Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa801-900
SA830 Kinh 830. băng-già-xà
SA801 Kinh 801. ngũ pháp SA802 Kinh 802. an-na-ban-na niệm (2) SA803 Kinh 803. an-na-ban-na niệm (3) SA804 Kinh 804. đoạn giác tưởng SA805 Kinh 805. a-lê-sắt-tra SA806 Kinh 806. kế-tân-na SA807 Kinh 807. nhất-xa-năng-già-la SA808 Kinh 808. ca-ma SA809 Kinh 809. kim cương SA810 Kinh 810. a-nan SA811 Kinh 811–812. tỳ-kheo SA812 Kinh 811–812. tỳ-kheo SA813 Kinh 813. kim-tỳ-la SA814 Kinh 814. bất bì SA815 Kinh 815. bố-tát SA816 Kinh 816. học (1) SA817 Kinh 817. học (2) SA818 Kinh 818. học (3) SA819 Kinh 819. học (4) SA820 Kinh 820. học (5) SA821 Kinh 821. học (6) SA822 Kinh 822. niết-bàn (1) SA823 Kinh 823. niết-bàn (2) SA824 Kinh 824. học (6) SA825 Kinh 825. học (7) SA826 Kinh 826. học (8) SA827 Kinh 827. canh ma SA828 Kinh 828. lô SA829 Kinh 829. bạt-kỳ tử SA830 Kinh 830. băng-già-xà SA831 Kinh 831. giới SA832 Kinh 832. học SA833 Kinh 833. ly-xa SA834 Kinh 834. bất bần SA835 Kinh 835. chuyển luân vương SA836 Kinh 836. tứ bất hoại tịnh SA837 Kinh 837. quá hoạn SA838 Kinh 838. thực SA839 Kinh 839. giới (1) SA840 Kinh 840. giới (2) SA841 Kinh 841. nhuận trạch SA842 Kinh 842. bà-la-môn SA843 Kinh 843. xá-lợi-phất (1) SA844 Kinh 844. xá-lợi-phất (2) SA845 Kinh 845. khủng bố (1) SA846 Kinh 846. khủng bố (2) SA847 Kinh 847. thiên đạo (1) SA848 Kinh 848. thiên đạo (2) SA849 Kinh 849. thiên đạo (3) SA850 Kinh 850. thiên đạo (4) SA851 Kinh 851. pháp kính (1) SA852 Kinh 852. pháp kính (2) SA853 Kinh 853. pháp kính (3) SA854 Kinh 854. na-lê-ca SA855 Kinh 855. nan-đề (1) SA856 Kinh 856. nan-đề (2) SA857 Kinh 857. nan-đề (3) SA858 Kinh 858. nan-đề (4) SA859 Kinh 859. lê-sư-đạt-đa SA860 Kinh 860. điền nghiệp SA861 Kinh 861. đâu-suất thiên SA862 Kinh 862. hóa lạc thiên SA863 Kinh 863. tha hóa tự tại thiên SA864 Kinh 864. sơ thiền SA865 Kinh 865. giải thoát SA866 Kinh 866. trung bát-niết-bàn SA867 Kinh 867. đệ nhị thiền thiên SA868 Kinh 868. giải thoát SA869 Kinh 869. đệ tam thiền SA870 Kinh 870. giải thoát SA871 Kinh 871. phong vân thiên SA872 Kinh 872. tán cái phú đăng SA873 Kinh 873. tứ chủng điều phục SA874 Kinh 874. tam chủng tử SA875 Kinh 875. tứ chánh đoạn (1) SA876 Kinh 876. tứ chánh đoạn (2) SA877 Kinh 877. tứ chánh đoạn (3) SA878 Kinh 878. tứ chánh đoạn (4) SA879 Kinh 879. tứ chánh đoạn (5) SA880 Kinh 880. bất phóng dật SA881 Kinh 881. đoạn tam SA882 Kinh 882. bất phóng dật căn bản SA883 Kinh 883. tứ chủng thiền SA884 Kinh 884. vô học tam minh (1) SA885 Kinh 885. vô học tam minh (2) SA886 Kinh 886. tam minh SA887 Kinh 887. tín SA888 Kinh 888. tăng ích SA889 Kinh 889. đẳng khởi SA890 Kinh 890. vô vi pháp SA891 Kinh 891. mao đoan SA892 Kinh 892. lục nội xứ SA893 Kinh 893. ngũ chủng chủng tử SA894 Kinh 894. như thật tri SA895 Kinh 895. tam ái SA896 Kinh 896. tam lậu SA897 Kinh 897. la-hầu-la SA898 Kinh 898. nhãn dĩ đoạn SA899 Kinh 899. nhãn sanh SA900 Kinh 900. vị trước
SA830

Kinh 830. băng-già-xà

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong rừng Băng-già-kỳ tại Băng-già-xà. Bấy giờ, Đức Thế Tôn vì các Tỳ-kheo nói pháp tương thích với giới, khen ngợi pháp chế giới. Lúc ấy, Tôn giả Ca-diếp Thị đang ở tại thôn Băng-già nghe Thế Tôn nói pháp tương ưng với giới, khen ngợi giới này, trong lòng rất không kham nhẫn, không hoan hỷ, nói rằng: ‘Sa-môn ấy khen ngợi giới này, tích cực chế giới này.’

Sau khi đã trú ở đó như ý muốn tại thôn Băng-già, Đức Thế Tôn hướng đến nước Xá-vệ. Lần lượt du hành đến vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.

Sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, Tôn giả Ca-diếp Thị liền sanh lòng hối hận: ‘Ta nay mất lợi, bị bất lợi lớn, khi Thế Tôn nói về pháp tương ứng với giới, khen ngợi việc chế giới; đối với Thế Tôn tâm ta không kham nhẫn, không hoan hỷ. Với tâm không hoan hỷ, nói rằng, ‘Sa-môn tích cực chế giới này, hết lòng khen ngợi giới này.’

Sáng sớm hôm sau, Tôn giả Ca-diếp Thị đắp y mang bát vào thôn Băng-già khất thực. Ăn xong trở về tinh xá, gởi ngọa cụ, rồi tự mang y bát đến thành Xá-vệ. Sau khi lần lượt du hành đến nước Xá-vệ, cất y bát và rửa chân xong, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân và bạch Phật rằng:

“Con xin hối lỗi, Thế Tôn! Con xin hối lỗi, Thiện Thệ! Con là kẻ ngu si không tốt, không phân biệt được; khi con nghe Thế Tôn vì các Tỳ-kheo mà nói pháp tương ứng với giới, khen ngợi việc chế giới, đối với Thế Tôn con đã không kham nhẫn, không hoan hỷ. Với tâm không hoan hỷ, nói rằng, ‘Sa-môn tích cực chế giới này, hết lòng khen ngợi giới này.’”

Phật bảo Ca-diếp Thị:

“Ở chỗ nào nơi Ta mà ông không kham nhẫn, không hoan hỷ. Với tâm không hoan hỷ, nói rằng, ‘Sa-môn tích cực chế giới này, hết lòng khen ngợi giới này.’?”

Ca-diếp Thị bạch Phật rằng:

“Lúc Thế Tôn ở trong rừng Băng-già-kỳ, tại thôn Băng-già-xà, vì các Tỳ-kheo nói pháp tương ứng với giới, khen ngợi giới này. Con lúc bấy giờ đối với Thế Tôn tâm không kham nhẫn, không hoan hỷ. Với tâm không hoan hỷ, nói rằng, ‘Sa-môn tích cực chế giới này, hết lòng khen ngợi giới này.’ Bạch Thế Tôn, hôm nay con tự biết hối tội, tự thấy hối tội mình. Xin Đức Thế Tôn thương xót nhận sự hối lỗi của con.”

Phật bảo Ca-diếp Thị:

“Ông đã tự biết hối lỗi vì đã ngu si, không tốt, không phân biệt được, nên khi nghe Ta vì các Tỳ-kheo nói pháp tương ứng với giới, khen ngợi việc chế giới, đối với Ta mà không kham nhẫn, không hoan hỷ. Với tâm không hoan hỷ, nói rằng, ‘Sa-môn tích cực chế giới này, hết lòng khen ngợi giới này.’ Ca-diếp, nay ông đã tự biết hối lỗi, đã tự thấy hối lỗi rồi, thì trong đời vị lai luật nghi giới sẽ sanh. Nay Ta vì thương xót ông nên nhận sự sám hối của ông.”

Sau khi Ca-diếp Thị sám hối như vậy rồi, thì thiện pháp tăng trưởng, không bao giờ bị suy giảm. Vì sao? Vì nếu có người nào tự biết tội, tự thấy tội, mà sám hối tội lỗi, thì trong đời vị lai luật nghi giới sẽ sanh, thiện pháp tăng trưởng, không bao giờ suy giảm.

“Giả sử Ca-diếp là một vị Thượng tọa, không muốn học giới, không coi trọng giới, không muốn chế giới, thì Tỳ-kheo như vậy Ta không khen ngợi. Vì sao? Vì nếu Đại Sư mà khen ngợi người này, thì những người khác sẽ lại gần gũi, cung kính, tôn trọng. Nếu người khác cùng gần gũi, tôn trọng, thì sẽ cũng có đồng kiến giải, đồng việc làm. Nếu người nào có việc làm giống như kia, thì mãi mãi sẽ chịu khổ không lợi ích gì. Cho nên Ta đối với Trưởng lão này, ban đầu không khen ngợi, vì vị ấy ngay lúc đầu đã không thích học giới. Như trưởng lão, trung niên, thiếu niên cũng như vậy.

“Nếu Thượng tọa Trưởng lão này, ban đầu coi trọng học giới, khen ngợi việc chế giới, thì Trưởng lão như vậy, Ta sẽ khen ngợi, vì ban đầu đã thích học giới. Đại Sư sẽ khen ngợi người này thì những người khác sẽ lại gần gũi, cung kính, tôn trọng. Nếu người khác cùng gần gũi, tôn trọng, thì sẽ cũng có đồng kiến giải, đồng việc làm. Đồng sở kiến, cho nên, đời vị lai sẽ được ích lợi lâu dài. Cho nên đối với vị Trưởng lão Tỳ-kheo kia, thường phải khen ngợi, vì sơ thủy đã vui thích học giới. Vị trung niên, thiếu niên cũng lại như vậy.”

Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA831...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc