Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan cùng các Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo trẻ tuổi này, nên dạy dỗ cho họ như thế nào? Nên nói pháp cho họ như thế nào?”
Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Các Tỳ-kheo trẻ tuổi này, nên dùng bốn Niệm xứ dạy cho họ tu tập. Những gì là bốn? Đó là: Sống chánh niệm quán thân trên thân, phương tiện tinh cần, không hành buông lung, chánh trí, chánh niệm, tâm tịch định… cho đến, biết rõ thân. Sống chánh niệm quán, thọ, tâm, pháp trên pháp, phương tiện tinh cần, không hành buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm định tĩnh… cho đến biết pháp. Vì sao? Vì nếu Tỳ-kheo còn trụ ở địa vị hữu học mà chưa thăng tiến được, nhưng đang chí cầu Niết-bàn an ổn, thì hãy sống chánh niệm quán thân trên thân, phương tiện tinh cần, không hành buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm tịch tịnh; sống quán thọ, tâm, pháp trên pháp, phương tiện tinh cần, không hạnh buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm tịch tịnh… cho đến xa lìa đối với pháp.
“Nếu A-la-hán, các lậu đã hết, việc làm đã xong, đã bỏ hết gánh nặng, dứt hẳn các kết sử, bằng chánh tri mà khéo giải thoát; nhưng chính lúc này, cũng tu, sống quán thân trên thân, phương tiện tinh cần, không hạnh buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm vắng lặng, sống quán niệm thọ, tâm, pháp trên pháp,… cho đến xa lìa đối với pháp.”
Bấy giờ, Tôn giả A-nan, tùy hỷ hoan hỷ, đảnh lễ mà lui.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給T 0173c13孤獨園。時,尊者阿難與眾多比丘詣世尊T 0173c14所,稽首禮足,退坐一面。
尊者阿難白佛言:T 0173c15「世尊!此諸年少比丘當云何教授?云何為T 0173c16其說法?」
佛告阿難:「此諸年少比丘當以四T 0173c17念處教令修習。云何為四?謂身身觀念住,T 0173c18精勤方便,不放逸行,正智正念,寂定於心,T 0173c19乃至知身;受、心、法法觀念住,精勤方便,不T 0173c20放逸行,正念正智,寂靜於心,乃至知法。所T 0173c21以者何?若比丘住學地者,未得進上,T 0173c22志求安隱涅槃時,身身觀念住,精勤方便,T 0173c23不放逸行,正念正智,寂靜於心;受、心、法法觀T 0173c24念住,精勤方便,不放逸行,正念正智,寂靜T 0173c25於心,乃至於法遠離。若阿羅漢諸漏已盡,T 0173c26所作已作,捨諸重擔,盡諸有結,正知善解T 0173c27脫,當於彼時亦修身身觀念住,精勤方便,T 0173c28不放逸行,正念正智,寂靜於心;受、心、法法T 0173c29觀念住,乃至於法得遠離。」
時,尊者阿難歡喜T 0174a01隨喜,作禮而去。
T 0174a02 SC 1Thus have I heard. At one time the Buddha was abiding in Śrāvastī, in the Jeta Grove, in Anāthapiṇḍada’s Park. Then Venerable Ānanda along with an assembly of many bhikṣus went to the place of the Bhagavān, paid obeisance at his feet, and then sat off to one side. Venerable Ānanda addressed the Buddha, saying, “Bhagavān, what should these young bhikṣus be taught? How should the Dharma be spoken to them?”
SC 2The Buddha said to Ānanda, “These young bhikṣus should be taught the Four Bases of Mindfulness, causing them to be cultivated. What are these four? That is to say, [1] abiding in mindfulness of the body, observing the body: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind, even fully knowing the body; [2] and abiding in mindfulness of sensations; [3] of the mind; [4] and of dharmas, observing dharmas: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind, even fully knowing dharmas. For what reason?
SC 3“If a bhikṣu is dwelling at the ground of study, and who has not yet attained advancement, but has resolved to seek the peaceful tranquility of Nirvāṇa, [1] he abides in mindfulness of the body, observing the body: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind; [2] and of sensations; [3] and of the mind; [4] and abiding in mindfulness of dharmas, observing dharmas: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind, even fully detached from dharmas.
SC 4“If there is an arhat, with outflows dried up, who has done what was to be done, who has abandoned the burden, who has exhausted his fetters, and correctly known liberation: he also at that time still [1] abides in mindfulness of the body, observing the body: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind; [2] and of sensations; [3] and of the mind; [4] and abiding in mindfulness of dharmas, observing dharmas, even fully detached from dharmas.”
SC 5Then Venerable Ānanda joyfully paid his respects and departed.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan cùng các Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo trẻ tuổi này, nên dạy dỗ cho họ như thế nào? Nên nói pháp cho họ như thế nào?”
Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Các Tỳ-kheo trẻ tuổi này, nên dùng bốn Niệm xứ dạy cho họ tu tập. Những gì là bốn? Đó là: Sống chánh niệm quán thân trên thân, phương tiện tinh cần, không hành buông lung, chánh trí, chánh niệm, tâm tịch định… cho đến, biết rõ thân. Sống chánh niệm quán, thọ, tâm, pháp trên pháp, phương tiện tinh cần, không hành buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm định tĩnh… cho đến biết pháp. Vì sao? Vì nếu Tỳ-kheo còn trụ ở địa vị hữu học mà chưa thăng tiến được, nhưng đang chí cầu Niết-bàn an ổn, thì hãy sống chánh niệm quán thân trên thân, phương tiện tinh cần, không hành buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm tịch tịnh; sống quán thọ, tâm, pháp trên pháp, phương tiện tinh cần, không hạnh buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm tịch tịnh… cho đến xa lìa đối với pháp.
“Nếu A-la-hán, các lậu đã hết, việc làm đã xong, đã bỏ hết gánh nặng, dứt hẳn các kết sử, bằng chánh tri mà khéo giải thoát; nhưng chính lúc này, cũng tu, sống quán thân trên thân, phương tiện tinh cần, không hạnh buông lung, chánh niệm, chánh trí, tâm vắng lặng, sống quán niệm thọ, tâm, pháp trên pháp,… cho đến xa lìa đối với pháp.”
Bấy giờ, Tôn giả A-nan, tùy hỷ hoan hỷ, đảnh lễ mà lui.
SC 1Thus have I heard. At one time the Buddha was abiding in Śrāvastī, in the Jeta Grove, in Anāthapiṇḍada’s Park. Then Venerable Ānanda along with an assembly of many bhikṣus went to the place of the Bhagavān, paid obeisance at his feet, and then sat off to one side. Venerable Ānanda addressed the Buddha, saying, “Bhagavān, what should these young bhikṣus be taught? How should the Dharma be spoken to them?”
SC 2The Buddha said to Ānanda, “These young bhikṣus should be taught the Four Bases of Mindfulness, causing them to be cultivated. What are these four? That is to say, [1] abiding in mindfulness of the body, observing the body: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind, even fully knowing the body; [2] and abiding in mindfulness of sensations; [3] of the mind; [4] and of dharmas, observing dharmas: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind, even fully knowing dharmas. For what reason?
SC 3“If a bhikṣu is dwelling at the ground of study, and who has not yet attained advancement, but has resolved to seek the peaceful tranquility of Nirvāṇa, [1] he abides in mindfulness of the body, observing the body: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind; [2] and of sensations; [3] and of the mind; [4] and abiding in mindfulness of dharmas, observing dharmas: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind, even fully detached from dharmas.
SC 4“If there is an arhat, with outflows dried up, who has done what was to be done, who has abandoned the burden, who has exhausted his fetters, and correctly known liberation: he also at that time still [1] abides in mindfulness of the body, observing the body: ardent, vigilant, mindful and aware, quieted in mind; [2] and of sensations; [3] and of the mind; [4] and abiding in mindfulness of dharmas, observing dharmas, even fully detached from dharmas.”
SC 5Then Venerable Ānanda joyfully paid his respects and departed.