Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trí nhớ sanh lên với bao nhiêu hình thức?”
“Tâu đại vương, trí nhớ sanh lên với mười sáu hình thức. Với mười sáu hình thức gì? Tâu đại vương,
- trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan,
- trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức sự kiện trọng đại,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp,
- trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ,
- trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt,
- trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói,
- trí nhớ sanh lên do đặc điểm,
- trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại,
- trí nhớ sanh lên do việc viết chữ,
- trí nhớ sanh lên do việc tính toán,
- trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng,
- trí nhớ sanh lên do việc tu tập,
- trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở,
- trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận,
- trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm.”
“Trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, giống như trường hợp đại đức Ānanda và nữ cư sĩ Khujjuttarā, hoặc bất cứ những người nào khác có được năng lực về đời sống (quá khứ) nhớ lại đời sống (quá khứ). Trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, và những người khác thúc giục người ấy với mục đích nhắc nhở. Trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức các sự kiện trọng đại nghĩa là thế nào? Khi được tấn phong vương quyền hoặc khi đạt được quả vị Nhập Lưu. Trí nhớ sanh lên do nhận thức các sự kiện trọng đại nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp nghĩa là thế nào? Vị được hạnh phúc về điều nào đó rồi nhớ lại rằng: ‘Ta được hạnh phúc như vầy.’ Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp nghĩa là thế nào? Vị bị đau khổ về điều nào đó rồi nhớ lại rằng: ‘Ta bị đau khổ như vầy.’ Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ nghĩa là thế nào? Sau khi nhìn thấy người tương tợ thì nhớ lại người mẹ, hoặc người cha, hoặc anh em trai, hoặc chị em gái; sau khi nhìn thấy con lạc đà, hoặc con bò, hoặc con lừa thì nhớ lại con lạc đà, hoặc con bò, hoặc con lừa khác tương tợ như thế. Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt nghĩa là thế nào? Vị nhớ lại rằng: ‘Người kia có như vầy: sắc thế này, thinh thế này, hương thế này, vị thế này, xúc thế này.’ Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, những người khác nhắc nhở người ấy, nhờ thế người ấy nhớ lại. Trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do đặc điểm nghĩa là thế nào? Nhận ra nhờ vào dấu sắt nung của những con bò kéo là nhận ra do đặc điểm. Trí nhớ sanh lên do đặc điểm nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, những người khác liên tục nhắc nhở người ấy rằng: ‘Ngươi hãy nhớ lại, ngươi hãy nhớ lại.’ Trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc viết chữ nghĩa là thế nào? Do đã được học tập về chữ viết nên nhận biết được rằng: ‘Nên thực hiện chữ cái này liền với chữ cái này.’ Trí nhớ sanh lên do việc viết chữ nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tính toán nghĩa là thế nào? Những người kế toán, do đã được học tập về việc tính toán, nên tính toán nhiều. Trí nhớ sanh lên do việc tính toán nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng nghĩa là thế nào? Những người chuyên học thuộc lòng, do đã được học tập về việc thuộc lòng, nên thuộc lòng được nhiều. Trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tu tập nghĩa là thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Ở nơi ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, có sự nhận biết lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, có sự nhận biết lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt. Trí nhớ sanh lên do việc tu tập nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở nghĩa là thế nào? Các vị vua trong khi tưởng nhớ về điều giáo huấn (rồi ra lệnh): ‘Hãy mang lại một cuốn sách,’ và tưởng nhớ lại nhờ cuốn sách ấy. Trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận nghĩa là thế nào? Sau khi nhìn thấy hàng hóa được đặt xuống gần bên thì nhớ lại. Trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm nghĩa là thế nào? Vị nhớ lại cảnh sắc do đã thấy, nhớ lại cảnh thinh do đã nghe, nhớ lại hương do đã ngửi, nhớ lại vị do đã nếm, nhớ lại xúc do đã chạm, nhớ lại pháp do đã nhận thức. Trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm nghĩa là như vậy.
Tâu đại vương, trí nhớ sanh lên với mười sáu hình thức này.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, katihākārehi sati uppajjatī”ti?
“Sattarasahākārehi, mahārāja, sati uppajjatī”ti.
“Katamehi sattarasahākārehī”ti?
“Abhijānatopi, mahārāja, sati uppajjati, kaṭumikāyapi sati uppajjati, oḷārikaviññāṇatopi sati uppajjati, hitaviññāṇatopi sati uppajjati, ahitaviññāṇatopi sati uppajjati, sabhāganimittatopi sati uppajjati, visabhāganimittatopi sati uppajjati, kathābhiññāṇatopi sati uppajjati, lakkhaṇatopi sati uppajjati, sāraṇatopi sati uppajjati, muddātopi sati uppajjati, gaṇanātopi sati uppajjati, dhāraṇatopi sati uppajjati, bhāvanatopi sati uppajjati, potthakanibandhanatopi sati uppajjati, upanikkhepatopi sati uppajjati, anubhūtatopi sati uppajjatīti.
Kathaṁ abhijānato sati uppajjati?
Yathā, mahārāja, āyasmā ca ānando khujjuttarā ca upāsikā, ye vā pana aññepi keci jātissarā jātiṁ saranti, evaṁ abhijānato sati uppajjati.
Kathaṁ kaṭumikāya sati uppajjati?
Yo pakatiyā muṭṭhassatiko, pare ca taṁ sarāpanatthaṁ nibandhanti, evaṁ kaṭumikāya sati uppajjati.
Kathaṁ oḷārikaviññāṇato sati uppajjati?
Yadā rajje vā abhisitto hoti, sotāpattiphalaṁ vā patto hoti, evaṁ oḷārikaviññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ hitaviññāṇato sati uppajjati?
Yamhi sukhāpito, ‘amukasmiṁ evaṁ sukhāpito’ti sarati, evaṁ hitaviññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ ahitaviññāṇato sati uppajjati?
Yamhi dukkhāpito, ‘amukasmiṁ evaṁ dukkhāpito’ti sarati, evaṁ ahitaviññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ sabhāganimittato sati uppajjati?
Sadisaṁ puggalaṁ disvā mātaraṁ vā pitaraṁ vā bhātaraṁ vā bhaginiṁ vā sarati, oṭṭhaṁ vā goṇaṁ vā gadrabhaṁ vā disvā aññaṁ tādisaṁ oṭṭhaṁ vā goṇaṁ vā gadrabhaṁ vā sarati, evaṁ sabhāganimittato sati uppajjati.
Kathaṁ visabhāganimittato sati uppajjati?
Asukassa nāma vaṇṇo ediso, saddo ediso, gandho ediso, raso ediso, phoṭṭhabbo edisoti sarati, evampi visabhāganimittatopi sati uppajjati.
Kathaṁ kathābhiññāṇato sati uppajjati?
Yo pakatiyā muṭṭhassatiko hoti, taṁ pare sarāpenti, tena so sarati, evaṁ kathābhiññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ lakkhaṇato sati uppajjati?
Yo pakatiyā balībaddānaṁ aṅgena jānāti, lakkhaṇena jānāti, evaṁ lakkhaṇato sati uppajjati.
Kathaṁ sāraṇato sati uppajjati?
Yo pakatiyā muṭṭhassatiko hoti, yo taṁ ‘sarāhi bho, sarāhi bho’ti punappunaṁ sarāpeti, evaṁ sāraṇato sati uppajjati.
Kathaṁ muddāto sati uppajjati?
Lipiyā sikkhitattā jānāti ‘imassa akkharassa anantaraṁ imaṁ akkharaṁ kātabban’ti evaṁ muddāto sati uppajjati.
Kathaṁ gaṇanāto sati uppajjati?
Gaṇanāya sikkhitattā gaṇakā bahumpi gaṇenti, evaṁ gaṇanāto sati uppajjati.
Kathaṁ dhāraṇato sati uppajjati?
Dhāraṇāya sikkhitattā dhāraṇakā bahumpi dhārenti, evaṁ dhāraṇato sati uppajjati.
Kathaṁ bhāvanāto sati uppajjati?
Idha bhikkhu anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—
ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe…
iti sākāraṁ sauddesaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, evaṁ bhāvanāto sati uppajjati.
Kathaṁ potthakanibandhanato sati uppajjati?
Rājāno anusāsaniyaṁ assarantā etaṁ potthakaṁ āharathāti, tena potthakena anussaranti, evaṁ potthakanibandhanato sati uppajjati.
Kathaṁ upanikkhepato sati uppajjati?
Upanikkhittaṁ bhaṇḍaṁ disvā sarati, evaṁ upanikkhepato sati uppajjati.
Kathaṁ anubhūtato sati uppajjati?
Diṭṭhattā rūpaṁ sarati, sutattā saddaṁ sarati, ghāyitattā gandhaṁ sarati, sāyitattā rasaṁ sarati, phuṭṭhattā phoṭṭhabbaṁ sarati, viññātattā dhammaṁ sarati, evaṁ anubhūtato sati uppajjati.
Imehi kho, mahārāja, sattarasahākārehi sati uppajjatī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Satiuppajjanapañho paṭhamo.
PTS vp En 122 PTS cs 1 The king said: ‘In how many ways, Nāgasena, does memory spring up?’
‘In sixteen ways, O king. That is to say: by personal experience, as when the venerable Ānanda, or the devoted woman Khujjuttarā, or any others who had that power, called to mind their previous births—PTS vp Pali 79 or by outward aid, as when others continue to remind one who is by nature forgetful—or by the impression made by the greatness of some occasion, as kings remember their coronation day, or as we remember the day of our conversion-by the impression made by joy, as when one remembers that which gave him pleasure—or by the impression made by sorrow, as when one remembers that which pained him—or from similarity of appearance, as on seeing one like them we call to mind the mother or father or sister or brother, or on seeing a camel or an ox or an ass we call to mind others like them—or by difference of appearance, as when we remember that such and such a colour, sound, smell, taste, or touch belong to such and such a thing—or by the knowledge of speech, as when one who is by nature forgetful is reminded by others and then himself remembers—or by a sign, as when we recognise a draught bullock by a brand mark or some other sign-or from effort to recollect as when one by PTS vp En 123 nature forgetful is made to recollect by being urged again and again: “try and think of it"—or by calculation, as when one knows by the training he has received in writing that such and such a letter ought to follow after such and such a one—or by arithmetic, as when accountants do big sums by their knowledge of figures—or by learning by heart, as the repeaters of the scriptures by their skill in learning by heart recollect so much—PTS vp Pali 80 or by meditation, as when a Bhikkhu calls to mind his temporary states in days gone by—by reference to a book, as when kings calling to mind a previous regulation, say: “Bring the book here,” and remind themselves out of that—or by a pledge, as when at the sight of goods deposited a man recollects (the circumstances under which they were pledged)—or by association, as when one remembers a thing because one has seen it, or a sound because one has heard it, or an odour because one has smelt it, or a touch because one has felt it, or a concept because one has perceived it.’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trí nhớ sanh lên với bao nhiêu hình thức?”
“Tâu đại vương, trí nhớ sanh lên với mười sáu hình thức. Với mười sáu hình thức gì? Tâu đại vương,
- trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan,
- trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức sự kiện trọng đại,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp,
- trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ,
- trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt,
- trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói,
- trí nhớ sanh lên do đặc điểm,
- trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại,
- trí nhớ sanh lên do việc viết chữ,
- trí nhớ sanh lên do việc tính toán,
- trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng,
- trí nhớ sanh lên do việc tu tập,
- trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở,
- trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận,
- trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm.”
“Trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, giống như trường hợp đại đức Ānanda và nữ cư sĩ Khujjuttarā, hoặc bất cứ những người nào khác có được năng lực về đời sống (quá khứ) nhớ lại đời sống (quá khứ). Trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, và những người khác thúc giục người ấy với mục đích nhắc nhở. Trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức các sự kiện trọng đại nghĩa là thế nào? Khi được tấn phong vương quyền hoặc khi đạt được quả vị Nhập Lưu. Trí nhớ sanh lên do nhận thức các sự kiện trọng đại nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp nghĩa là thế nào? Vị được hạnh phúc về điều nào đó rồi nhớ lại rằng: ‘Ta được hạnh phúc như vầy.’ Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp nghĩa là thế nào? Vị bị đau khổ về điều nào đó rồi nhớ lại rằng: ‘Ta bị đau khổ như vầy.’ Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ nghĩa là thế nào? Sau khi nhìn thấy người tương tợ thì nhớ lại người mẹ, hoặc người cha, hoặc anh em trai, hoặc chị em gái; sau khi nhìn thấy con lạc đà, hoặc con bò, hoặc con lừa thì nhớ lại con lạc đà, hoặc con bò, hoặc con lừa khác tương tợ như thế. Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt nghĩa là thế nào? Vị nhớ lại rằng: ‘Người kia có như vầy: sắc thế này, thinh thế này, hương thế này, vị thế này, xúc thế này.’ Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, những người khác nhắc nhở người ấy, nhờ thế người ấy nhớ lại. Trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do đặc điểm nghĩa là thế nào? Nhận ra nhờ vào dấu sắt nung của những con bò kéo là nhận ra do đặc điểm. Trí nhớ sanh lên do đặc điểm nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, những người khác liên tục nhắc nhở người ấy rằng: ‘Ngươi hãy nhớ lại, ngươi hãy nhớ lại.’ Trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc viết chữ nghĩa là thế nào? Do đã được học tập về chữ viết nên nhận biết được rằng: ‘Nên thực hiện chữ cái này liền với chữ cái này.’ Trí nhớ sanh lên do việc viết chữ nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tính toán nghĩa là thế nào? Những người kế toán, do đã được học tập về việc tính toán, nên tính toán nhiều. Trí nhớ sanh lên do việc tính toán nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng nghĩa là thế nào? Những người chuyên học thuộc lòng, do đã được học tập về việc thuộc lòng, nên thuộc lòng được nhiều. Trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tu tập nghĩa là thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Ở nơi ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, có sự nhận biết lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, có sự nhận biết lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt. Trí nhớ sanh lên do việc tu tập nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở nghĩa là thế nào? Các vị vua trong khi tưởng nhớ về điều giáo huấn (rồi ra lệnh): ‘Hãy mang lại một cuốn sách,’ và tưởng nhớ lại nhờ cuốn sách ấy. Trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận nghĩa là thế nào? Sau khi nhìn thấy hàng hóa được đặt xuống gần bên thì nhớ lại. Trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm nghĩa là thế nào? Vị nhớ lại cảnh sắc do đã thấy, nhớ lại cảnh thinh do đã nghe, nhớ lại hương do đã ngửi, nhớ lại vị do đã nếm, nhớ lại xúc do đã chạm, nhớ lại pháp do đã nhận thức. Trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm nghĩa là như vậy.
Tâu đại vương, trí nhớ sanh lên với mười sáu hình thức này.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, katihākārehi sati uppajjatī”ti?
“Sattarasahākārehi, mahārāja, sati uppajjatī”ti.
“Katamehi sattarasahākārehī”ti?
“Abhijānatopi, mahārāja, sati uppajjati, kaṭumikāyapi sati uppajjati, oḷārikaviññāṇatopi sati uppajjati, hitaviññāṇatopi sati uppajjati, ahitaviññāṇatopi sati uppajjati, sabhāganimittatopi sati uppajjati, visabhāganimittatopi sati uppajjati, kathābhiññāṇatopi sati uppajjati, lakkhaṇatopi sati uppajjati, sāraṇatopi sati uppajjati, muddātopi sati uppajjati, gaṇanātopi sati uppajjati, dhāraṇatopi sati uppajjati, bhāvanatopi sati uppajjati, potthakanibandhanatopi sati uppajjati, upanikkhepatopi sati uppajjati, anubhūtatopi sati uppajjatīti.
Kathaṁ abhijānato sati uppajjati?
Yathā, mahārāja, āyasmā ca ānando khujjuttarā ca upāsikā, ye vā pana aññepi keci jātissarā jātiṁ saranti, evaṁ abhijānato sati uppajjati.
Kathaṁ kaṭumikāya sati uppajjati?
Yo pakatiyā muṭṭhassatiko, pare ca taṁ sarāpanatthaṁ nibandhanti, evaṁ kaṭumikāya sati uppajjati.
Kathaṁ oḷārikaviññāṇato sati uppajjati?
Yadā rajje vā abhisitto hoti, sotāpattiphalaṁ vā patto hoti, evaṁ oḷārikaviññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ hitaviññāṇato sati uppajjati?
Yamhi sukhāpito, ‘amukasmiṁ evaṁ sukhāpito’ti sarati, evaṁ hitaviññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ ahitaviññāṇato sati uppajjati?
Yamhi dukkhāpito, ‘amukasmiṁ evaṁ dukkhāpito’ti sarati, evaṁ ahitaviññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ sabhāganimittato sati uppajjati?
Sadisaṁ puggalaṁ disvā mātaraṁ vā pitaraṁ vā bhātaraṁ vā bhaginiṁ vā sarati, oṭṭhaṁ vā goṇaṁ vā gadrabhaṁ vā disvā aññaṁ tādisaṁ oṭṭhaṁ vā goṇaṁ vā gadrabhaṁ vā sarati, evaṁ sabhāganimittato sati uppajjati.
Kathaṁ visabhāganimittato sati uppajjati?
Asukassa nāma vaṇṇo ediso, saddo ediso, gandho ediso, raso ediso, phoṭṭhabbo edisoti sarati, evampi visabhāganimittatopi sati uppajjati.
Kathaṁ kathābhiññāṇato sati uppajjati?
Yo pakatiyā muṭṭhassatiko hoti, taṁ pare sarāpenti, tena so sarati, evaṁ kathābhiññāṇato sati uppajjati.
Kathaṁ lakkhaṇato sati uppajjati?
Yo pakatiyā balībaddānaṁ aṅgena jānāti, lakkhaṇena jānāti, evaṁ lakkhaṇato sati uppajjati.
Kathaṁ sāraṇato sati uppajjati?
Yo pakatiyā muṭṭhassatiko hoti, yo taṁ ‘sarāhi bho, sarāhi bho’ti punappunaṁ sarāpeti, evaṁ sāraṇato sati uppajjati.
Kathaṁ muddāto sati uppajjati?
Lipiyā sikkhitattā jānāti ‘imassa akkharassa anantaraṁ imaṁ akkharaṁ kātabban’ti evaṁ muddāto sati uppajjati.
Kathaṁ gaṇanāto sati uppajjati?
Gaṇanāya sikkhitattā gaṇakā bahumpi gaṇenti, evaṁ gaṇanāto sati uppajjati.
Kathaṁ dhāraṇato sati uppajjati?
Dhāraṇāya sikkhitattā dhāraṇakā bahumpi dhārenti, evaṁ dhāraṇato sati uppajjati.
Kathaṁ bhāvanāto sati uppajjati?
Idha bhikkhu anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—
ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe…
iti sākāraṁ sauddesaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, evaṁ bhāvanāto sati uppajjati.
Kathaṁ potthakanibandhanato sati uppajjati?
Rājāno anusāsaniyaṁ assarantā etaṁ potthakaṁ āharathāti, tena potthakena anussaranti, evaṁ potthakanibandhanato sati uppajjati.
Kathaṁ upanikkhepato sati uppajjati?
Upanikkhittaṁ bhaṇḍaṁ disvā sarati, evaṁ upanikkhepato sati uppajjati.
Kathaṁ anubhūtato sati uppajjati?
Diṭṭhattā rūpaṁ sarati, sutattā saddaṁ sarati, ghāyitattā gandhaṁ sarati, sāyitattā rasaṁ sarati, phuṭṭhattā phoṭṭhabbaṁ sarati, viññātattā dhammaṁ sarati, evaṁ anubhūtato sati uppajjati.
Imehi kho, mahārāja, sattarasahākārehi sati uppajjatī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Satiuppajjanapañho paṭhamo.