BJT 4617Đức Phật là vị đã tu tập về tâm, đã chế ngự bản thân, được định tĩnh, đang cư xử theo đường lối Phạm hạnh, thích thú trong sự tịnh lặng của tâm.
BJT 4618Tôi đã suy tưởng về bậc Toàn Giác đã vượt qua dòng nước lũ, về bậc Hiền Trí được thỏa thích về thiền, đã tiến vào sự thể nhập (định), có ánh sáng của cánh hoa súng.
BJT 4619Sau khi lấy nước bằng cái bầu (đựng nước), tôi đã đi đến đức Phật tối thượng. Sau khi rửa các bàn chân của đức Phật, tôi đã dâng cúng cái bầu nước.
BJT 4620Và bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đã truyền lệnh rằng: “Bằng cái bầu này, ngươi hãy đem nước lại và hãy đặt ở cạnh bàn chân của Ta.”
BJT 4621Tôi đã đáp lại rằng: “Lành thay!” Và với lòng tôn kính bậc Đạo Sư, tôi đã mang lại nước bằng cái bầu và đã đưa đến gần đức Phật tối thượng.
BJT 4622Trong khi làm cho tâm của tôi được mát mẻ, đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ rằng: “Do sự dâng cúng cái bầu này, mong rằng ý định của người được thành tựu.”
BJT 4623Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên trong mười lăm kiếp. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi lần.
BJT 4624Vào ban ngày hoặc ban đêm nếu tôi đang đi kinh hành hoặc đang đứng, có người cầm cây gậy vàng đứng ở phía trước tôi.
BJT 4625Sau khi dâng cúng cái bầu nước đến đức Phật, tôi đạt được cây gậy vàng. Hành động đã được thực hiện dầu là nhỏ nhoi trở thành to lớn như thế ấy.
BJT 4626Kể từ khi tôi đã dâng cúng cái bầu nước trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cái bầu nước.
BJT 4627Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4628Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4629Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Soṇṇakontarikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Soṇṇakontarika là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị trưởng lão quét một lần, vị có tấm vải độc nhất, vị có một chỗ ngồi, vị dâng (bông hoa) kadamba, vị dâng (bông hoa) koraṇḍa, vị (dâng) bơ lỏng, vị lắng nghe (Giáo Pháp), vị đã khéo suy nghĩ, vị liên quan đến (bông hoa) kiṅkaṇī, và vị có cây gậy vàng. Có một trăm câu kệ và thêm vào bảy mươi mốt câu nữa.
Phẩm Sakiṁsammajjaka là phẩm thứ bốn mươi ba.
“Manobhāvaniyaṁ buddhaṁ,
attadantaṁ samāhitaṁ;
Iriyamānaṁ brahmapathe,
cittavūpasame rataṁ.
Nittiṇṇaoghaṁ sambuddhaṁ,
jhāyiṁ jhānarataṁ muniṁ;
Upatitthaṁ samāpannaṁ,
indivaradalappabhaṁ.
Alābunodakaṁ gayha,
buddhaseṭṭhaṁ upāgamiṁ;
Buddhassa pāde dhovitvā,
alābukamadāsahaṁ.
Āṇāpesi ca sambuddho,
padumuttaranāmako;
‘Iminā dakamāhatvā,
pādamūle ṭhapehi me’.
Sādhūtihaṁ paṭissutvā,
satthugāravatāya ca;
Dakaṁ alābunāhatvā,
buddhaseṭṭhaṁ upāgamiṁ.
Anumodi mahāvīro,
cittaṁ nibbāpayaṁ mama;
‘Iminālābudānena,
saṅkappo te samijjhatu’.
Pannarasesu kappesu,
devaloke ramiṁ ahaṁ;
Tiṁsatikkhattuṁ rājā ca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Divā vā yadi vā rattiṁ,
caṅkamantassa tiṭṭhato;
Sovaṇṇaṁ kontaraṁ gayha,
tiṭṭhate purato mama.
Buddhassa datvānalābuṁ,
labhāmi soṇṇakontaraṁ;
Appakampi kataṁ kāraṁ,
vipulaṁ hoti tādisu.
Satasahassito kappe,
yaṁlābumadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
alābussa idaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā soṇṇakontariko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Soṇṇakontarikattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Sakiṁsammajjakavaggo tecattālīsamo.
Tassuddānaṁ
Sakiṁsammajjako thero,
ekadussī ekāsanī;
Kadambakoraṇḍakado,
ghatassavanikopi ca.
Sucintiko kiṅkaṇiko,
soṇṇakontarikopi ca;
Ekagāthāsatañcettha,
ekasattatimeva ca.
Walt 4617 The Self-Composed One, the Buddha,
the Self-Tamer, Attentive One,
Wandering the Path of Brahmā,
Delighting in Mental Relief, Verse 1
Walt 4618 the Flood-Crosser, the Sambuddha,
Who Loves Meditation and Trance,
the Sage, the Seated One, Attainer,
Brilliant as Blue Lotus Petals: Verse 2
Walt 4619 I approached him, the Best Buddha,
taking a gourd to hold water.
After washing the Buddha’s feet,
I gave that water-gourd to him. Verse 3
Walt 4620 The Sambuddha then had it fetched,
the Leader, Padumuttara,
“Bringing more water with this gourd,
place it at the soles of my feet.” Verse 4
Walt 4621 Agreeing, saying, “Excellent,”
and with respect for the Teacher,
carrying water with the gourd,
I brought it to the Best Buddha. Verse 5
Walt 4622 The Great Hero gave thanks for that,
quenching the anguish in my heart,
“Because of giving me this gourd,
let what you think be accomplished.” Verse 6
Walt 4623 For fifteen aeons after that,
I delighted in the gods’ world,
and thirty times I was a king,
a king who turns the wheel of law. Verse 7
Walt 4624 Whether by day or else by night,
walking back and forth or standing,
a water pot made out of gold
is standing right in front of me. Verse 8
Walt 4625 Giving a gourd to the Buddha,
I receive a gold water-pot:
the deed done with little trouble
becomes huge like that later on. Verse 9
Walt 4626 In the hundred thousand aeons
since I gave him that gourd back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving a gourd. Verse 10
Walt 4627 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 11
Walt 4628 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 12
Walt 4629 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 13
Thus indeed Venerable Sovaṇṇakattarika Thera spoke these verses.
The legend of Sovaṇṇakattarika Thera is finished.
The Summary:
Sakiṁsammajjaka Thera,
Ekadussī, thus Āsanī,
then Kadamba and Koraṇḍa,
Ghataṅ, also Savanika,
Sucintita, Kiṇkhanika,
and Soṇṇa-Kattarika too:
there are a hundred verses here
plus seventy-one more verses
The Sakiṁsammajjaka Chapter, the Forty-Third