêu quý. Những người nào ở thế gian được lạc thú, được cung phụng lạc thú, những người ấy, thậm chí tất cả, làm cho các giác quan được thích thú, được quen thuộc với năm loại dục; làm cho mắt được thích thú, được quen thuộc với sắc có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho tai được thích thú, được quen thuộc với thinh có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của tiếng ca tiếng đàn, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho mũi được thích thú, được quen thuộc với hương có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của bông hoa, trái cây, lá cây, vỏ cây, rễ cây, lõi cây, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho lưỡi được thích thú, được quen thuộc với vị có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của vật nhai, vật ăn, vật nhấm nháp, vật uống, vật nếm, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho thân được thích thú, được quen thuộc với xúc có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, trơn tru, mịn màng, mềm mại, êm dịu, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho ý được thích thú, được quen thuộc với các suy nghĩ và chú tâm, nhiều loại, thiện và ác, đẹp và xấu, làm hài lòng, làm thích ý.
Còn ngài thì tiêu diệt, phá hoại, chặt đứt, bẻ gãy, ngăn chặn, ngưng lại việc làm cho quen thuộc ấy của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì thế, thân cũng bị bực bội, tâm cũng bị bực bội, khi thân bị bực bội thì cảm nhận thọ khổ thuộc thân, khi tâm bị bực bội thì cảm nhận thọ khổ thuộc tâm. Chẳng phải du sĩ ngoại đạo Māgandiya trong lúc chê trách đức Thế Tôn cũng đã nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama có sự hành hạ chúng sinh.’ Ở đây, điều này là lý do mà với lý do ấy trẫm nói rằng: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’”
BJT 2“Tâu đại vương, Niết Bàn hẳn nhiên không bị xen lẫn khổ. Niết Bàn là thuần lạc. Tâu đại vương, còn điều mà ngài đã nói rằng: ‘Niết Bàn là khổ,’ khổ ấy không gọi là Niết Bàn. Tuy nhiên, điều đó là phần xảy ra trước của việc chứng ngộ Niết Bàn, điều ấy là sự tìm kiếm Niết Bàn. Tâu đại vương, Niết Bàn quả là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tôi sẽ nói về lý do của trường hợp ấy. Tâu đại vương, đối với các vị vua, có phải có lạc của vương quyền?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có lạc của vương quyền.”
“Tâu đại vương, phải chăng lạc của vương quyền ấy bị xen lẫn khổ?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao khi biên thùy dấy loạn, nhằm việc ngăn chận những kẻ sống ở vùng biên thùy ấy, các vị vua ấy, được tùy tùng bởi các quan đại thần, tướng lãnh, nhân công, binh lính, ra đi viễn chinh, bị quấy nhiễu bởi ruồi muỗi gió nắng, chạy khắp ở mặt đất bằng phẳng và gồ ghề, rồi tiến hành trận chiến lớn, và có sự hoài nghi về mạng sống?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy không gọi là lạc của vương quyền. Điều đó là phần xảy ra trước của việc tầm cầu lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, các vị vua, sau khi tầm cầu vương quyền một cách cực khổ, thì hưởng thụ lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, lạc của vương quyền không bị xen lẫn khổ là như vậy; lạc của vương quyền ấy là cái khác, khổ là cái khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tuy nhiên, những người nào tầm cầu Niết Bàn thì họ khiến cho thân và tâm khốn khổ, thận trọng về việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, chống chọi lại cơn buồn ngủ, chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, buông bỏ thân xác và mạng sống; sau khi tầm cầu Niết Bàn một cách cực khổ, thì hưởng thụ Niết Bàn, thuần lạc. Ngay khi các kẻ đối nghịch bị tiêu diệt, các vị vua hưởng thụ lạc của vương quyền. Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ, là như vậy; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.
BJT 3Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa: ‘Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.’ Tâu đại vương, có cái gọi là lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy về nghề nghiệp?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái gọi là lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy về nghề nghiệp.”
“Tâu đại vương, phải chăng lạc của nghệ thuật ấy bị xen lẫn khổ?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao đối với các vị thầy thì những người (học trò) ấy khiến cho thân khốn khổ với việc đảnh lễ, đứng dậy, mang nước lại, quét nhà, cung cấp gỗ chà răng, nước rửa mặt, với việc dọn dẹp rác rưởi, thoa bóp, tắm rửa, chăm sóc bàn chân, với việc hành xử thuận theo tâm của người khác sau khi buông tâm của mình, với việc ngủ một cách khổ cực, với thức ăn không đều đặn?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy không gọi là lạc của nghề nghiệp. Điều đó là phần xảy ra trước của việc tầm cầu nghề nghiệp. Thưa ngài Nāgasena, các vị thầy, sau khi tầm cầu nghề nghiệp một cách cực khổ, thì hưởng thụ lạc của nghề nghiệp. Thưa ngài Nāgasena, như vậy lạc của nghề nghiệp là cái khác, khổ là cái khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tuy nhiên, những người nào tầm cầu Niết Bàn thì họ khiến cho thân và mạng sống khốn khổ, thận trọng về việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, chống chọi lại cơn buồn ngủ, chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, buông bỏ thân xác và mạng sống; sau khi tầm cầu Niết Bàn một cách cực khổ, thì hưởng thụ Niết Bàn, thuần lạc, tợ như các vị thầy hưởng thụ lạc của nghề nghiệp. Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ, là như vậy; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất không bị xen lẫn khổ
của Niết Bàn là thứ chín.
“Bhante nāgasena, kiṁ ekantasukhaṁ nibbānaṁ, udāhu dukkhena missan”ti?
“Ekantasukhaṁ, mahārāja, nibbānaṁ, dukkhena amissan”ti.
“Na mayaṁ taṁ, bhante nāgasena, vacanaṁ saddahāma ‘ekantasukhaṁ nibbānan’ti, evamettha mayaṁ, bhante nāgasena, paccema ‘nibbānaṁ dukkhena missan’ti, kāraṇañcettha upalabhāma ‘nibbānaṁ dukkhena missan’ti.
Katamaṁ ettha kāraṇaṁ?
Ye te, bhante nāgasena, nibbānaṁ pariyesanti, tesaṁ dissati kāyassa ca cittassa ca ātāpo paritāpo ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhārapariggaho middhassa ca uparodho āyatanānañca paṭipīḷanaṁ dhanadhaññapiyañātimittappajahanaṁ.
Ye keci loke sukhitā sukhasamappitā, te sabbepi pañcahi kāmaguṇehi āyatane ramenti brūhenti, manāpikamanāpikabahuvidhasubhanimittena rūpena cakkhuṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikagītavāditabahuvidhasubhanimittena saddena sotaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikapupphaphalapattatacamūlasārabahuvidhasubhanimittena gandhena ghānaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikakhajjabhojjaleyyapeyyasāyanīyabahuvidhasubhanimittena rasena jivhaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikasaṇhasukhumamudumaddavabahuvidhasubhanimittena phassena kāyaṁ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikakalyāṇapāpakasubhāsubhabahuvidhavitakkamanasikārena manaṁ ramenti brūhenti.
Tumhe taṁ cakkhusotaghānajivhākāyamanobrūhanaṁ hanatha upahanatha, chindatha upacchindatha, rundhatha uparundhatha.
Tena kāyopi paritapati, cittampi paritapati, kāye paritatte kāyikadukkhavedanaṁ vediyati, citte paritatte cetasikadukkhavedanaṁ vedayati.
Nanu māgaṇḍiyopi paribbājako bhagavantaṁ garahamāno evamāha ‘bhūnahu samaṇo gotamo’ti.
Idamettha kāraṇaṁ, yenāhaṁ kāraṇena brūmi ‘nibbānaṁ dukkhena missan’”ti.
“Na hi, mahārāja, nibbānaṁ dukkhena missaṁ, ekantasukhaṁ nibbānaṁ.
Yaṁ pana tvaṁ, mahārāja, brūsi ‘nibbānaṁ dukkhan’ti, netaṁ dukkhaṁ nibbānaṁ nāma, nibbānassa pana sacchikiriyāya pubbabhāgo eso, nibbānapariyesanaṁ etaṁ, ekantasukhaṁyeva, mahārāja, nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ.
Ettha kāraṇaṁ vadāmi.
Atthi, mahārāja, rājūnaṁ rajjasukhaṁ nāmā”ti?
“Āma, bhante, atthi rājūnaṁ rajjasukhan”ti.
“Api nu kho taṁ, mahārāja, rajjasukhaṁ dukkhena missan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, rājāno paccante kupite tesaṁ paccantanissitānaṁ paṭisedhāya amaccehi pariṇāyakehi bhaṭehi balatthehi parivutā pavāsaṁ gantvā ḍaṁsamakasavātātapapaṭipīḷitā samavisame paridhāvanti, mahāyuddhañca karonti, jīvitasaṁsayañca pāpuṇantī”ti?
“Netaṁ, bhante nāgasena, rajjasukhaṁ nāma, rajjasukhassa pariyesanāya pubbabhāgo eso, dukkhena, bhante nāgasena, rājāno rajjaṁ pariyesitvā rajjasukhaṁ anubhavanti, evaṁ, bhante nāgasena, rajjasukhaṁ dukkhena amissaṁ, aññaṁ taṁ rajjasukhaṁ, aññaṁ dukkhan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ.
Ye pana taṁ nibbānaṁ pariyesanti, te kāyañca cittañca ātāpetvā ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhāraṁ pariggahetvā middhaṁ uparundhitvā āyatanāni paṭipīḷetvā kāyañca jīvitañca pariccajitvā dukkhena nibbānaṁ pariyesitvā ekantasukhaṁ nibbānaṁ anubhavanti, nihatapaccāmittā viya rājāno rajjasukhaṁ.
Evaṁ, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ, aññaṁ nibbānaṁ, aññaṁ dukkhanti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ, aññaṁ dukkhaṁ, aññaṁ nibbānanti.
Atthi, mahārāja, ācariyānaṁ sippavantānaṁ sippasukhaṁ nāmā”ti?
“Āma, bhante, atthi ācariyānaṁ sippavantānaṁ sippasukhan”ti.
“Api nu kho taṁ, mahārāja, sippasukhaṁ dukkhena missan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, ācariyā ācariyānaṁ abhivādanapaccuṭṭhānena udakāharaṇagharasammajjanadantakaṭṭhamukhodakānuppadānena ucchiṭṭhapaṭiggahaṇaucchādananahāpanapādaparikammena sakacittaṁ nikkhipitvā paracittānuvattanena dukkhaseyyāya visamabhojanena kāyaṁ ātāpentī”ti?
“Netaṁ, bhante nāgasena, sippasukhaṁ nāma, sippapariyesanāya pubbabhāgo eso, dukkhena, bhante nāgasena, ācariyā sippaṁ pariyesitvā sippasukhaṁ anubhavanti, evaṁ, bhante nāgasena, sippasukhaṁ dukkhena amissaṁ, aññaṁ taṁ sippasukhaṁ, aññaṁ dukkhan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ.
Ye pana taṁ nibbānaṁ pariyesanti, te kāyañca cittañca ātāpetvā ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhāraṁ pariggahetvā middhaṁ uparundhitvā āyatanāni paṭipīḷetvā kāyañca jīvitañca pariccajitvā dukkhena nibbānaṁ pariyesitvā ekantasukhaṁ nibbānaṁ anubhavanti, ācariyā viya sippasukhaṁ.
Evaṁ, mahārāja, ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na dukkhena missaṁ, aññaṁ dukkhaṁ, aññaṁ nibbānan”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ekantasukhanibbānapañho navamo.