BJT 2888Sau khi cùng nhau đi đến, tất cả dân chúng tiến hành việc cúng dường trọng thể đến đức Thế Tôn Vessabhū, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.
BJT 2889Khi ấy, tôi đã thực hiện một khối vôi bột cùng với vòng hoa đội đầu bằng bông hoa nhài, và tôi đã dâng lên ở phía trước bảo tọa sư tử.
BJT 2890Tất cả dân chúng sau khi cùng nhau đi đến nhìn thấy bông hoa tối thượng (nói rằng): “Người nào đã cúng dường bông hoa này đến đức Phật tối thượng như thế ấy?”
BJT 2891Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi Hóa Lạc Thiên. Tôi thọ hưởng nghiệp của mình đã khéo được thực hiện bởi bản thân trong thời quá khứ.
BJT 2892Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều là đối tượng yêu quý của tất cả; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 2893Tôi không biết đến sự phỉ báng (nào) đã được thực hiện bởi tôi bằng thân, bằng lời nói, hay bằng ý đối với các vị đạo sĩ khổ hạnh, những vị đã chế ngự bản thân.
BJT 2894Do việc ấy đã được thực hành tốt đẹp và do các nguyện lực của tâm, tôi là đối tượng được cúng dường của tất cả; điều này là quả báu của việc không phỉ báng.
BJT 2895(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2896Trước đây mười một kiếp, vị Sát-đế-lỵ tên Sahassāra đã là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2897Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sumanāveliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sumanāveliya là phần thứ tám.
“Vessabhussa bhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Sabbe janā samāgamma,
mahāpūjaṁ karonti te.
Sudhāya piṇḍaṁ katvāna,
āveḷaṁ sumanāyahaṁ;
Sīhāsanassa purato,
abhiropesahaṁ tadā.
Sabbe janā samāgamma,
pekkhanti pupphamuttamaṁ;
Kenidaṁ pūjitaṁ pupphaṁ,
buddhaseṭṭhassa tādino.
Tena cittappasādena,
nimmānaṁ upapajjahaṁ;
Anubhomi sakaṁ kammaṁ,
pubbe sukatamattano.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Sabbesānaṁ piyo homi,
pupphapūjāyidaṁ phalaṁ.
Nābhijānāmi kāyena,
vācāya uda cetasā;
Saṁyatānaṁ tapassīnaṁ,
kataṁ akkositaṁ mayā.
Tena sucaritenāhaṁ,
cittassa paṇidhīhi ca;
Sabbesaṁ pūjito homi,
anakkosassidaṁ phalaṁ.
Ito ekādase kappe,
sahassārosi khattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sumanāveḷiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sumanāveḷiyattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 2888 All the people, come together,
were doing a great pūjā for
Vessabhu Buddha, Blessed One,
the World’s Best One, the Neutral One. Verse 1
Walt 2889 Making a ball of pure alms food
and, happy, a floral garland,
I then offered them in front of
the lion-throne of the Buddha. Verse 2
Walt 2890 All the people, come together,
are seeing that superb flower.
“By whom was this flower offered
to the Best Buddha, Neutral One?” Verse 3
Walt 2891 Because of that mental pleasure,
I was reborn in Nimmāna.
I experience own-karma,
done well in the past by myself. Verse 4
Walt 2892 In whichever womb I’m reborn,
whether it’s human or divine,
I am dear to all the people:
that’s the fruit of flower-pūjā. Verse 5
Walt 2893 I’ve come to know no reviling
of self-controlled ascetics done
by me by means of my body,
nor with my speech nor through my mind. Verse 6
Walt 2894 Because of that good behavior
and my mental resolution,
I am honored by all people:
that’s the fruit of not reviling. Verse 7
Walt 2895 In the thirty-one aeons since
I did that flower-pūjā then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 8
Walt 2896 In the eleventh aeon hence
there was a king, Sahassāra,
wheel-turning monarch with great strength,
possessor of the seven gems. Verse 9
Walt 2897 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Thus indeed Venerable Sumanāveliya Thera spoke these verses.
The legend of Sumanāveliya Thera is finished.
BJT 2888Sau khi cùng nhau đi đến, tất cả dân chúng tiến hành việc cúng dường trọng thể đến đức Thế Tôn Vessabhū, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.
BJT 2889Khi ấy, tôi đã thực hiện một khối vôi bột cùng với vòng hoa đội đầu bằng bông hoa nhài, và tôi đã dâng lên ở phía trước bảo tọa sư tử.
BJT 2890Tất cả dân chúng sau khi cùng nhau đi đến nhìn thấy bông hoa tối thượng (nói rằng): “Người nào đã cúng dường bông hoa này đến đức Phật tối thượng như thế ấy?”
BJT 2891Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi Hóa Lạc Thiên. Tôi thọ hưởng nghiệp của mình đã khéo được thực hiện bởi bản thân trong thời quá khứ.
BJT 2892Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều là đối tượng yêu quý của tất cả; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 2893Tôi không biết đến sự phỉ báng (nào) đã được thực hiện bởi tôi bằng thân, bằng lời nói, hay bằng ý đối với các vị đạo sĩ khổ hạnh, những vị đã chế ngự bản thân.
BJT 2894Do việc ấy đã được thực hành tốt đẹp và do các nguyện lực của tâm, tôi là đối tượng được cúng dường của tất cả; điều này là quả báu của việc không phỉ báng.
BJT 2895(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2896Trước đây mười một kiếp, vị Sát-đế-lỵ tên Sahassāra đã là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2897Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sumanāveliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sumanāveliya là phần thứ tám.
“Vessabhussa bhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Sabbe janā samāgamma,
mahāpūjaṁ karonti te.
Sudhāya piṇḍaṁ katvāna,
āveḷaṁ sumanāyahaṁ;
Sīhāsanassa purato,
abhiropesahaṁ tadā.
Sabbe janā samāgamma,
pekkhanti pupphamuttamaṁ;
Kenidaṁ pūjitaṁ pupphaṁ,
buddhaseṭṭhassa tādino.
Tena cittappasādena,
nimmānaṁ upapajjahaṁ;
Anubhomi sakaṁ kammaṁ,
pubbe sukatamattano.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Sabbesānaṁ piyo homi,
pupphapūjāyidaṁ phalaṁ.
Nābhijānāmi kāyena,
vācāya uda cetasā;
Saṁyatānaṁ tapassīnaṁ,
kataṁ akkositaṁ mayā.
Tena sucaritenāhaṁ,
cittassa paṇidhīhi ca;
Sabbesaṁ pūjito homi,
anakkosassidaṁ phalaṁ.
Ito ekādase kappe,
sahassārosi khattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sumanāveḷiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sumanāveḷiyattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.