BJT 2863Khi vị Thiên nhân mệnh chung từ tập thể chư Thiên do sự chấm dứt của tuổi thọ, chư Thiên đang tùy hỷ thường thốt lên ba lời nói rằng:
BJT 2864“Này bạn, từ nơi đây bạn hãy đi đến nhàn cảnh có sự cộng trú với loài người. Có bản thể nhân loại, bạn hãy đạt được niềm tin tối thượng vào Chánh Pháp.
BJT 2865Mong rằng niềm tin ấy của bạn được tạo lập, được sanh khởi cội rễ, được vững vàng trong Chánh Pháp đã khéo được công bố, và không bị dao động cho đến hết cuộc đời.”
BJT 2866“Bạn hãy làm việc thiện bằng thân, nhiều việc thiện bằng khẩu. Bạn hãy làm việc thiện bằng ý, (là việc) không có khổ đau, không có mầm tái sanh.
BJT 2867Sau đó, hãy làm nhiều việc phước còn có mầm tái sanh ấy bằng sự bố thí. Bạn cũng nên hướng dẫn những người bạn khác vào Chánh Pháp, vào Phạm hạnh.”
BJT 2868Do lòng thương tưởng này, chư Thiên khi đã biết vị thiên nhân đang mệnh chung, thường nói lời tùy hỷ rằng: “Hãy trở lại thành phố chư Thiên lần nữa.”
BJT 2869Khi ấy, lúc hội chúng chư Thiên đã hội tụ lại, đã có sự dao động ở tôi rằng: “Bị mệnh chung từ nơi này, ta sẽ đi đến sanh chủng nào?”
BJT 2870Sau khi biết được sự dao động của tôi, vị Sa-môn có các giác quan đã được tu tập ấy, với ý muốn tiếp độ tôi, đã đi đến gặp tôi.
BJT 2871Vị Thinh Văn của (đức Phật) Padumuttara tên là Sumana. Khi ấy, vị ấy đã chỉ dạy ý nghĩa và Giáo Pháp, và đã làm cho tôi chấn động.
BJT 2872Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật. Sau khi đảnh lễ bậc trí tuệ ấy, tôi đã qua đời ở tại nơi ấy.
BJT 2873Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, tôi đã được sanh ra ở chính tại nơi ấy. Trong khi sống ở trong bụng mẹ, tôi đã được người mẹ cưu mang lần nữa.
BJT 2874Sau khi mệnh chung từ thân ấy, tôi đã được sanh về thế giới chư Thiên. Khi ấy, tôi không nhận thấy tâm ưu phiền trong khoảng thời gian ấy.
BJT 2875Sau khi mệnh chung từ cõi trời Đạo Lợi, tôi đã hạ sanh vào bụng mẹ. Sau khi ra khỏi bụng mẹ, tôi đã biết được (nghiệp) đen lẫn trắng.
BJT 2876Chỉ mới bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã đi vào tu viện của đức Thế Tôn Gotama, người con trai của dòng Sakya như thế ấy.
BJT 2877Khi Phật Ngôn đã được lan rộng, khi Giáo Pháp đã được nhiều người hiểu biết, tôi đã nhìn thấy ở tại nơi ấy những vị thực hành Giáo Pháp, những vị tỳ khưu của bậc Đạo Sư.
BJT 2878Có thành phố tên là Sāvatthī, đức vua Kosala ngự ở tại nơi ấy. Đức vua đã đi đến cội Bồ Đề tối thượng bằng chiếc xe được kéo bằng voi.
BJT 2879Sau khi nhìn thấy con voi của đức vua, tôi đã tưởng nhớ lại nghiệp quá khứ. Tôi đã chắp tay lên và đã đi đến cuộc hội họp.
BJT 2880Chỉ mới bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Vị Thinh Văn tên Ānanda đã hầu cận đức Phật.
BJT 2881(Là người) có hành vi hoàn hảo, lại có nghị lực, có niệm, và nghe nhiều, trong khi làm tâm của đức vua được tịnh tín, vị có sự chói sáng rực rỡ đã truyền đạt lại (Giáo Pháp).
BJT 2882Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đã tưởng nhớ lại nghiệp quá khứ. Trong khi là người đứng ở ngay tại chỗ ấy, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 2883Sau khi khoác y một bên vai, tôi đã chắp tay lên ở đầu. Sau khi đảnh lễ đấng Toàn Giác, tôi đã thốt lên lời kệ này:
BJT 2884Tôi đã nâng lên bông hoa nigguṇḍī rồi đã đặt xuống ở bảo tọa sư tử của đức Phật Padumuttara, đấng Chúa Tể của loài người, bậc Đạo Sư.
BJT 2885“Bạch đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, nhờ vào nghiệp ấy con đã từ bỏ sự hơn thua và đã đạt được vị thế Bất Động.”
BJT 2886Trong hai mươi lăm ngàn kiếp, các bậc thống lãnh loài người (ở mỗi kiếp) đã là từng nhóm tám vị Sát-đế-lỵ có tuổi thọ dài, rất dài.
BJT 2887Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nigguṇḍipupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Nigguṇḍipupphiya là phần thứ bảy.
“Yadā devo devakāyā,
cavate āyusaṅkhayā;
Tayo saddā niccharanti,
devānaṁ anumodataṁ.
‘Ito bho sugatiṁ gaccha,
manussānaṁ sahabyataṁ;
Manussabhūto saddhamme,
labha saddhaṁ anuttaraṁ.
Sā te saddhā niviṭṭhāssa,
mūlajātā patiṭṭhitā;
Yāvajīvaṁ asaṁhīrā,
saddhamme suppavedite.
Kāyena kusalaṁ katvā,
vācāya kusalaṁ bahuṁ;
Manasā kusalaṁ katvā,
abyāpajjaṁ nirūpadhiṁ.
Tato opadhikaṁ puññaṁ,
katvā dānena taṁ bahuṁ;
Aññepi macce saddhamme,
brahmacariye nivesaya’.
Imāya anukampāya,
devādevaṁ yadā vidū;
Cavantaṁ anumodanti,
ehi deva punappunaṁ.
‘Saṁvego me tadā āsi,
devasaṅghe samāgate;
Kaṁsu nāma ahaṁ yoniṁ,
gamissāmi ito cuto’.
Mama saṁvegamaññāya,
samaṇo bhāvitindriyo;
Mamuddharitukāmo so,
āgacchi mama santikaṁ.
Sumano nāma nāmena,
padumuttarasāvako;
Atthadhammānusāsitvā,
saṁvejesi mamaṁ tadā.
Dvādasamaṁ bhāṇavāraṁ.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
buddhe cittaṁ pasādayiṁ;
Taṁ dhīraṁ abhivādetvā,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Upapajjiṁ sa tattheva,
sukkamūlena codito;
Vasanto mātukucchimhi,
puna dhāreti mātuyā.
Tamhā kāyā cavitvāna,
tidase upapajjahaṁ;
Etthantare na passāmi,
domanassamahaṁ tadā.
Tāvatiṁsā cavitvāna,
mātukucchiṁ samokkamiṁ;
Nikkhamitvāna kucchimhā,
kaṇhasukkaṁ ajānahaṁ.
Jātiyā sattavassova,
ārāmaṁ pāvisiṁ ahaṁ;
Gotamassa bhagavato,
sakyaputtassa tādino.
Vitthārike pāvacane,
bāhujaññamhi sāsane;
Addasaṁ sāsanakare,
bhikkhavo tattha satthuno.
Sāvatthi nāma nagaraṁ,
rājā tatthāsi kosalo;
Rathena nāgayuttena,
upesi bodhimuttamaṁ.
Tassāhaṁ nāgaṁ disvāna,
pubbakammaṁ anussariṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
samayaṁ agamāsahaṁ.
Jātiyā sattavassova,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Yo so buddhaṁ upaṭṭhāsi,
ānando nāma sāvako.
Gatimā dhitimā ceva,
satimā ca bahussuto;
Rañño cittaṁ pasādento,
niyyādesi mahājuti.
Tassāhaṁ dhammaṁ sutvāna,
pubbakammaṁ anussariṁ;
Tattheva ṭhitako santo,
arahattamapāpuṇiṁ.
Ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā,
sire katvāna añjaliṁ;
Sambuddhaṁ abhivādetvā,
imaṁ vācaṁ udīrayiṁ.
‘Padumuttarabuddhassa,
dvipadindassa satthuno;
Nigguṇḍipupphaṁ paggayha,
sīhāsane ṭhapesahaṁ.
Tena kammena dvipadinda,
lokajeṭṭha narāsabha;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ’.
Pañcavīsasahassamhi,
kappānaṁ manujādhipā;
Abbudanirabbudāni,
aṭṭhaṭṭhāsiṁsu khattiyā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā nigguṇḍipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Nigguṇḍipupphiyattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 2863 When according to his lifespan,
a god falls from the world,
three sayings get emitted then,
in the rejoicing of the gods. Verse 1
Walt 2864“From here, sir, go to a good state,
in the company of people.
Becoming human do obtain
great faith in the Excellent Truth. Verse 2
Walt 2865 Having established that, your faith,
in the well-known Excellent Truth,
well-fixed, born of those happy roots,
be steadfast as long as you live. Verse 3
Walt 2866 Doing good deeds with your body,
and doing much good with your speech;
doing good with your mind as well,
be free of hate and attachment. Verse 4
Walt 2867 Thus exalting the life you live,
doing merit with much giving,
make other men also enter
the chaste life and Excellent Truth.” Verse 5
Walt 2868 When gods know that a god’s falling,
filled with this sort of compassion,
they rejoice about his rebirth:
“O god come back repeatedly.” Verse 6
Walt 2869 I was moved when at that time the
assembly of gods had gathered,
“Well now then to what womb should I
go when I have fallen from here?” Verse 7
Walt 2870-2871Padumuttara’s follower,
known by the name of Sumana,
a monk with senses well-controlled,
realizing that I was moved
and desiring to lift me up,
did come into my presence then
and stirred me up instructing me
in the meaning and the Teaching. Verse 8-9
Walt 2872The Twelfth Recitation Portion
Having listened to his words I
made my heart pleased in the Buddha.
Having saluted that hero
I then passed away on the spot. Verse 10
Walt 2873 I was reborn right then and there,
incited by those happy roots.
Even dwelling in mother’s womb,
I was my mother’s instructor. Verse 11
Walt 2874 Having fallen from that body
I was reborn in Thirty-Three.
Within that heaven, then, for me,
mental disturbance was not seen. Verse 12
Walt 2875 Fallen from Tāvatiṁsa too,
I came in to a mother’s womb.
Coming out from that womb I knew
the diff’rence between black and white. Verse 13
Walt 2876 Being only seven years old,
I entered the park-hermitage
of Gotama, the Blessed One,
the Śākyan Son, the Neutral One. Verse 14
Walt 2877 When the dispensation had spread
and the Teaching was popular,
I saw the Teacher’s own monks there,
doers of his dispensation. Verse 15
Walt 2878 The city there, named Śrāvasti
had a king known as Kosala.
By elephant-chariot he
came to the supreme Bodhi tree. Verse 16
Walt 2879 Having seen his elephant there,
recalling my own past karma,
pressing both my hands together,
I also went to the event. Verse 17
Walt 2880-2881Being only seven years old,
I went forth into homelessness.
He who looked after the Buddha
was the follower Ānanda,
perfectly behaved, resolute,
mindful and very learned too.
He took charge of the Brilliant One,
bringing pleasure to the king’s heart. Verse 18-19
Walt 2882 After having heard his Teaching,
I recalled my own past karma.
Standing in that very spot I
then attained my arahantship. Verse 20
Walt 2883 Putting a robe on one shoulder.
hands pressed together on my head,
saluting him, the Sambuddha,
I uttered this speech then and there: Verse 21
Walt 2884 “Gathering nigguṇḍi blossoms
I placed them on the lion-throne
of Padumuttara Buddha,
the Lord of Bipeds, the Teacher. Verse 22
Walt 2285 Through that deed, O Biped Lord,
O World’s Best, O Bull among Men,
I’ve achieved the un-shaking state
without victory or defeat. Verse 23
Walt 2886 In aeon twenty-five-thousand,
royal lords of men numbered in
crore-hundred-trillions and hundred-
trillion-hundred-trillions, eight each. Verse 24
Walt 2887 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 25
Thus indeed Venerable Nigguṇḍipupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Nigguṇḍipupphiya Thera is finished.