Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn đi đến chỗ Phật gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một bên bạch Phật:
“Thưa Cù-đàm, con tên là Tín.”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Tín có nghĩa là tin vào tăng thượng giới, vào bố thí, đa văn, huệ xả, trí tuệ. Đó gọi là Tín, chứ không phải tín chỉ là một danh tự suông.”
Sau khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤T 0224a11獨園。
時,有異婆羅門來詣佛所,與世尊面T 0224a12相慰勞,慰勞已,退坐一面,白佛:「瞿曇!我名T 0224a13信。」
佛告婆羅門:「所謂信者,信增上戒、施、聞、T 0224a14捨、慧,是則為信,非名字是信也。」
時,婆羅門T 0224a15聞佛所說,歡喜隨喜,從坐起而去。
T 0224a16 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn đi đến chỗ Phật gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một bên bạch Phật:
“Thưa Cù-đàm, con tên là Tín.”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Tín có nghĩa là tin vào tăng thượng giới, vào bố thí, đa văn, huệ xả, trí tuệ. Đó gọi là Tín, chứ không phải tín chỉ là một danh tự suông.”
Sau khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.