BJT 2459Trước đây, tôi đã là người thợ rèn ở trong kinh thành Tivarā. Tôi đã dâng cúng một lưỡi rìu đến đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại.
BJT 2460Kể từ khi tôi đã dâng cúng lưỡi rìu trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng lưỡi rìu.
BJT 2461Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vāsidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Chỗ ngồi và nước, bát đĩa, vị có bánh ngọt sālā, vị liên quan đến chiếc chiếu, vòng rào chắn, thợ nhuộm màu, bông hoa piyāla,vị bố thí vật hiến dâng là trái xoài, việc bố trí, vị dâng cúng lưỡi rìu; (tổng cộng) có ba mươi tám câu kệ.
Phẩm Udakāsana là phẩm thứ hai mươi bốn.
“Kammārohaṁ pure āsiṁ,
tivarāyaṁ puruttame;
Ekā vāsi mayā dinnā,
sayambhuṁ aparājitaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ vāsimadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
vāsidānassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā vāsidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Vāsidāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Udakāsanavaggo catuvīsatimo.
Tassuddānaṁ
Udakāsanabhājanaṁ,
sālapupphī kilañjako;
Vedikā vaṇṇakāro ca,
piyālaambayāgado;
Jagatī vāsidātā ca,
gāthā tiṁsa ca aṭṭha ca.
Walt 2459 In the past I was a blacksmith
in Tivarā, best of cities.
One razor was the gift I made
to an unconquered Lonely One. Verse 1
Walt 2460 In the ninety-four aeons since
I gave him that razor back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
the fruit of a gifted razor. Verse 2
Walt 2461 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 3
Thus indeed Venerable Vāsidāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Vāsidāyaka Thera is finished.
The Summary:
Udakāsanī, Bhājanada
Sālapupphī, Kilañjada,
Vedika and Vaṇṇakāra,
Piyālam, Ambayāgada,
Jagatī and Vāsidāyi:
there are thirty verses plus eight.
The Udakāsanadāyi Chapter, the Twenty-Fourth
BJT 2459Trước đây, tôi đã là người thợ rèn ở trong kinh thành Tivarā. Tôi đã dâng cúng một lưỡi rìu đến đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại.
BJT 2460Kể từ khi tôi đã dâng cúng lưỡi rìu trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng lưỡi rìu.
BJT 2461Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vāsidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Chỗ ngồi và nước, bát đĩa, vị có bánh ngọt sālā, vị liên quan đến chiếc chiếu, vòng rào chắn, thợ nhuộm màu, bông hoa piyāla,vị bố thí vật hiến dâng là trái xoài, việc bố trí, vị dâng cúng lưỡi rìu; (tổng cộng) có ba mươi tám câu kệ.
Phẩm Udakāsana là phẩm thứ hai mươi bốn.
“Kammārohaṁ pure āsiṁ,
tivarāyaṁ puruttame;
Ekā vāsi mayā dinnā,
sayambhuṁ aparājitaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ vāsimadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
vāsidānassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā vāsidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Vāsidāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Udakāsanavaggo catuvīsatimo.
Tassuddānaṁ
Udakāsanabhājanaṁ,
sālapupphī kilañjako;
Vedikā vaṇṇakāro ca,
piyālaambayāgado;
Jagatī vāsidātā ca,
gāthā tiṁsa ca aṭṭha ca.