BJT 2432Tôi đã là người bán bánh ngọt ở thành phố Aruṇavatī. Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Sikhī đang đi ngang qua cánh cửa của tôi.
BJT 2433Với tâm ý trong sạch, tôi đã nhận lấy bình bát của đức Phật và đã dâng cúng bánh ngọt sālā đến đức Phật, bậc đã đi đến đạo lộ chân chánh.
BJT 2434(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng vật thực cứng trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của bánh ngọt sālā.
BJT 2435Trước đây mười bốn kiếp, tôi đã là vị Amitañjala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2436Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sālapūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Aruṇavatiyā nagare,
ahosiṁ pūpiko tadā;
Mama dvārena gacchantaṁ,
sikhinaṁ addasaṁ jinaṁ.
Buddhassa pattaṁ paggayha,
sālapupphaṁ adāsahaṁ;
Sammaggatassa buddhassa,
vippasannena cetasā.
Ekattiṁse ito kappe,
Yaṁ pupphamabhidāsahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
Sālapupphassidaṁ phalaṁ.
Ito cuddasakappamhi,
ahosiṁ amitañjalo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sālapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sālapupphiyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 2432 In Aruṇavatī city
I was a cake-maker back then.
I saw Sikhi Buddha, Victor,
traveling through a gate of mine. Verse 1
Walt 2433 Having taken the Buddha’s bowl
with a mind which was very clear,
I gave a sal flower to him,
Buddha, Highest-Point-Attainer. Verse 2
Walt 2434 In the thirty-one aeons since
I donated sweet-meats to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of a sal flower. Verse 3
Walt 2435 In the fourteenth aeon ago
I was named Amitañjala,
a wheel-turning king with great strength,
possessor of the seven gems. Verse 4
Walt 2436 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Sālapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Sālapupphiya Thera is finished.
BJT 2432Tôi đã là người bán bánh ngọt ở thành phố Aruṇavatī. Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Sikhī đang đi ngang qua cánh cửa của tôi.
BJT 2433Với tâm ý trong sạch, tôi đã nhận lấy bình bát của đức Phật và đã dâng cúng bánh ngọt sālā đến đức Phật, bậc đã đi đến đạo lộ chân chánh.
BJT 2434(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng vật thực cứng trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của bánh ngọt sālā.
BJT 2435Trước đây mười bốn kiếp, tôi đã là vị Amitañjala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2436Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sālapūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Aruṇavatiyā nagare,
ahosiṁ pūpiko tadā;
Mama dvārena gacchantaṁ,
sikhinaṁ addasaṁ jinaṁ.
Buddhassa pattaṁ paggayha,
sālapupphaṁ adāsahaṁ;
Sammaggatassa buddhassa,
vippasannena cetasā.
Ekattiṁse ito kappe,
Yaṁ pupphamabhidāsahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
Sālapupphassidaṁ phalaṁ.
Ito cuddasakappamhi,
ahosiṁ amitañjalo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sālapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sālapupphiyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.