Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa801-900
SA826 Kinh 826. học (8)
SA801 Kinh 801. ngũ pháp SA802 Kinh 802. an-na-ban-na niệm (2) SA803 Kinh 803. an-na-ban-na niệm (3) SA804 Kinh 804. đoạn giác tưởng SA805 Kinh 805. a-lê-sắt-tra SA806 Kinh 806. kế-tân-na SA807 Kinh 807. nhất-xa-năng-già-la SA808 Kinh 808. ca-ma SA809 Kinh 809. kim cương SA810 Kinh 810. a-nan SA811 Kinh 811–812. tỳ-kheo SA812 Kinh 811–812. tỳ-kheo SA813 Kinh 813. kim-tỳ-la SA814 Kinh 814. bất bì SA815 Kinh 815. bố-tát SA816 Kinh 816. học (1) SA817 Kinh 817. học (2) SA818 Kinh 818. học (3) SA819 Kinh 819. học (4) SA820 Kinh 820. học (5) SA821 Kinh 821. học (6) SA822 Kinh 822. niết-bàn (1) SA823 Kinh 823. niết-bàn (2) SA824 Kinh 824. học (6) SA825 Kinh 825. học (7) SA826 Kinh 826. học (8) SA827 Kinh 827. canh ma SA828 Kinh 828. lô SA829 Kinh 829. bạt-kỳ tử SA830 Kinh 830. băng-già-xà SA831 Kinh 831. giới SA832 Kinh 832. học SA833 Kinh 833. ly-xa SA834 Kinh 834. bất bần SA835 Kinh 835. chuyển luân vương SA836 Kinh 836. tứ bất hoại tịnh SA837 Kinh 837. quá hoạn SA838 Kinh 838. thực SA839 Kinh 839. giới (1) SA840 Kinh 840. giới (2) SA841 Kinh 841. nhuận trạch SA842 Kinh 842. bà-la-môn SA843 Kinh 843. xá-lợi-phất (1) SA844 Kinh 844. xá-lợi-phất (2) SA845 Kinh 845. khủng bố (1) SA846 Kinh 846. khủng bố (2) SA847 Kinh 847. thiên đạo (1) SA848 Kinh 848. thiên đạo (2) SA849 Kinh 849. thiên đạo (3) SA850 Kinh 850. thiên đạo (4) SA851 Kinh 851. pháp kính (1) SA852 Kinh 852. pháp kính (2) SA853 Kinh 853. pháp kính (3) SA854 Kinh 854. na-lê-ca SA855 Kinh 855. nan-đề (1) SA856 Kinh 856. nan-đề (2) SA857 Kinh 857. nan-đề (3) SA858 Kinh 858. nan-đề (4) SA859 Kinh 859. lê-sư-đạt-đa SA860 Kinh 860. điền nghiệp SA861 Kinh 861. đâu-suất thiên SA862 Kinh 862. hóa lạc thiên SA863 Kinh 863. tha hóa tự tại thiên SA864 Kinh 864. sơ thiền SA865 Kinh 865. giải thoát SA866 Kinh 866. trung bát-niết-bàn SA867 Kinh 867. đệ nhị thiền thiên SA868 Kinh 868. giải thoát SA869 Kinh 869. đệ tam thiền SA870 Kinh 870. giải thoát SA871 Kinh 871. phong vân thiên SA872 Kinh 872. tán cái phú đăng SA873 Kinh 873. tứ chủng điều phục SA874 Kinh 874. tam chủng tử SA875 Kinh 875. tứ chánh đoạn (1) SA876 Kinh 876. tứ chánh đoạn (2) SA877 Kinh 877. tứ chánh đoạn (3) SA878 Kinh 878. tứ chánh đoạn (4) SA879 Kinh 879. tứ chánh đoạn (5) SA880 Kinh 880. bất phóng dật SA881 Kinh 881. đoạn tam SA882 Kinh 882. bất phóng dật căn bản SA883 Kinh 883. tứ chủng thiền SA884 Kinh 884. vô học tam minh (1) SA885 Kinh 885. vô học tam minh (2) SA886 Kinh 886. tam minh SA887 Kinh 887. tín SA888 Kinh 888. tăng ích SA889 Kinh 889. đẳng khởi SA890 Kinh 890. vô vi pháp SA891 Kinh 891. mao đoan SA892 Kinh 892. lục nội xứ SA893 Kinh 893. ngũ chủng chủng tử SA894 Kinh 894. như thật tri SA895 Kinh 895. tam ái SA896 Kinh 896. tam lậu SA897 Kinh 897. la-hầu-la SA898 Kinh 898. nhãn dĩ đoạn SA899 Kinh 899. nhãn sanh SA900 Kinh 900. vị trước
SA826

Kinh 826. học (8)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

Như đã nói ở trên, nhưng có một vài sai biệt:

“Này các Tỳ-kheo, thế nào là học giới theo phước lợi? Là Đại Sư vì các Thanh văn chế giới để nhiếp thủ Tăng, tích cực nhiếp thủ Tăng, khiến người không tin, được tin; người đã tin, tăng trưởng lòng tin; điều phục người ác; người tàm quý được sống an vui; phòng hộ hữu lậu hiện tại; chính thức đối trị được đời vị lai; khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài. Như Đại Sư đã vì Thanh văn chế giới để nhiếp thủ Tăng… cho đến khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài. Học giới như vậy như vậy, hành trì giới kiên cố, giới hằng tại, giới thường hành, giữ gìn học giới. Đó gọi là Tỳ-kheo nhờ giới mà được phước lợi.

“Thế nào trí tuệ là hơn hết? Đại Sư vì Thanh văn nói pháp với lòng đại bi thương cảm, vì nghĩa lợi, hoặc vì an ủi, hoặc vì an lạc, hoặc vì an ủi, an lạc. Như vậy, Đại Sư vì các Thanh văn nói pháp với lòng đại bi thương cảm, vì nghĩa lợi, an ủi, an lạc. Như vậy, đối với pháp nào, chỗ nào cũng dùng trí tuệ quán sát. Đó gọi là Tỳ-kheo trí tuệ là hơn hết.

“Thế nào là giải thoát kiên cố? Đại Sư vì các Thanh văn nói pháp với lòng đại bi thương cảm, vì nghĩa lợi, an ủi, an lạc. Như vậy, thuyết giảng pháp nào, chỗ nào, nơi nào cũng đem lại được an vui giải thoát. Đó gọi là Tỳ-kheo giải thoát kiên cố.

“Thế nào là Tỳ-kheo niệm tăng thượng? Người chưa đầy đủ giới thân, chuyên tâm cột niệm an trụ; điều chưa được quán sát, thì ở chỗ này chỗ kia bằng trí tuệ cột niệm an trụ. Điều đã được quán sát, thì ở chỗ này chỗ kia trùng khởi khởi niệm an trụ. Pháp chưa được xúc, thì ở chỗ này chỗ kia giải thoát niệm an trụ. Pháp đã được xúc, thì ở chỗ này chỗ kia giải thoát niệm an trụ. Đó gọi là Tỳ-kheo chánh niệm tăng lên. Sau đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Phước lợi theo học giới,
Thiền định chuyên tư duy;
Trí tuệ là tối thượng,
Đời này là tối hậu.

Thân Mâu-ni cuối cùng,
Hàng ma qua bờ kia.

Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

Kinh Thi-bà-ca như Phật sẽ nói ở sau. Cũng vậy, Tỳ-kheo A-nan và Tỳ-kheo khác hỏi, Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo. Ba kinh này cũng nói như trên.

⏳ Đang tải SA827...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc