Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có bao nhiêu giác chi (chi phần đưa đến giác ngộ)?”
“Tâu đại vương, có bảy giác chi.”
“Thưa ngài, được giác ngộ với bao nhiêu giác chi?”
“Tâu đại vương, được giác ngộ với một giác chi là với trạch pháp giác chi.”
“Thưa ngài, vậy thì tại sao lại được nói là ‘bảy giác chi’?”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Cây gươm đã được tra vào vỏ, không được nắm bằng tay, có thể cắt được vật cần phải cắt?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiếu đi trạch pháp giác chi thì không được giác ngộ bằng sáu chi phần (còn lại).”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“kati nu kho, bhante nāgasena, bojjhaṅgā”ti?
“Satta kho, mahārāja, bojjhaṅgā”ti.
“Katihi pana, bhante, bojjhaṅgehi bujjhatī”ti?
“Ekena kho, mahārāja, bojjhaṅgena bujjhati dhammavicayasambojjhaṅgenā”ti.
“Atha kissa nu kho, bhante, vuccanti ‘satta bojjhaṅgā’”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, asi kosiyā pakkhitto aggahito hatthena ussahati chejjaṁ chinditun”ti.
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, dhammavicayasambojjhaṅgena vinā chahi bojjhaṅgehi na bujjhatī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Bojjhaṅgapañho chaṭṭho.
PTS cs 6 The king said: ‘Venerable Nāgasena, how many kinds of wisdom are there?’
‘Seven, O king.’
‘And by how many kinds of Wisdom does one become wise?’
‘By one: that is to say by the kind of wisdom called “the investigation of the Truth.”’
‘Then why is it said there are seven?’
‘Tell me, O king. Suppose a sword were lying in its sheath and not taken in the hand, could it cut off anything you wanted to cut off with it?’
‘Certainly not.’
‘Just so, great king, by the other kinds of wisdom can nothing be understood without investigation of the Truth.’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có bao nhiêu giác chi (chi phần đưa đến giác ngộ)?”
“Tâu đại vương, có bảy giác chi.”
“Thưa ngài, được giác ngộ với bao nhiêu giác chi?”
“Tâu đại vương, được giác ngộ với một giác chi là với trạch pháp giác chi.”
“Thưa ngài, vậy thì tại sao lại được nói là ‘bảy giác chi’?”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Cây gươm đã được tra vào vỏ, không được nắm bằng tay, có thể cắt được vật cần phải cắt?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiếu đi trạch pháp giác chi thì không được giác ngộ bằng sáu chi phần (còn lại).”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“kati nu kho, bhante nāgasena, bojjhaṅgā”ti?
“Satta kho, mahārāja, bojjhaṅgā”ti.
“Katihi pana, bhante, bojjhaṅgehi bujjhatī”ti?
“Ekena kho, mahārāja, bojjhaṅgena bujjhati dhammavicayasambojjhaṅgenā”ti.
“Atha kissa nu kho, bhante, vuccanti ‘satta bojjhaṅgā’”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, asi kosiyā pakkhitto aggahito hatthena ussahati chejjaṁ chinditun”ti.
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, dhammavicayasambojjhaṅgena vinā chahi bojjhaṅgehi na bujjhatī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Bojjhaṅgapañho chaṭṭho.