Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, (Am-bà-la) trên ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang Indasāla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích) náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.
SC 3Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ: “Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?” Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng trong hang Indasāla. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên
SC 4—Này Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Veidya, phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasāla. Này quí vị, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 5- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.—Chư Thiên ở Tam thập tam thiên trả lời Thiên chủ Sakka.
SC 6PTS cs 2~2 Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của Càn Thát Bà
SC 7—Này Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasāla. Này Khanh Pancasikha, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 8- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
SC 9Pancasikha, con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.
SC 10Rồi Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.
SC 11PTS cs 3~3 Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên. Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng
SC 12—Núi Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.
SC 13Và dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.
SC 14PTS cs 4~4 Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 15—Này Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỷ trong Thiền, và với mục đích ấy, an lặng tịnh cư. Vậy Khanh Pancasikha trước tiên làm cho Thế Tôn hoan hỷ, sau sự hoan hỷ do Khanh tác động, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 16- Xin vâng, mong an lành đến với Ngài.
SC 17Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasāla. Khi đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: “Ta đứng đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng sẽ được Ngài nghe”.
SC 18Ðứng một bên, Pancasikha, con của Càn Thát Bà gảy cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
SC 19PTS cs 5~5
SC 20Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!
SC 21PTS cs 6~6 Khi được nghe vậy, Thế Tôn nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 22—Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?
SC 23- Bạch Thế Tôn, một thời Thế Tôn an trú ở Uruvelà, bên bờ sông Neranjara (Ni-liên-thiền), dưới gốc cây Ajapāla-Nigrodha, khi mới thành Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, con yêu con gái của Timbaru, vua Càn Thát Bà, tên là Bhaddà với biệt hiệu Suriya Vaccasà. Nhưng bạch Thế Tôn, thiếu nữ lại yêu một người khác, tên là Sikhaddhi, con của Mātali người đánh xe. Bạch Thế Tôn, con không có phương tiện nào khác để chiếm được thiếu nữ. Con cầm đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva, đến tại trú xá của Timbaru, vua Càn Thát Bà. Khi đến xong, con gảy đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ này, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
SC 24PTS cs 7~7
SC 25Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!
SC 26Bạch Thế Tôn, sau khi nghe nói vậy, Bhaddà Suriya Vaccasà nói với con như sau:
SC 27“Này Hiền giả, tôi chưa được thấy Thế Tôn tận mặt. Nhưng tôi có nghe đến Thế Tôn, khi tôi đến múa tại Thiện Pháp đường của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì Hiền giả đã tán dương Thế Tôn như vậy, vậy hôm nay chúng ta sẽ gặp nhau”.
SC 28Bạch Thế Tôn, rồi con được gặp nàng, không phải hôm ấy, nhưng về sau.
SC 29PTS cs 8~8 Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ như sau:
SC 30“Pancasikha, con của Càn Thát Bà hoan hỷ đàm luận với Thế Tôn. Và Thế Tôn đối với Pancasikha cũng vậy”.
SC 31Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 32—Này Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 33- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
SC 34Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng theo lời dặn của Thiên chủ Sakka, đảnh lễ Thế Tôn và nói
SC 35—Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ, đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn.
SC 36- Này Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà, Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh khác cũng vậy.
SC 37Như vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasāla của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
SC 38PTS cs 9~9 Lúc bấy giờ, trong hang Indasāla, những con đường gồ ghề được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó là nhờ thần lực của chư Thiên. Rồi Thế Tôn nói với Thiên chủ Sakka
SC 39—Thật là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công tác phải làm, mà vẫn đến đây được!
SC 40- Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salaḷa. Bạch Thế Tôn, rồi con đến Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn.
SC 41PTS cs 10~10 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti, vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:
SC 42“- Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 43Ðược nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:
SC 44“- Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.
SC 45“- Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 46Bạch Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?
SC 47- Này Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.
SC 48PTS cs 11~11 Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên ấy nói như sau: “Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong”. Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopikā, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử Gopakà mới trách la họ như sau: “Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà. Chư Thiện hữu, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Bạch Thế Tôn, trong chư Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên, ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục lạc.
SC 49PTS cs 12~12
SC 50Ta đệ tử pháp nhãn,
Tên gọi Gopakà,
Ta tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm niệm rất hoan hỷ.
Nhờ Thiện pháp chư Phật,
Sanh con Thần Sakka,
Hào quang, sanh Thiên giới,
Ðược tên Gopakà.
Ta thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ sanh Càn Thát Bà!
Ðệ tử Gotama,
Trước sanh làm con Người,
Ta cúng dường ẩm thực,
Hầu hạ trú xứ ta.
Mắt Hiền giả ở đâu?
Không nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh pháp tự giác hiểu,
Bậc Pháp nhãn khéo giảng.
Ta chỉ hầu Quý vị,
Ðược nghe Pháp bậc Thánh.
Ta là con Sakka,
Có thần lực hào quang,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Các người hầu Thế Tôn,
Sống phạm hạnh tối thượng,
Nay phải sanh hạ thân,
Mất thượng sanh hạ phẩm.
Ta nhìn thật khó chịu,
Thấy đồng môn hạ sanh
Với thân Càn Thát Bà,
Phải hầu hạ chư Thiên.
Từ địa vị cư sĩ,
Ta thấy rõ khác biệt.
Trước bà, nay đàn ông.
Ta sanh Thiên, hưởng dục.
Bị Gopakà trách mắng,
Ưu phiền đồng phát nguyện,
Phải thăng tiến nỗ lực,
Không nô lệ cho ai!
Hai trong ba vị này,
Bắt đầu hành tinh tấn,
Nhờ Gotama dạy,
Chúng tẩy sạch tâm uế,
Thấy nguy hiểm dục vọng.
Như voi bỏ dây cương,
Các vị vượt Tam thiên,
Vứt bỏ dục kiết sử,
Quỷ triền phược khó vượt,
Cùng Sakka, Pajāpati.
Hội chúng Thiện Pháp đường
Vượt quá vị đang ngồi,
Anh hùng ly dục cấu.
Thấy chúng khỏi lo ngại,
Vāsava giữa Thiên chúng,
Xem chúng sinh hạ phẩm,
Nay vượt qua Tam thiên.
Suy tư lời ưu phiền,
Gopaka với Vāsava:
Ðế Thích ở nhân giới,
Ðức Phật gọi Thích Ca
Ðã chinh phục dục vọng.
Chúng là con của Ngài,
Thất niệm khi mệnh chung,
Nhờ Ta lấy chánh niệm.
Một trong ba vị ấy,
Mang thân Càn Thát Bà.
Hai vị hướng Chánh giác,
Bỏ Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng đệ tử nào nghi,
Vị ở đây chứng pháp.
Chúng ta đảnh lễ Phật.
Vị vượt khỏi bộc lưu,
Ðã diệt trừ nghi ngờ,
Bậc chiến thắng muôn loài.
Chính ở đây, chứng pháp,
Tấn bước đạt thù thắng,
Hai vị đạt thắng vị,
Hơn phụ tá Phạm thiên,
Ôi Thiện hữu chúng tôi.
Ðến đây để chứng pháp.
Nếu Thế Tôn cho phép,
Chúng con hỏi Thế Tôn.
SC 51PTS cs 13~13 Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch. Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka sẽ hiểu một cách mau chóng”.
SC 52Rồi Thế Tôn nói bài kệ sau đây với Thiên chủ Sakka:
SC 53Vāsava hãy hỏi Ta,
Những gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi câu hỏi của Ngươi,
Ta làm Ngươi thỏa mãn.
Tụng phẩm II
SC 54PTS cs 1~14 Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên
SC 55—Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
SC 56Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau
SC 57—Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
SC 58Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 59—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.
SC 60PTS cs 2~15 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 61—Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
SC 62- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
SC 63- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?
SC 64- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.
SC 65- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
SC 66- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.
SC 67- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
SC 68- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt”.
SC 69PTS cs 3~16 Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như thế nào? Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận?
SC 70- Này Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.
SC 71Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời hỷ ấy nên thân cận. Ở đây, có hỷ câu hữu với tầm, câu hữu với tứ; có hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 72Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 73Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời ưu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời ưu ấy nên thân cận. Ở đây, có ưu câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 74Này Thiên chủ, Ta nói ưu là hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
SC 75Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời xả ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời xả ấy nên thân cận. Ở đây, có xả câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 76Này Thiên chủ, Ta nói rằng xả có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 77Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như vậy, phải thành tựu con đường như vậy, mới thích hợp và hướng dẫn đến sự diệt trừ các vọng tưởng hý luận.
SC 78Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 79—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.
SC 80PTS cs 4~17 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 81—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?
SC 82Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
SC 83Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì thân hành ấy cần phải thân cận.
SC 84Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại cần thân cận, một loại cần tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 85Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì khẩu hành ấy cần phải thân cận.
SC 86Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
SC 87Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với tầm cầu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì loại tầm cầu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận loại tầm cầu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì loại tầm cầu ấy nên thân cận.
SC 88Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 89Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như vậy, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như vậy!
SC 90Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 91—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
SC 92PTS cs 5~18 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 93—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào?
SC 94- Này Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, tiếng do tai phân biệt … hương do mũi phân biệt … vị do lưỡi phân biệt … xúc do thân phân biệt … Này Thiên chủ, pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
SC 95Ðược nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn
SC 96—Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt … loại hương nào do mũi phân biệt … loại vị nào do lưỡi phân biệt … loại xúc nào do thân phân biệt … loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại pháp ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt, được con hiểu một cách rộng rãi. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con tiêu tan, do dự của con diệt tận.
SC 97PTS cs 6~19 Như vậy sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn, Thiên chủ Sakka lại hỏi câu hỏi tiếp
SC 98—Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu, đồng một chí hướng?
SC 99- Này Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng!
SC 100- Bạch Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?
SC 101- Này Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành Kiên trì, cố thủ, với định kiến: “Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê”. Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng.
SC 102- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?
SC 103- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
SC 104Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
SC 105- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy, tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
SC 106Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 107—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
SC 108PTS cs 7~20 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu tiếp
SC 109—Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.
SC 110- Này Thiên chủ, Ngươi có biết những câu hỏi ấy cũng được Ngươi hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác không?
SC 111- Bạch Thế Tôn, con được biết những câu hỏi ấy cũng được con hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác.
SC 112- Này Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào, nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.
SC 113- Bạch Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe hay những vị như Thế Tôn.
SC 114- Này Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi.
SC 115- Bạch Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: “Tôn giả tên gì?” Ðược hỏi vậy con trả lời: “Chư Hiền giả, tên là Thiên chủ Sakka.” Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu nữa: “Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ này?” Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các vị hoan hỷ và nói: “Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời cho chúng tôi.” Không những vậy, các vị này trở thành đệ tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ được giác ngộ.
SC 116- Này Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
SC 117- Bạch Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được an lạc như vậy.
SC 118- Này Thiên chủ, như thế nào, Ngươi biết được trước kia không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
SC 119- Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xẩy ra giữa chư Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con suy nghĩ: “Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm.” Bạch Thế Tôn, thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.
SC 120PTS cs 8~21 - Này Thiên chủ, khi Ngươi cảm thọ sự thoải mái và hỷ lạc như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?
SC 121- Bạch Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy, con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:
SC 122Nay con đứng tại đây,
Với thân một vị Thiên.
Con thấy được tái sanh,
Bạch Ngài, hãy biết vậy.
SC 123Bạch Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.
SC 124Sau khi chết con bỏ,
Thân chư Thiên, phi nhân,
Không muội lược, con đi,
Ðến bào thai con thích.
SC 125Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 126Câu hỏi được đáp rõ,
Hoan hỷ trong Chánh giáo.
Con sống với Chánh trí,
Giác tỉnh và Chánh niệm.
SC 127Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 128Con sống với Chánh trí,
Sẽ được quả Bồ đề,
Sống làm vị Chánh giác,
Ðời này đời cuối cùng.
SC 129Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 130Chết từ thân con Người,
Con từ bỏ thân Người,
Con sẽ thành chư Thiên,
Trong Thiên giới vô thượng.
SC 131Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.
SC 132Thù thắng hơn chư Thiên,
Akaniṭṭḥa danh xưng,
Sống đời sống cuối cùng,
Như vậy nơi an trú.
SC 133Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 134PTS cs 9~22
SC 135Tâm tư không thỏa mãn,
Nghi ngờ và do dự,
Con sống cầu Như Lai,
Thời gian khá lâu dài!
Con nghĩ các Sa môn,
Sống một mình cô độc,
Là bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ vậy con tìm gặp.
Làm thế nào thành công?
Làm thế nào thất bại?
Ðược hỏi câu hỏi vậy?
Không thể chỉ đường hướng.
Biết con là Sakka,
Bậc Thiên chủ, đã đến!
Họ liền gạn hỏi con,
Ðến đây có việc gì?
Con liền giảng Chánh pháp,
Con cho họ được nghe.
Hoan hỷ, họ bèn nói:
” Vāsava làm họ thấy!”
Khi con được thấy Phật,
Nghi ngờ đều tiêu tan.
Nay con sống vô úy,
Hầu hạ bậc Chánh Giác.
Mũi tên độc tham ái,
Ðấng Chánh Giác nhổ lên,
Con đảnh lễ Ðại Hùng,
Bậc thân tộc mặt trời.
Tôn giả như Phạm thiên,
Nay con đảnh lễ Ngài,
Nay con kính lễ Ngài!
Ngài là bậc Chánh Giác,
Bậc Ðạo Sư vô thượng,
Trong đời kể chư Thiên,
Không ai so sánh Ngài!
SC 136PTS cs 10~23 Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn thát bà
SC 137—Này Khanh Pancasikha, Ngươi đã giúp ta nhiều việc. Trước nhờ Ngươi làm Thế Tôn bằng lòng, sau khi Ngươi làm cho bằng lòng, ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ta sẽ đóng vai trò thân phụ cho Ngươi, Ngươi sẽ là Vua loài Càn thát bà. Ta sẽ cho Ngươi Bhaddà Suriya Vaccasà, người mà ngươi ao ước.
SC 138Rồi Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ cảm hứng như sau:
SC 139Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
SC 140Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: “Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt.” Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati, pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Tena kho pana samayena sakkassa devānamindassa ussukkaṁ udapādi bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho sakkassa devānamindassa etadahosi:
“kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
Addasā kho sakko devānamindo bhagavantaṁ magadhesu viharantaṁ pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Disvāna deve tāvatiṁse āmantesi:
“ayaṁ, mārisā, bhagavā magadhesu viharati, pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Yadi pana, mārisā, mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho devā tāvatiṁsā sakkassa devānamindassa paccassosuṁ.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi:
“ayaṁ, tāta pañcasikha, bhagavā magadhesu viharati pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Yadi pana, tāta pañcasikha, mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya sakkassa devānamindassa anucariyaṁ upāgami.
Atha kho sakko devānamindo devehi tāvatiṁsehi parivuto pañcasikhena gandhabbadevaputtena purakkhato—
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito magadhesu pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate paccuṭṭhāsi.
Tena kho pana samayena vediyako pabbato atiriva obhāsajāto hoti ambasaṇḍā ca brāhmaṇagāmo yathā taṁ devānaṁ devānubhāvena.
Apissudaṁ parito gāmesu manussā evamāhaṁsu:
“ādittassu nāmajja vediyako pabbato jhāyatisu nāmajja vediyako pabbato jalatisu. Nāmajja vediyako pabbato.
Kiṁsu nāmajja vediyako pabbato atiriva obhāsajāto ambasaṇḍā ca brāhmaṇagāmo”ti;
saṁviggā lomahaṭṭhajātā ahesuṁ.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi:
“durupasaṅkamā kho, tāta pañcasikha, tathāgatā mādisena, jhāyī jhānaratā, tadantaraṁ paṭisallīnā.
Yadi pana tvaṁ, tāta pañcasikha, bhagavantaṁ paṭhamaṁ pasādeyyāsi, tayā, tāta, paṭhamaṁ pasāditaṁ pacchā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena indasālaguhā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā:
“ettāvatā me bhagavā neva atidūre bhavissati nāccāsanne, saddañca me sossatī”ti—
ekamantaṁ aṭṭhāsi.
1. Pañcasikhagītagāthā
Ekamantaṁ ṭhito kho pañcasikho gandhabbadevaputto beluvapaṇḍuvīṇaṁ assāvesi, imā ca gāthā abhāsi buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā:
“Vande te pitaraṁ bhadde,
timbaruṁ sūriyavacchase;
Yena jātāsi kalyāṇī,
ānandajananī mama.
Vātova sedataṁ kanto,
pānīyaṁva pipāsato;
Aṅgīrasi piyāmesi,
dhammo arahatāmiva.
Āturasseva bhesajjaṁ,
bhojanaṁva jighacchato;
Parinibbāpaya maṁ bhadde,
jalantamiva vārinā.
Sītodakaṁ pokkharaṇiṁ,
yuttaṁ kiñjakkhareṇunā;
Nāgo ghammābhitattova,
ogāhe te thanūdaraṁ.
Accaṅkusova nāgova,
jitaṁ me tuttatomaraṁ;
Kāraṇaṁ nappajānāmi,
sammatto lakkhaṇūruyā.
Tayi gedhitacittosmi,
cittaṁ vipariṇāmitaṁ;
Paṭigantuṁ na sakkomi,
vaṅkaghastova ambujo.
Vāmūru saja maṁ bhadde,
saja maṁ mandalocane;
Palissaja maṁ kalyāṇi,
etaṁ me abhipatthitaṁ.
Appako vata me santo,
kāmo vellitakesiyā;
Anekabhāvo samuppādi,
arahanteva dakkhiṇā.
Yaṁ me atthi kataṁ puññaṁ,
arahantesu tādisu;
Taṁ me sabbaṅgakalyāṇi,
tayā saddhiṁ vipaccataṁ.
Yaṁ me atthi kataṁ puññaṁ,
asmiṁ pathavimaṇḍale;
Taṁ me sabbaṅgakalyāṇi,
tayā saddhiṁ vipaccataṁ.
Sakyaputtova jhānena,
ekodi nipako sato;
Amataṁ muni jigīsāno,
tamahaṁ sūriyavacchase.
Yathāpi muni nandeyya,
patvā sambodhimuttamaṁ;
Evaṁ nandeyyaṁ kalyāṇi,
missībhāvaṁ gato tayā.
Sakko ce me varaṁ dajjā,
tāvatiṁsānamissaro;
Tāhaṁ bhadde vareyyāhe,
evaṁ kāmo daḷho mama.
Sālaṁva na ciraṁ phullaṁ,
pitaraṁ te sumedhase;
Vandamāno namassāmi,
yassāsetādisī pajā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ etadavoca:
“saṁsandati kho te, pañcasikha, tantissaro gītassarena, gītassaro ca tantissarena;
na ca pana te, pañcasikha, tantissaro gītassaraṁ ativattati, gītassaro ca tantissaraṁ.
Kadā saṁyūḷhā pana te, pañcasikha, imā gāthā buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā”ti?
“Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho.
Tena kho panāhaṁ, bhante, samayena bhaddā nāma sūriyavacchasā timbaruno gandhabbarañño dhītā, tamabhikaṅkhāmi.
Sā kho pana, bhante, bhaginī parakāminī hoti;
sikhaṇḍī nāma mātalissa saṅgāhakassa putto, tamabhikaṅkhati.
Yato kho ahaṁ, bhante, taṁ bhaginiṁ nālatthaṁ kenaci pariyāyena.
Athāhaṁ beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena timbaruno gandhabbarañño nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ assāvesiṁ, imā ca gāthā abhāsiṁ buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā—
Vande te pitaraṁ bhadde,
timbaruṁ sūriyavacchase;
Yena jātāsi kalyāṇī,
ānandajananī mama.
…pe…
Sālaṁva na ciraṁ phullaṁ,
pitaraṁ te sumedhase;
Vandamāno namassāmi,
yassāsetādisī pajāti.
Evaṁ vutte, bhante, bhaddā sūriyavacchasā maṁ etadavoca:
‘na kho me, mārisa, so bhagavā sammukhā diṭṭho, api ca sutoyeva me so bhagavā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sudhammāyaṁ sabhāyaṁ upanaccantiyā.
Yato kho tvaṁ, mārisa, taṁ bhagavantaṁ kittesi, hotu no ajja samāgamo’ti.
Soyeva no, bhante, tassā bhaginiyā saddhiṁ samāgamo ahosi.
Na ca dāni tato pacchā”ti.
2. Sakkūpasaṅkama
Atha kho sakkassa devānamindassa etadahosi:
“paṭisammodati pañcasikho gandhabbadevaputto bhagavatā, bhagavā ca pañcasikhenā”ti.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi:
“abhivādehi me tvaṁ, tāta pañcasikha, bhagavantaṁ:
‘sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti.
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā bhagavantaṁ abhivādeti:
“sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”ti.
“Evaṁ sukhī hotu, pañcasikha, sakko devānamindo sāmacco saparijano;
sukhakāmā hi devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā”ti.
Evañca pana tathāgatā evarūpe mahesakkhe yakkhe abhivadanti.
Abhivadito sakko devānamindo bhagavato indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Devāpi tāvatiṁsā indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Pañcasikhopi gandhabbadevaputto indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Tena kho pana samayena indasālaguhā visamā santī samā samapādi, sambādhā santī urundā samapādi, andhakāro guhāyaṁ antaradhāyi, āloko udapādi yathā taṁ devānaṁ devānubhāvena.
Atha kho bhagavā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
“acchariyamidaṁ āyasmato kosiyassa, abbhutamidaṁ āyasmato kosiyassa tāva bahukiccassa bahukaraṇīyassa yadidaṁ idhāgamanan”ti.
“Cirapaṭikāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamitukāmo; api ca devānaṁ tāvatiṁsānaṁ kehici kehici kiccakaraṇīyehi byāvaṭo; evāhaṁ nāsakkhiṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati salaḷāgārake.
Atha khvāhaṁ, bhante, sāvatthiṁ agamāsiṁ bhagavantaṁ dassanāya.
Tena kho pana, bhante, samayena bhagavā aññatarena samādhinā nisinno hoti, bhūjati ca nāma vessavaṇassa mahārājassa paricārikā bhagavantaṁ paccupaṭṭhitā hoti, pañjalikā namassamānā tiṭṭhati.
Atha khvāhaṁ, bhante, bhūjatiṁ etadavocaṁ:
‘abhivādehi me tvaṁ, bhagini, bhagavantaṁ:
“sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”’ti.
Evaṁ vutte, bhante, sā bhūjati maṁ etadavoca:
‘akālo kho, mārisa, bhagavantaṁ dassanāya;
paṭisallīno bhagavā’ti.
‘Tena hi, bhagini, yadā bhagavā tamhā samādhimhā vuṭṭhito hoti, atha mama vacanena bhagavantaṁ abhivādehi:
“sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”’ti.
Kacci me sā, bhante, bhaginī bhagavantaṁ abhivādesi?
Sarati bhagavā tassā bhaginiyā vacanan”ti?
“Abhivādesi maṁ sā, devānaminda, bhaginī, sarāmahaṁ tassā bhaginiyā vacanaṁ.
Api cāhaṁ āyasmato nemisaddena tamhā samādhimhā vuṭṭhito”ti.
“Ye te, bhante, devā amhehi paṭhamataraṁ tāvatiṁsakāyaṁ upapannā, tesaṁ me sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘yadā tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā, dibbā kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā’ti.
Taṁ me idaṁ, bhante, sakkhidiṭṭhaṁ yato tathāgato loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho, dibbā kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyāti.
2.1. Gopakavatthu
Idheva, bhante, kapilavatthusmiṁ gopikā nāma sakyadhītā ahosi buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārinī.
Sā itthittaṁ virājetvā purisattaṁ bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā.
Devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ amhākaṁ puttattaṁ ajjhupagatā.
Tatrapi naṁ evaṁ jānanti:
‘gopako devaputto, gopako devaputto’ti.
Aññepi, bhante, tayo bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ caritvā hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapannā.
Te pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārayamānā amhākaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti amhākaṁ pāricariyaṁ.
Te amhākaṁ upaṭṭhānaṁ āgate amhākaṁ pāricariyaṁ gopako devaputto paṭicodesi:
‘kutomukhā nāma tumhe, mārisā, tassa bhagavato dhammaṁ assuttha—
ahañhi nāma itthikā samānā buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārinī itthittaṁ virājetvā purisattaṁ bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ sakkassa devānamindassa puttattaṁ ajjhupagatā.
Idhāpi maṁ evaṁ jānanti:
“gopako devaputto gopako devaputto”ti.
Tumhe pana, mārisā, bhagavati brahmacariyaṁ caritvā hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapannā.
Duddiṭṭharūpaṁ vata bho addasāma, ye mayaṁ addasāma sahadhammike hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapanne’ti.
Tesaṁ, bhante, gopakena devaputtena paṭicoditānaṁ dve devā diṭṭheva dhamme satiṁ paṭilabhiṁsu kāyaṁ brahmapurohitaṁ, eko pana devo kāme ajjhāvasi.
‘Upāsikā cakkhumato ahosiṁ,
Nāmampi mayhaṁ ahu “gopikā”ti;
Buddhe ca dhamme ca abhippasannā,
Saṅghañcupaṭṭhāsiṁ pasannacittā.
Tasseva buddhassa sudhammatāya,
Sakkassa puttomhi mahānubhāvo;
Mahājutīko tidivūpapanno,
Jānanti maṁ idhāpi “gopako”ti.
Athaddasaṁ bhikkhavo diṭṭhapubbe,
Gandhabbakāyūpagate vasīne;
Imehi te gotamasāvakāse,
Ye ca mayaṁ pubbe manussabhūtā.
Annena pānena upaṭṭhahimhā,
Pādūpasaṅgayha sake nivesane;
Kutomukhā nāma ime bhavanto,
Buddhassa dhammāni paṭiggahesuṁ.
Paccattaṁ veditabbo hi dhammo,
Sudesito cakkhumatānubuddho;
Ahañhi tumheva upāsamāno,
Sutvāna ariyāna subhāsitāni.
Sakkassa puttomhi mahānubhāvo,
Mahājutīko tidivūpapanno;
Tumhe pana seṭṭhamupāsamānā,
Anuttaraṁ brahmacariyaṁ caritvā.
Hīnaṁ kāyaṁ upapannā bhavanto,
Anānulomā bhavatūpapatti;
Duddiṭṭharūpaṁ vata addasāma,
Sahadhammike hīnakāyūpapanne.
Gandhabbakāyūpagatā bhavanto,
Devānamāgacchatha pāricariyaṁ;
Agāre vasato mayhaṁ,
Imaṁ passa visesataṁ.
Itthī hutvā svajja pumomhi devo,
Dibbehi kāmehi samaṅgibhūto’;
Te coditā gotamasāvakena,
Saṁvegamāpādu samecca gopakaṁ.
‘Handa viyāyāma byāyāma,
Mā no mayaṁ parapessā ahumhā’;
Tesaṁ duve vīriyamārabhiṁsu,
Anussaraṁ gotamasāsanāni.
Idheva cittāni virājayitvā,
Kāmesu ādīnavamaddasaṁsu;
Te kāmasaṁyojanabandhanāni,
Pāpimayogāni duraccayāni.
Nāgova sannāni guṇāni chetvā,
Deve tāvatiṁse atikkamiṁsu;
Saindā devā sapajāpatikā,
Sabbe sudhammāya sabhāyupaviṭṭhā.
Tesaṁ nisinnānaṁ abhikkamiṁsu,
Vīrā virāgā virajaṁ karontā;
Te disvā saṁvegamakāsi vāsavo,
Devābhibhū devagaṇassa majjhe.
‘Imehi te hīnakāyūpapannā,
Deve tāvatiṁse abhikkamanti’;
Saṁvegajātassa vaco nisamma,
So gopako vāsavamajjhabhāsi.
‘Buddho janindatthi manussaloke,
Kāmābhibhū sakyamunīti ñāyati;
Tasseva te puttā satiyā vihīnā,
Coditā mayā te satimajjhalatthuṁ’.
Tiṇṇaṁ tesaṁ āvasinettha eko,
Gandhabbakāyūpagato vasīno;
Dve ca sambodhipathānusārino,
Devepi hīḷenti samāhitattā.
Etādisī dhammappakāsanettha,
Na tattha kiṅkaṅkhati koci sāvako;
Nitiṇṇaoghaṁ vicikicchachinnaṁ,
Buddhaṁ namassāma jinaṁ janindaṁ.
Yaṁ te dhammaṁ idhaññāya,
visesaṁ ajjhagaṁsu te;
Kāyaṁ brahmapurohitaṁ,
duve tesaṁ visesagū.
Tassa dhammassa pattiyā,
āgatamhāsi mārisa;
Katāvakāsā bhagavatā,
pañhaṁ pucchemu mārisā”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“dīgharattaṁ visuddho kho ayaṁ yakkho, yaṁ kiñci maṁ pañhaṁ pucchissati, sabbaṁ taṁ atthasañhitaṁyeva pucchissati, no anatthasañhitaṁ.
Yañcassāhaṁ puṭṭho byākarissāmi, taṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho bhagavā sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Puccha vāsava maṁ pañhaṁ,
yaṁ kiñci manasicchasi;
Tassa tasseva pañhassa,
ahaṁ antaṁ karomi te”ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Katāvakāso sakko devānamindo bhagavatā imaṁ bhagavantaṁ paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi:
“Kiṁsaṁyojanā nu kho, mārisa, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te:
‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti?
Itthaṁ sakko devānamindo bhagavantaṁ pañhaṁ apucchi.
Tassa bhagavā pañhaṁ puṭṭho byākāsi:
“Issāmacchariyasaṁyojanā kho, devānaminda, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te:
‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Issāmacchariyaṁ pana, mārisa, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ;
kismiṁ sati issāmacchariyaṁ hoti;
kismiṁ asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti?
“Issāmacchariyaṁ kho, devānaminda, piyāppiyanidānaṁ piyāppiyasamudayaṁ piyāppiyajātikaṁ piyāppiyapabhavaṁ;
piyāppiye sati issāmacchariyaṁ hoti,
piyāppiye asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti.
“Piyāppiyaṁ pana, mārisa, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ;
kismiṁ sati piyāppiyaṁ hoti;
kismiṁ asati piyāppiyaṁ na hotī”ti?
“Piyāppiyaṁ kho, devānaminda, chandanidānaṁ chandasamudayaṁ chandajātikaṁ chandapabhavaṁ;
chande sati piyāppiyaṁ hoti;
chande asati piyāppiyaṁ na hotī”ti.
“Chando pana, mārisa, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo;
kismiṁ sati chando hoti;
kismiṁ asati chando na hotī”ti?
“Chando kho, devānaminda, vitakkanidāno vitakkasamudayo vitakkajātiko vitakkapabhavo;
vitakke sati chando hoti;
vitakke asati chando na hotī”ti.
“Vitakko pana, mārisa, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo;
kismiṁ sati vitakko hoti;
kismiṁ asati vitakko na hotī”ti?
“Vitakko kho, devānaminda, papañcasaññāsaṅkhānidāno papañcasaññāsaṅkhāsamudayo papañcasaññāsaṅkhājātiko papañcasaññāsaṅkhāpabhavo;
papañcasaññāsaṅkhāya sati vitakko hoti;
papañcasaññāsaṅkhāya asati vitakko na hotī”ti.
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppagāminiṁ paṭipadaṁ paṭipanno hotī”ti?
2.2. Vedanākammaṭṭhāna
“Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ
‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ
‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ sevitabbaṁ.
Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.
Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti.
Iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā domanassaṁ
‘imaṁ kho me domanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ domanassaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā domanassaṁ
‘imaṁ kho me domanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ domanassaṁ sevitabbaṁ.
Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā upekkhaṁ
‘imaṁ kho me upekkhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpā upekkhā na sevitabbā.
Tattha yaṁ jaññā upekkhaṁ
‘imaṁ kho me upekkhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpā upekkhā sevitabbā.
Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Evaṁ paṭipanno kho, devānaminda, bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppagāminiṁ paṭipadaṁ paṭipanno hotī”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
2.3. Pātimokkhasaṁvara
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu pātimokkhasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti?
“Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā kāyasamācāraṁ
‘imaṁ kho me kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā kāyasamācāraṁ
‘imaṁ kho me kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo kāyasamācāro sevitabbo.
Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā vacīsamācāraṁ ‘imaṁ kho me vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo vacīsamācāro na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā vacīsamācāraṁ ‘imaṁ kho me vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo vacīsamācāro sevitabbo.
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā pariyesanaṁ ‘imaṁ kho me pariyesanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpā pariyesanā na sevitabbā.
Tattha yaṁ jaññā pariyesanaṁ ‘imaṁ kho me pariyesanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpā pariyesanā sevitabbā.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Evaṁ paṭipanno kho, devānaminda, bhikkhu pātimokkhasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
2.4. Indriyasaṁvara
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu indriyasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti?
“Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Sotaviññeyyaṁ saddampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Ghānaviññeyyaṁ gandhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Jivhāviññeyyaṁ rasampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampī”ti.
Evaṁ vutte, sakko devānamindo bhagavantaṁ etadavoca:
“Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Yathārūpaṁ, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ na sevitabbaṁ.
Yathārūpañca kho, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevitabbaṁ.
Yathārūpañca kho, bhante, sotaviññeyyaṁ saddaṁ sevato …pe…
ghānaviññeyyaṁ gandhaṁ sevato …
jivhāviññeyyaṁ rasaṁ sevato …
kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbaṁ sevato …
manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo manoviññeyyo dhammo na sevitabbo.
Yathārūpañca kho, bhante, manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo manoviññeyyo dhammo sevitabbo.
Imassa kho me, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānato
tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Sabbeva nu kho, mārisa, samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti?
“Na kho, devānaminda, sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti.
“Kasmā pana, mārisa, na sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti?
“Anekadhātu nānādhātu kho, devānaminda, loko.
Tasmiṁ anekadhātunānādhātusmiṁ loke yaṁ yadeva sattā dhātuṁ abhinivisanti, taṁ tadeva thāmasā parāmāsā abhinivissa voharanti:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tasmā na sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti.
“Sabbeva nu kho, mārisa, samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti?
“Na kho, devānaminda, sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti.
“Kasmā pana, mārisa, na sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti?
“Ye kho, devānaminda, bhikkhū taṇhāsaṅkhayavimuttā te accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā.
Tasmā na sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“Ejā, bhante, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ, ejā imaṁ purisaṁ parikaḍḍhati tassa tasseva bhavassa abhinibbattiyā.
Tasmā ayaṁ puriso uccāvacamāpajjati.
Yesāhaṁ, bhante, pañhānaṁ ito bahiddhā aññesu samaṇabrāhmaṇesu okāsakammampi nālatthaṁ, te me bhagavatā byākatā.
Dīgharattānusayitañca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṁ, tañca bhagavatā abbuḷhan”ti.
“Abhijānāsi no tvaṁ, devānaminda, ime pañhe aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, ime pañhe aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, devānaminda, byākaṁsu? Sace te agaru bhāsassū”ti.
“Na kho me, bhante, garu yatthassa bhagavā nisinno bhagavantarūpo vā”ti.
“Tena hi, devānaminda, bhāsassū”ti.
“Yesvāhaṁ, bhante, maññāmi samaṇabrāhmaṇā āraññikā pantasenāsanāti, tyāhaṁ upasaṅkamitvā ime pañhe pucchāmi, te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaṁyeva paṭipucchanti:
‘ko nāmo āyasmā’ti?
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘ahaṁ kho, mārisa, sakko devānamindo’ti.
Te mamaṁyeva uttari paṭipucchanti:
‘kiṁ panāyasmā, devānaminda, kammaṁ katvā imaṁ ṭhānaṁ patto’ti?
Tesāhaṁ yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ desemi.
Te tāvatakeneva attamanā honti:
‘sakko ca no devānamindo diṭṭho, yañca no apucchimhā, tañca no byākāsī’ti.
Te aññadatthu mamaṁyeva sāvakā sampajjanti, na cāhaṁ tesaṁ.
Ahaṁ kho pana, bhante, bhagavato sāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
2.5. Somanassapaṭilābhakathā
“Abhijānāsi no tvaṁ, devānaminda, ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, devānaminda, abhijānāsi ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti?
“Bhūtapubbaṁ, bhante, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhante, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmassa etadahosi:
‘yā ceva dāni dibbā ojā yā ca asurā ojā, ubhayametaṁ devā paribhuñjissantī’ti.
So kho pana me, bhante, vedapaṭilābho somanassapaṭilābho sadaṇḍāvacaro sasatthāvacaro na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Yo kho pana me ayaṁ, bhante, bhagavato dhammaṁ sutvā vedapaṭilābho somanassapaṭilābho, so adaṇḍāvacaro asatthāvacaro ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, devānaminda, atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedesī”ti?
“Cha kho ahaṁ, bhante, atthavase sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Idheva tiṭṭhamānassa,
devabhūtassa me sato;
Punarāyu ca me laddho,
evaṁ jānāhi mārisa.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, paṭhamaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Cutāhaṁ diviyā kāyā,
āyuṁ hitvā amānusaṁ;
Amūḷho gabbhamessāmi,
yattha me ramatī mano.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, dutiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Svāhaṁ amūḷhapaññassa,
viharaṁ sāsane rato;
Ñāyena viharissāmi,
sampajāno paṭissato.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, tatiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Ñāyena me carato ca,
sambodhi ce bhavissati;
Aññātā viharissāmi,
sveva anto bhavissati.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, catutthaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Cutāhaṁ mānusā kāyā,
āyuṁ hitvāna mānusaṁ;
Puna devo bhavissāmi,
devalokamhi uttamo.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, pañcamaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Te paṇītatarā devā,
akaniṭṭhā yasassino;
Antime vattamānamhi,
so nivāso bhavissati.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, chaṭṭhaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Ime kho ahaṁ, bhante, cha atthavase sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Apariyositasaṅkappo,
vicikiccho kathaṅkathī;
Vicariṁ dīghamaddhānaṁ,
anvesanto tathāgataṁ.
Yassu maññāmi samaṇe,
pavivittavihārino;
Sambuddhā iti maññāno,
gacchāmi te upāsituṁ.
‘Kathaṁ ārādhanā hoti,
kathaṁ hoti virādhanā’;
Iti puṭṭhā na sampāyanti,
magge paṭipadāsu ca.
Tyassu yadā maṁ jānanti,
sakko devānamāgato;
Tyassu mameva pucchanti,
‘kiṁ katvā pāpuṇī idaṁ’.
Tesaṁ yathāsutaṁ dhammaṁ,
desayāmi jane sutaṁ;
Tena attamanā honti,
‘diṭṭho no vāsavoti ca’.
Yadā ca buddhamaddakkhiṁ,
vicikicchāvitāraṇaṁ;
Somhi vītabhayo ajja,
sambuddhaṁ payirupāsiya.
Taṇhāsallassa hantāraṁ,
buddhaṁ appaṭipuggalaṁ;
Ahaṁ vande mahāvīraṁ,
buddhamādiccabandhunaṁ.
Yaṁ karomasi brahmuno,
samaṁ devehi mārisa;
Tadajja tuyhaṁ kassāma,
handa sāmaṁ karoma te.
Tvameva asi sambuddho,
tuvaṁ satthā anuttaro;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi te paṭipuggalo”ti.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbaputtaṁ āmantesi:
“bahūpakāro kho mesi tvaṁ, tāta pañcasikha, yaṁ tvaṁ bhagavantaṁ paṭhamaṁ pasādesi.
Tayā, tāta, paṭhamaṁ pasāditaṁ pacchā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamimhā arahantaṁ sammāsambuddhaṁ.
Pettike vā ṭhāne ṭhapayissāmi, gandhabbarājā bhavissasi, bhaddañca te sūriyavacchasaṁ dammi, sā hi te abhipatthitā”ti.
Atha kho sakko devānamindo pāṇinā pathaviṁ parāmasitvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassā”ti.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sakkassa devānamindassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Aññesañca asītiyā devatāsahassānaṁ;
iti ye sakkena devānamindena ajjhiṭṭhapañhā puṭṭhā, te bhagavatā byākatā.
Tasmā imassa veyyākaraṇassa sakkapañhātveva adhivacananti.
Sakkapañhasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
PTS cs 1.1 PTS vp Pali 2.263 PTS vp En 299 Thus have I heard. The Exalted One was once staying in Magadha, to the east of Rājagaha, at a brahmin village named Ambasaṇḍa. There he resided on the Vediya Mountain to the north of the village, in the cave called the cave of Indra’s Sal Tree. Now at that time a longing came over Sakka, the king of the gods, to visit the Exalted One.
And this idea occurred to him—‘Where may he now be staying, the Exalted One, the Arahant, the Buddha supreme?’ And Sakka saw that he was staying in Magadha at Ambasaṇḍa, east of Rājagaha, in the cave called Indra’s Sal tree Cave on the Vediya Mountain to the north of the village. And seeing that, he said to the Three-and-Thirty gods—‘Gentlemen, that Exalted One is staying in Magadha, to the east of Rājagaha at a brahmin village named Ambasaṇḍa, in the cave called Indra’s Sal tree Cave, on the Vediya Mountain to the north of the village. How would it be, gentlemen, if we were to go and visit the Exalted One?’
‘So be it and good luck to you!’ replied the Three-and-Thirty gods consenting.
PTS cs 1.2 PTS vp En 300 Then Sakka [made the same statement and proposal to Five-crest the Gandhabba, PTS vp Pali 2.264 and received the same reply] and Five-crest taking his lyre of yellow Beluva wood, followed in attendance on Sakka, the king of the gods.
So Sakka, the king of the gods, surrounded by the Thirty-and-Three, and attended by Five-crest the Gandhabba, vanished from his heaven as easily as a strong man might shoot out his arm, or draw in his arm outshot, and reappeared in Magadha, standing on the Vediya Mountain.
PTS cs 1.3 Now at that time the Vediya Mountain was bathed in radiance, and so was Ambasaṇḍa, the brahmin village—such is the potency of the celestials —so much so that in the villages round about folk were saying—‘For sure the Vediya Mountain is on fire to-day, for sure the Vediya Mountain is burning to-day, for sure the Vediya Mountain is in flame to-day! Why, O why, is the Vediya Mountain bathed in radiance to-day, and Ambasaṇḍa too, the brahmins’ village?’ And they were anxious and sore afraid.
PTS cs 1.4 Then said Sakka, the king of the gods, to Five-crest the Gandhabba—‘Difficult PTS vp Pali 2.265 of approach, dear Five-crest, are Tathāgatas, to one like me, when they are rapt in the bliss of meditation, and for that purpose abiding in solitude. But if you were first to gain over the Exalted One [by your music] then might I afterwards come up and visit him, the Arahant, the Buddha supreme.’
‘So be it and good luck to you!’ consented Five-crest, and taking his lyre he went to the Indra-Sal tree-cave. On coming there he thought—‘Thus far will the Exalted One be neither too far from me nor too near to me, and he will hear my voice.’ And he stood on one side, and let his lyre be heard and recited these verses concerning the Awakened One and the Truth, the Arahants and Love—PTS vp En 301
PTS cs 1.5 ‘Lady, thy father Timbaru I greet
With honour due, O Glory-of-the-Sun!
In that he wrought a thing so nobly fair
As thou, O fount divine of all my joy!
Sweet as the breeze to one foredone with sweat,
Sweet as a cooling drink to one athirst,
So dear art thou, O presence radiant!
To me, dear as to Arahants the Truth.
PTS vp Pali 2.266 As medicine bringing ease to one that’s sick,
As food to starving man, so, lady, quench,
As with cool waters, me who am all a-flame.
E’en as an elephant with heat oppressed,
Hies him to some still pool, upon whose face
Petals and pollen of the lotus float,
So would I sink within thy bosom sweet.
E’en as an elephant fretted by hook,
Dashes unheeding curb and goad aside,
So I, crazed by the beauty of thy form,
Know not the why and wherefore of my acts.
By thee my heart is held in bonds, and all
Bent out of course; nor can I turn me back,
No more than fish, once he hath ta’en the bait.
Within thine arm embrace me, lady, me
With thy soft languid eyne embrace and hold,
O nobly fair! This I entreat of thee.
Scanty in sooth, O maid of waving locks,
Was my desire, but now it swelleth aye,
Indefinitely great, E’en as the gifts
Made by the faithful to the Arahants.PTS vp En 302
PTS vp Pali 2.267 Whate’er of merit to such holy ones
I’ve wrought, be thou, O altogether fair,
The ripened fruit to fall therefrom to me.
Whate’er of other merit
I have wrought In the wide world, O altogether fair,
Be thou the fruit thereof to fall to me.
As the great Sakyan Seer, through ecstasy
Rapt and intent and self-possessed, doth brood
Seeking ambrosia, even so do I
Pursue the quest of thee, O Glory-of-the-Sun!
As would that Seer rejoice, were he to win
Ineffable Enlightenment, so I
With thee made one, O fairest, were in bliss.
And if perchance a boon were granted me
By Sakka, lord of Three-and-Thirty gods,
’Tis thee I’d ask of him, lady, so strong
My love. And for thy father, wisest maid—
Him as a sal-tree freshly burgeoning
I worship for such peerless offspring giv’n.’
PTS cs 1.6 When Five-crest had finished the Exalted One said to him—‘The sound of your strings, Five-crest, so harmonizes with that of your song, and the sound of your voice with that of the strings, that your lyre does not too much colour your song, nor your song too much colour your play. Where, Five-crest, did you learn these verses concerning the Awakened One and the Truth, the Arahants, and Love?’
‘The Exalted One, lord, was once staying at Uruvelā, on the bank of the Nerañjarā River, at the foot of the Goatherd’s Banyan tree PTS vp Pali 2.268 before he attained to Enlightenment. Now at that time, lord, the lady called Bhaddā, in appearance as Sunshine, daughter of Timbaru, king of the Gandhabbas, was beloved by me. But that lady, lord, was in love with another—Sikhaddi, son of Matali the charioteer. And since I could not get the lady by any method whatever, I took my lyre of yellow Beluva wood, and going to the abode of Timbaru, king of the Gandhabbas, I PTS vp En 303 played my lyre and recited these verses concerning the Awakened One, the Truth, the Arahants and Love—PTS vp En 304 [And he repeats the verses as before].
‘And when I had finished, lord, the Lady Suriya-vaccasa said to me—
“That Blessed One, sir, I have not seen face to face, and yet I heard of him when I went to dance at the Sudhamma Hall of the Three-and-Thirty gods. Since you so extol the Blessed One, let there be a meeting between thee and me to-day. PTS vp Pali 2.269 So, lord, I met that lady, not on that day but afterwards.”
PTS cs 1.8 Now Sakka, the king of the gods, thought—’ Five-crest and the Exalted One are in friendly converse.’ And he called to Five-crest and said—‘Salute the Exalted One for me, dear Five-crest, and tell him—“Sakka, lord, the ruler of the gods, with his ministers and suite, does homage at the foot of the Exalted One.” [And Five-crest did so.]PTS vp En 305
‘May good fortune, Five-crest, attend Sakka, ruler of gods, and his ministers and suite. For they desire happiness—those gods and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas, and whatever other numerous hosts there be!’
On this wise do the Tathāgatas salute these dignitaries. And so saluted by the Exalted One, Sakka, the king of the gods, entered the cave of Indra’s Sal-tree, and saluting the Exalted One stood on one side. Thus did also the Three-and-Thirty gods and Five-crest the Gandhabba.
PTS cs 1.9 Now at that time in the cave the rough passages were made smooth, the narrow spaces were made wide, and in the dark cavern it became bright, such was the potency of the celestials. PTS vp Pali 2.270 Then said the Exalted One to Sakka—‘Wonderful is this! Marvellous is this, that the venerable Kosiya, with so much to do, so much to perform, should come hither!’
‘For a long time, lord, have I been desirous of coming to see the Exalted One, but I was hindered by one task and another that I had to perform for the Three-and-Thirty gods, and was not able to come. On one occasion the Exalted One was staying at Sāvatthī, in the Salaḷa cottage. So I went to Sāvatthī to see the Exalted One.
PTS cs 1.10 ‘Now at that time, lord, the Exalted One was seated, rapt in some stage of meditation, and Bhuñjati, wife of Vessavaṇa, was waiting on him, worshipping with clasped hands. Then I said to Bhuñjati—“Madam, do you salute the Exalted One for me, and say—‘Sakka, lord, ruler of gods, with ministers and suite, does homage at the feet of the Exalted One.’ And Bhuñjati replied—“’Tis not the right time, sir, for seeing the Exalted One; he is in retreat.” PTS vp Pali 2.271 “Well then, madam, when the Exalted One rouses himself from his meditation, salute him for me and say what I have told you.” Did the lady so salute the Exalted One, lord, for me? And does the Exalted One remember what she said?’
‘She did salute me, ruler of gods. I remember her words. And this too—that it was the noise of Your PTS vp En 306 Excellency’s chariot wheels that aroused me from that meditation.’
PTS cs 1.11 ‘Lord, I have heard and understood when in the presence of those gods who were reborn into the heaven of the Three-and-Thirty before Us, that when a Tathāgata, an Arahant Buddha supreme, arises in the world, the celestial hosts wax in numbers, and the Asūra hosts wane. And I myself, lord, have seen and can witness that this is so. Take, lord, this case. There was, at Kapilavatthu, a daughter of the Sakyans named Gopikā, who trusted in the Buddha, the Dhamma and the Order, and who fulfilled the precepts. She, having abandoned a woman’s thoughts and cultivated the thoughts of a man, was, at the dissolution of the body after her death, reborn to a pleasant life, into the communion of the Three-and-Thirty gods, into sonship with us. And there they knew her as “Gopaka of the sons of the gods, Gopaka of the sons of the gods.” Moreover, lord, there were three bhikkhus who, having followed the religious life prescribed by the Exalted One, were reborn into a lower state among the Gandhabbas. Surrounded by and enjoying the pleasures of the five senses, they used to wait upon and minister to us. Things being so, Gopaka upbraided PTS vp Pali 2.272 them saying—“Where were your ears, sirs, that ye hearkened not to the Dhamma of the Exalted One? Here am I who being but a maiden, trusting in the Buddha, the Dhamma and the Order, and fulfilling the precepts, abandoned all my woman’s thoughts and, cultivating a man’s thoughts, was reborn after my death into a pleasant life, into communion with the Three-and-Thirty gods, into the sonship of Sakka, the lord of the gods, and am known as Gopaka, son of the gods. But ye, sirs, following the religious life of the Exalted One, have only been reborn into the lower state of Gandhabbas. A sad thing, indeed, is this to see, when we behold our co-religionists reborn into the inferior condition of Gandhabbas.” Of those fairies, lord, thus rebuked by Gopaka, two acquired in that same lifetime PTS vp En 307 mindfulness, and therewith the heaven of the ministers of Brahma. But the third fairy clave to sensuous enjoyment.
Gopaka’s Verses.
PTS cs 12 “Disciple once of Him-Who-Sees—
By name they called me—Gopikā—
In Buddha, Dhamma, firm my trust,
I served the Order glad of heart.
Through this good service paid to Him
Behold me son of Sakka, born
All glorious in the Deva-world,
Of mighty power, and known henceforth as Gopaka.
Now saw I men
Who, bhikkhus in a former birth,
Had won to mere Gandhabba rank.
What! Persons erst of human kind,
And followers of Gotama—
Supplied by us with food and drink
And tended in our own abode—PTS vp Pali 2.273
Where were their ears that they, so blest,
Yet failed to grasp the Buddha’s Law?
The Gospel well proclaimed to all
And understood by Him-Who-Sees,
Each for himself must comprehend.
I, serving only you, have heard
The good words of the Noble Ones—
And now behold me reborn here,
All glorious and powerful,
As Sakka’s son in Deva-world,
But you who served the Best of men,
And by the Highest shaped your lives,
Have re-appeared in lowly rank,
Degraded from your due advance.
An evil sight is this, to see
One’s co-religionists sunk low,
Where, as Gandhabba spirits, sirs,
Ye come to wait upon the gods.
For me see! What a change is here!PTS vp En 308
From house-life as a woman, I,
A male to-day, a god reborn,
In joys celestial take my share.”
Upbraided thus by Gopaka,
Disciple erst of Gotama,
They in sore anguish made response—
“Yea verily! Let us go hence
And strive our utmost, lest we live
The slaves of others!”
Of the three PTS vp Pali 2.274
Two bent their will unto the work,
Mindful of Gotama’s behests.
The perils in the life of sense
They saw, E’en here cleansing their hearts;
And like an elephant that bursts
Each strap and rope, so they o’ercame
The fetters and the bonds of sense,
Ties of the Evil One, so hard
To get beyond—yea, E’en the gods,
The Three-and-Thirty, seated round
With Indra, with Pajāpati,
Enthroned in Sudhamma’s Hall,
The heroes twain left far behind,
Purging all passion, ousting lust.
At sight of them distress arose
In Vasava, ruler of gods,
In midst of all his retinue—
“Lo now! These, born to lower rank,
Outstrip the Three-and-Thirty gods!”
His sovereign’s apprehension heard,
Gopaka spake to Vasava—
“O Indra! In the world of men
A Buddha, called the Sakya Sage,
Is conqueror o’er the world of sense.
And these his children, who had lost
All conscience when they left the world,
Through me their conscience have regained. PTS vp Pali 2.275
One of the three yet dwelleth here,
Reborn among Gandhabba folk;
And two, on highest Wisdom bent,
In deepest rapture scorn the gods.PTS vp En 309
Let no disciple ever doubt
That by the kind who here abide
The Truth may yet be realized.
All hail to Buddha who hath crossed
The flood and put an end to doubt,
Great Conqueror and Lord of all!”
They recognized thy Truth E’en here;
and they Have onward passed and won to eminence.
’Mong Brahma's ministers they twain have won
A higher place than this.
And we are come here, O master,
That we too may attain That Truth.
If the Exalted One should grant Us leave, Master,
We fain would question him.’
PTS cs 13 Then the Exalted One thought: ‘For a longtime now this Sakka has lived a pure life. Whatever question he may ask of me will be to good purpose, and not frivolous. And what I shall answer, that will he quickly understand.’ Then did the Exalted One address these verses to Sakka, lord of gods—
‘Question me, Vasava, whate’er thy mind desires,
And on each problem put I’ll end thy doubts!’
End of the First Portion for Recitation.PTS vp En 310
PTS cs 2.1 PTS vp Pali 2.276 Thus invited, Sakka, the ruler of the gods, asked this first question of the Exalted One—‘By what fetters, sir, are they bound—gods, men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas, and whatever other great classes of beings there be—in that they, wishing thus—“Would that, without hatred, injury, enmity, or malignity, we might live in amity!”—do nevertheless live in enmity, hating, injuring, hostile, malign?’
Such was the fashion of Sakka’s first question to the Exalted One. To him the Exalted One so asked made answer—
‘By the fetters of envy and selfishness, ruler of gods, are they bound—gods, men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas and whatever other great classes of beings there be—in that they wishing thus—“Would that, without hatred, injury, enmity, or malignity, we might live in amity!”—do nevertheless live in enmity, hating, injuring, hostile, malign.’
Such was the fashion of the Exalted One’s answer to Sakka’s question. And Sakka, delighted with the Exalted One’s utterance, expressed his pleasure and appreciation saying—‘That is so, Exalted One, that is so, Welcome One! I have got rid of doubt and am no longer puzzled, through hearing the answer of the Exalted One.’
PTS cs 2.2 PTS vp Pali 2.277 So Sakka, expressing pleasure and appreciation, asked a further question of the Exalted One— ‘But envy and selfishness, sir—what is the source thereof, the cause thereof? What gives birth to them? How do they come to be? What being present, are envy and selfishness also present? What being absent, are they also absent?’
‘Things as dear and not dear to us, ruler of gods—this is the source and cause of envy and selfishness, this PTS vp En 311 is what gives birth to them, this is how they come to be. In the presence of what is dear or not dear, envy and selfishness come about, and in the absence of such feelings, they do not come about’
‘But what, sir, is the source, what the cause of things being dear and not dear, what gives birth to these feelings, how do they come to be? What being present, do we so feel, and what being absent, do we not so feel?’
‘Desire, ruler of gods, is the source and cause of things being dear or not dear, this is what gives birth to such feelings, this is how they come to be. If desire be present, things become dear and not dear to us; if it be absent, things are no more felt as such.’
‘But desire, sir—what is the source and cause of that? What gives birth to it, how does it come to be? What being present, is desire present, and what being absent, is desire also absent?’
‘Mental pre-occupation, ruler of gods—this is the source, this is the cause of desire, this is what gives birth to desire, this is how desire comes to be. Wherewith our mind is pre-occupied, for that desire arises; if our mind is not so pre-occupied, desire is absent.’PTS vp En 312
‘The source, ruler of gods, the cause of our becoming pre-occupied is what we may call obsession. This is what gives birth to pre-occupation of mind, this is how that comes about. If that obsession is present, our mind is pre-occupied [by the idea by which we are obsessed]; if it is absent, it is not.’
PTS cs 2.3 ‘But how, sir, has that bhikkhu gone about who has reached the path suitable for and leading to the cessation of obsession?’
PTS vp Pali 2.278 ‘Happiness, ruler of gods, I declare to be twofold, according as it is to be followed after, or avoided. Sorrow too I declare to be twofold, according as it is to be followed or avoided. Equanimity too I declare to be twofold, according as it is to be followed or avoided.
‘And the distinction I have affirmed in happiness, was drawn on these grounds—When in following after happiness I have perceived that bad qualities developed and good qualities were diminished, then that kind of happiness was to be avoided. And when, following after happiness, I have perceived that bad qualities were diminished and good qualities developed, then such happiness was to be followed. Now of such happiness as is accompanied by pre-occupation and travail of mind, and of such as is not so accompanied, the latter is the more excellent.
Thus, ruler of gods, when I declare happiness to be twofold, according as it is to be followed after, or avoided, I say so for that reason.
‘Again, ruler of gods, when I declare sorrow to be twofold, according as it is to be followed after, or avoided, for what reason do I say so? When, in following after sorrow I have perceived that bad qualities developed and good qualities were diminished, then that kind of sorrow was to be avoided. And when, following after sorrow, I have perceived that bad qualities were diminished and good qualities were developed, then such sorrow was to be followed after. Now of such sorrow as is accompanied by pre-occupation and travail of mind, and of such as is not so accompanied, the latter is the more excellent. Thus, ruler of gods, when I declare sorrow to be twofold, according as it is to be followed after, or avoided, I say so for that reason.
PTS vp Pali 2.279 ‘Again, ruler of gods, when I declare equanimity to be twofold, according as it is to be followed after, or avoided, for what reason do I say so? When, in following after equanimity, I have perceived that bad qualities developed and good qualities were diminished, then that kind of equanimity was to be avoided. And when, following after equanimity, I perceived that bad qualities were diminished and good qualities were developed, then that kind of equanimity was to be followed after. Now of such equanimity PTS vp En 314 as is accompanied by pre-occupation and travail of mind and of such as is not so accompanied, the latter is the more excellent. Thus, ruler of gods, when I declare equanimity to be twofold, according as it is to be followed after, or avoided, I say so for that reason.
‘And it is on this wise that a bhikkhu, ruler of gods, must have gone about, who has reached the path suitable for, and leading to, the cessation of perceiving and taking account of distractions.’
Such was the fashion of the Exalted One’s answer to Sakka’s question. And Sakka, delighted with the Exalted One’s utterances, expressed his pleasure and appreciation saying—‘That is so, Exalted One, that is so, O Welcome One! I have got rid of doubt and am no longer puzzled, through hearing the answer of the Exalted One.’
PTS cs 2.4 So Sakka, expressing his pleasure and appreciation, asked a further question of the Exalted One—’ But how, sir, has that bhikkhu gone about who has acquired the self-restraint enjoined by the Patimokkha?’
‘I say, ruler of gods, that behaviour in act and in speech, as well as those things we seek after are twofold, according as they are to be followed after or avoided. PTS vp Pali 2.280 And for what reason do I say so? When, in following some mode of behaviour in act or speech or in pursuing some quest, I have perceived that bad qualities developed and good qualities diminished, then such behaviour or such pursuits were to be avoided. And when, again, I perceived as the consequence of some other mode of behaviour in act or speech, or of some other pursuit that bad qualities were diminished and good qualities were developed, then that behaviour, or that pursuit, was to be followed after. Thus when I, ruler of gods, declare that behaviour in act, behaviour in speech, and the things we seek after are twofold, I say so for those reasons.PTS vp En 315
PTS vp Pali 2.281 ‘And it is on this wise, ruler of gods, that a bhikkhu must have gone about to have acquired the self-restraint enjoined by the Patimokkha.’
Such was the fashion of the Exalted One’s answer to Sakka’s question. And Sakka, delighted with the Exalted One’s utterance, expressed his pleasure and appreciation saying—‘That is so, Exalted One, that is so, O Welcome One! I have got rid of doubt and am no longer puzzled, through hearing the answer of the Exalted One.’
PTS cs 2.5 So Sakka, expressing his pleasure and appreciation, asked a further question of the Exalted One—’ But how, sir, has that bhikkhu gone about who has acquired control of his faculties?’
‘I say, ruler of gods, that the objects of the senses—visible, audible, odorous, sapid, tangible and mental objects —are twofold, according as they are to be followed after or avoided.’
Then said Sakka to the Exalted One—‘I, sir, understand the details of that which you have told me in outline. PTS vp Pali 2.282 Those sense-objects which are not to be followed are such as cause bad qualities to develop and good qualities to diminish; and those sense-objects which have the opposite effect are to be followed after. And because I can thus understand in detail the meaning of that which the Exalted One has told me in outline, I have got rid of doubt and am no longer puzzled, now that I have heard the Exalted One’s answer to my question.’
PTS cs 2.6 So Sakka, expressing his pleasure and appreciation, asked a further question of the Exalted One—‘Are all recluses and brahmins, sir, wholly of one creed, one practice, one persuasion, one aim?’PTS vp En 316
‘No, ruler of gods, they are not.’
‘But why, sir, are they not?’
PTS vp Pali 2.283 ‘Are all recluses and brahmins, sir, perfectly proficient, perfectly saved, living perfectly the best life, have they attained the right ideal?’
‘No, ruler of gods, they are not all so.’
‘Why, sir, are they not all so?’
‘Those recluses and brahmins, ruler of gods, who are set free through the entire destruction of craving, only they are perfectly proficient, only they are perfectly saved, only they are living perfectly the best life and have attained the ideal. Therefore is it that not all recluses and brahmins are perfectly proficient, perfectly saved, living perfectly the best life, and have attained the ideal.’
Such was the fashion of the Exalted One’s answer to Sakka’s question. And Sakka, delighted with the Exalted One’s utterances, expressed his pleasure and appreciation saying—‘That is so, Exalted One, that is so, O Welcome One! I have got rid of doubt and am no longer puzzled, through hearing the answer of the Exalted One.’
PTS cs 2.7 So Sakka, expressing his pleasure at, and PTS vp En 317 appreciation of the Exalted One’s utterance, spoke thus—Passion, lord, is disease, passion is a cancer, passion is a dart, passion drags a man about by one rebirth and then another, so that he finds himself now up above now down below. Whereas other recluses and brahmins not of your followers, lord, gave me no opportunity to ask these questions, the Exalted One has answered for me, instructing me at length, so that the dart of doubt and perplexity has by the Exalted One been extracted.’
PTS vp Pali 2.284 ‘Do you admit to us, ruler of gods, that you have put the same questions to other recluses or brahmins?’
‘I do, lord.’
‘Then tell, ruler of gods.’
‘I went to those, lord, whom I deemed to be recluses and brahmins, because they were dwelling in secluded forest abodes, and I asked them those questions. Being asked, they did not withdraw themselves, but put a counter-question to me—“Who is the venerable one? “I replied, “I, sir, am Sakka, ruler of gods.” They asked me further—“What business has brought the venerable ruler of gods to this place? “Whereupon I taught them the Dharma as I had heard and learnt it. And they with only so much were well pleased saying—“We have seen Sakka, ruler of gods, and he has answered that which we asked of him!” And actually, instead of me becoming their disciple, they became mine. But I, lord, am a disciple of the Exalted One, a Stream-winner, who cannot be reborn in any state of woe, and who has the assurance of attaining to enlightenment.PTS vp En 318
‘Do you admit to us, ruler of gods, that you have ever before experienced such satisfaction and such happiness as you now feel?’
PTS vp Pali 2.285 ‘Yes, lord, I do admit it.’
‘And what do you admit, ruler of gods, with regard to that previous occasion?’
‘In former times, lord, war had broken out between gods and Asūras. Now in that fight the gods won and the Asūras were defeated. Then when the battle was over, to me the conqueror the thought occurred: ‘The gods will henceforth enjoy not only celestial nectar but also Asūra-nectar.” But, lord, the experiencing satisfaction and happiness such as this, which was wrought by blows and by wounds, does not conduce to detachment, nor to disinterestedness, nor to cessation, nor to peace, nor to the higher spiritual knowledge, nor to enlightenment, nor to Nirvana. But this satisfaction, lord, this happiness that I have experienced in hearing the Dhamma of the Exalted One, this which is not wrought by blows and by wounds does conduce to detachment, to disinterestedness, to cessation, to peace, to spiritual knowledge, to enlightenment, to Nirvana.’
PTS cs 2.8 ‘What are the things present to your mind, ruler of gods, when you confess to experiencing such satisfaction and such happiness?’
‘Six are the things present to my mind, lord, that I feel such satisfaction and happiness—
‘I who here merely as a god exist
Have [by my acts] incurred the destiny
To live again once more.
Hear, sir, and know!
‘This, lord, is the first meaning implied in what I said. PTS vp Pali 2.286
‘Deceasing from the gods I shall forsake
The life that’s not of men, and straight shall go
Unerring to that womb
I fain would choose.PTS vp En 319
‘I who have had my problems rendered clear
And live delighting in His Word, shall then
Live righteously, mindful and self-possessed.
‘And if into my life thus rightly led
Enlightenment should come, then shall I dwell
As one who Knows, and this shall be the end.
‘This, lord, is the fourth meaning implied in what I said.
‘Deceasing from the human sphere, I then
Forsake the life of men, and lo! Once more
A god I’ll be, best in the Deva-world.
‘This, lord, is the fifth meaning implied in what I said.
‘Finer than Devas are the Peerless Gods
All glorious, while my last span of life
Shall come and go
’Tis there my home will be.
PTS vp Pali 2.287 ‘This, lord, is the sixth meaning implied in my confession of experiencing such satisfaction and such happiness.
‘These, lord, are the six things present to my mind that I feel such satisfaction and such happiness.’
PTS cs 2.9 ‘With aspirations unfulfilled, perplexed
And doubting, long I wandered seeking him
Who-had-on-That-wise-Thither-Come.
Me-thought, Hermits who dwell secluded and austere
Must sure enlightened be!
To them I’ll fare.
“What must I do to win, what doing fail?”
Thus asked they rede me naught in Path or Ways.PTS vp En 320
But me, forsooth, whereas they know that I
Who come, am Sakka of the gods,
’Tis me They ask, “What would’st thou that thou comest here?”
Thereat to them I teach, as I have heard,
As all may hear, the Dhamma; whereat they
Rejoicing cry, forsooth, “Vāsava have we seen!”
But since I’ve seen the Buddha, seen my doubts
Dispelled, now would I, all my fears allayed,
On him, the Enlightened One, adoring wait.
Him do I worship who hath drawn the dart
Of craving, him the Buddha, peerless Lord.
Hail, mighty hero! Hail, kin to the sun! PTS vp Pali 2.288
E’en as by gods is Brahma reverenced,
Lo! Even thus to-day we worship thee.
Thou art the Enlightened One, Teacher
Supreme Art thou, nor in the world, with all its heav’ns
Of gods, is any found like unto thee!’
PTS cs 2.10 Then spake Sakka, ruler of gods, to Five-crest of the Gandhabbas—‘Great has been your help to me, dear Five-crest, in that you first placated the Exalted One. For it was after you had first placated him, that we were admitted to his presence to see the Exalted One, the Arahant, Buddha Supreme. I will take the place of father to you, and you shall be king of the Gandhabbas, and I will give to you Bhaddā, the Sun-maiden, whom you have longed for.’
Then Sakka, touching the earth with his hand to call it to witness, called aloud thrice—
‘Honour to the Exalted One, to the Arahant, to the Buddha Supreme!’
Now while he was speaking in this dialogue, the stainless spotless Eye for the Truth arose in Sakka, the ruler of the gods, to wit: ‘Whatsoever things can come to be, that must also cease to be.’ And this happened also to eighty thousand of devas besides.PTS vp En 321
PTS vp Pali 2.239 Such were the questions which Sakka was invited to ask, and which were explained by the Exalted One. Therefore has this dialogue the name of ‘The Questions of Sakka.’
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, (Am-bà-la) trên ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang Indasāla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích) náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.
SC 3Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ: “Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?” Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng trong hang Indasāla. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên
SC 4—Này Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Veidya, phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasāla. Này quí vị, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 5- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.—Chư Thiên ở Tam thập tam thiên trả lời Thiên chủ Sakka.
SC 6PTS cs 2~2 Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của Càn Thát Bà
SC 7—Này Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasāla. Này Khanh Pancasikha, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 8- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
SC 9Pancasikha, con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.
SC 10Rồi Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.
SC 11PTS cs 3~3 Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên. Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng
SC 12—Núi Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.
SC 13Và dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.
SC 14PTS cs 4~4 Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 15—Này Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỷ trong Thiền, và với mục đích ấy, an lặng tịnh cư. Vậy Khanh Pancasikha trước tiên làm cho Thế Tôn hoan hỷ, sau sự hoan hỷ do Khanh tác động, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 16- Xin vâng, mong an lành đến với Ngài.
SC 17Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasāla. Khi đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: “Ta đứng đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng sẽ được Ngài nghe”.
SC 18Ðứng một bên, Pancasikha, con của Càn Thát Bà gảy cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
SC 19PTS cs 5~5
SC 20Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!
SC 21PTS cs 6~6 Khi được nghe vậy, Thế Tôn nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 22—Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?
SC 23- Bạch Thế Tôn, một thời Thế Tôn an trú ở Uruvelà, bên bờ sông Neranjara (Ni-liên-thiền), dưới gốc cây Ajapāla-Nigrodha, khi mới thành Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, con yêu con gái của Timbaru, vua Càn Thát Bà, tên là Bhaddà với biệt hiệu Suriya Vaccasà. Nhưng bạch Thế Tôn, thiếu nữ lại yêu một người khác, tên là Sikhaddhi, con của Mātali người đánh xe. Bạch Thế Tôn, con không có phương tiện nào khác để chiếm được thiếu nữ. Con cầm đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva, đến tại trú xá của Timbaru, vua Càn Thát Bà. Khi đến xong, con gảy đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ này, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
SC 24PTS cs 7~7
SC 25Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!
SC 26Bạch Thế Tôn, sau khi nghe nói vậy, Bhaddà Suriya Vaccasà nói với con như sau:
SC 27“Này Hiền giả, tôi chưa được thấy Thế Tôn tận mặt. Nhưng tôi có nghe đến Thế Tôn, khi tôi đến múa tại Thiện Pháp đường của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì Hiền giả đã tán dương Thế Tôn như vậy, vậy hôm nay chúng ta sẽ gặp nhau”.
SC 28Bạch Thế Tôn, rồi con được gặp nàng, không phải hôm ấy, nhưng về sau.
SC 29PTS cs 8~8 Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ như sau:
SC 30“Pancasikha, con của Càn Thát Bà hoan hỷ đàm luận với Thế Tôn. Và Thế Tôn đối với Pancasikha cũng vậy”.
SC 31Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 32—Này Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 33- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
SC 34Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng theo lời dặn của Thiên chủ Sakka, đảnh lễ Thế Tôn và nói
SC 35—Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ, đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn.
SC 36- Này Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà, Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh khác cũng vậy.
SC 37Như vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasāla của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
SC 38PTS cs 9~9 Lúc bấy giờ, trong hang Indasāla, những con đường gồ ghề được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó là nhờ thần lực của chư Thiên. Rồi Thế Tôn nói với Thiên chủ Sakka
SC 39—Thật là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công tác phải làm, mà vẫn đến đây được!
SC 40- Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salaḷa. Bạch Thế Tôn, rồi con đến Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn.
SC 41PTS cs 10~10 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti, vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:
SC 42“- Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 43Ðược nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:
SC 44“- Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.
SC 45“- Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 46Bạch Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?
SC 47- Này Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.
SC 48PTS cs 11~11 Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên ấy nói như sau: “Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong”. Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopikā, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử Gopakà mới trách la họ như sau: “Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà. Chư Thiện hữu, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Bạch Thế Tôn, trong chư Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên, ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục lạc.
SC 49PTS cs 12~12
SC 50Ta đệ tử pháp nhãn,
Tên gọi Gopakà,
Ta tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm niệm rất hoan hỷ.
Nhờ Thiện pháp chư Phật,
Sanh con Thần Sakka,
Hào quang, sanh Thiên giới,
Ðược tên Gopakà.
Ta thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ sanh Càn Thát Bà!
Ðệ tử Gotama,
Trước sanh làm con Người,
Ta cúng dường ẩm thực,
Hầu hạ trú xứ ta.
Mắt Hiền giả ở đâu?
Không nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh pháp tự giác hiểu,
Bậc Pháp nhãn khéo giảng.
Ta chỉ hầu Quý vị,
Ðược nghe Pháp bậc Thánh.
Ta là con Sakka,
Có thần lực hào quang,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Các người hầu Thế Tôn,
Sống phạm hạnh tối thượng,
Nay phải sanh hạ thân,
Mất thượng sanh hạ phẩm.
Ta nhìn thật khó chịu,
Thấy đồng môn hạ sanh
Với thân Càn Thát Bà,
Phải hầu hạ chư Thiên.
Từ địa vị cư sĩ,
Ta thấy rõ khác biệt.
Trước bà, nay đàn ông.
Ta sanh Thiên, hưởng dục.
Bị Gopakà trách mắng,
Ưu phiền đồng phát nguyện,
Phải thăng tiến nỗ lực,
Không nô lệ cho ai!
Hai trong ba vị này,
Bắt đầu hành tinh tấn,
Nhờ Gotama dạy,
Chúng tẩy sạch tâm uế,
Thấy nguy hiểm dục vọng.
Như voi bỏ dây cương,
Các vị vượt Tam thiên,
Vứt bỏ dục kiết sử,
Quỷ triền phược khó vượt,
Cùng Sakka, Pajāpati.
Hội chúng Thiện Pháp đường
Vượt quá vị đang ngồi,
Anh hùng ly dục cấu.
Thấy chúng khỏi lo ngại,
Vāsava giữa Thiên chúng,
Xem chúng sinh hạ phẩm,
Nay vượt qua Tam thiên.
Suy tư lời ưu phiền,
Gopaka với Vāsava:
Ðế Thích ở nhân giới,
Ðức Phật gọi Thích Ca
Ðã chinh phục dục vọng.
Chúng là con của Ngài,
Thất niệm khi mệnh chung,
Nhờ Ta lấy chánh niệm.
Một trong ba vị ấy,
Mang thân Càn Thát Bà.
Hai vị hướng Chánh giác,
Bỏ Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng đệ tử nào nghi,
Vị ở đây chứng pháp.
Chúng ta đảnh lễ Phật.
Vị vượt khỏi bộc lưu,
Ðã diệt trừ nghi ngờ,
Bậc chiến thắng muôn loài.
Chính ở đây, chứng pháp,
Tấn bước đạt thù thắng,
Hai vị đạt thắng vị,
Hơn phụ tá Phạm thiên,
Ôi Thiện hữu chúng tôi.
Ðến đây để chứng pháp.
Nếu Thế Tôn cho phép,
Chúng con hỏi Thế Tôn.
SC 51PTS cs 13~13 Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch. Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka sẽ hiểu một cách mau chóng”.
SC 52Rồi Thế Tôn nói bài kệ sau đây với Thiên chủ Sakka:
SC 53Vāsava hãy hỏi Ta,
Những gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi câu hỏi của Ngươi,
Ta làm Ngươi thỏa mãn.
Tụng phẩm II
SC 54PTS cs 1~14 Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên
SC 55—Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
SC 56Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau
SC 57—Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
SC 58Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 59—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.
SC 60PTS cs 2~15 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 61—Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
SC 62- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
SC 63- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?
SC 64- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.
SC 65- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
SC 66- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.
SC 67- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
SC 68- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt”.
SC 69PTS cs 3~16 Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như thế nào? Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận?
SC 70- Này Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.
SC 71Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời hỷ ấy nên thân cận. Ở đây, có hỷ câu hữu với tầm, câu hữu với tứ; có hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 72Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 73Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời ưu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời ưu ấy nên thân cận. Ở đây, có ưu câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 74Này Thiên chủ, Ta nói ưu là hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
SC 75Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời xả ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời xả ấy nên thân cận. Ở đây, có xả câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 76Này Thiên chủ, Ta nói rằng xả có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 77Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như vậy, phải thành tựu con đường như vậy, mới thích hợp và hướng dẫn đến sự diệt trừ các vọng tưởng hý luận.
SC 78Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 79—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.
SC 80PTS cs 4~17 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 81—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?
SC 82Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
SC 83Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì thân hành ấy cần phải thân cận.
SC 84Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại cần thân cận, một loại cần tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 85Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì khẩu hành ấy cần phải thân cận.
SC 86Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
SC 87Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với tầm cầu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì loại tầm cầu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận loại tầm cầu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì loại tầm cầu ấy nên thân cận.
SC 88Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 89Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như vậy, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như vậy!
SC 90Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 91—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
SC 92PTS cs 5~18 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 93—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào?
SC 94- Này Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, tiếng do tai phân biệt … hương do mũi phân biệt … vị do lưỡi phân biệt … xúc do thân phân biệt … Này Thiên chủ, pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
SC 95Ðược nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn
SC 96—Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt … loại hương nào do mũi phân biệt … loại vị nào do lưỡi phân biệt … loại xúc nào do thân phân biệt … loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại pháp ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt, được con hiểu một cách rộng rãi. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con tiêu tan, do dự của con diệt tận.
SC 97PTS cs 6~19 Như vậy sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn, Thiên chủ Sakka lại hỏi câu hỏi tiếp
SC 98—Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu, đồng một chí hướng?
SC 99- Này Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng!
SC 100- Bạch Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?
SC 101- Này Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành Kiên trì, cố thủ, với định kiến: “Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê”. Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng.
SC 102- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?
SC 103- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
SC 104Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
SC 105- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy, tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
SC 106Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 107—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
SC 108PTS cs 7~20 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu tiếp
SC 109—Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.
SC 110- Này Thiên chủ, Ngươi có biết những câu hỏi ấy cũng được Ngươi hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác không?
SC 111- Bạch Thế Tôn, con được biết những câu hỏi ấy cũng được con hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác.
SC 112- Này Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào, nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.
SC 113- Bạch Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe hay những vị như Thế Tôn.
SC 114- Này Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi.
SC 115- Bạch Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: “Tôn giả tên gì?” Ðược hỏi vậy con trả lời: “Chư Hiền giả, tên là Thiên chủ Sakka.” Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu nữa: “Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ này?” Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các vị hoan hỷ và nói: “Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời cho chúng tôi.” Không những vậy, các vị này trở thành đệ tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ được giác ngộ.
SC 116- Này Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
SC 117- Bạch Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được an lạc như vậy.
SC 118- Này Thiên chủ, như thế nào, Ngươi biết được trước kia không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
SC 119- Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xẩy ra giữa chư Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con suy nghĩ: “Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm.” Bạch Thế Tôn, thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.
SC 120PTS cs 8~21 - Này Thiên chủ, khi Ngươi cảm thọ sự thoải mái và hỷ lạc như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?
SC 121- Bạch Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy, con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:
SC 122Nay con đứng tại đây,
Với thân một vị Thiên.
Con thấy được tái sanh,
Bạch Ngài, hãy biết vậy.
SC 123Bạch Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.
SC 124Sau khi chết con bỏ,
Thân chư Thiên, phi nhân,
Không muội lược, con đi,
Ðến bào thai con thích.
SC 125Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 126Câu hỏi được đáp rõ,
Hoan hỷ trong Chánh giáo.
Con sống với Chánh trí,
Giác tỉnh và Chánh niệm.
SC 127Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 128Con sống với Chánh trí,
Sẽ được quả Bồ đề,
Sống làm vị Chánh giác,
Ðời này đời cuối cùng.
SC 129Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 130Chết từ thân con Người,
Con từ bỏ thân Người,
Con sẽ thành chư Thiên,
Trong Thiên giới vô thượng.
SC 131Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.
SC 132Thù thắng hơn chư Thiên,
Akaniṭṭḥa danh xưng,
Sống đời sống cuối cùng,
Như vậy nơi an trú.
SC 133Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 134PTS cs 9~22
SC 135Tâm tư không thỏa mãn,
Nghi ngờ và do dự,
Con sống cầu Như Lai,
Thời gian khá lâu dài!
Con nghĩ các Sa môn,
Sống một mình cô độc,
Là bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ vậy con tìm gặp.
Làm thế nào thành công?
Làm thế nào thất bại?
Ðược hỏi câu hỏi vậy?
Không thể chỉ đường hướng.
Biết con là Sakka,
Bậc Thiên chủ, đã đến!
Họ liền gạn hỏi con,
Ðến đây có việc gì?
Con liền giảng Chánh pháp,
Con cho họ được nghe.
Hoan hỷ, họ bèn nói:
” Vāsava làm họ thấy!”
Khi con được thấy Phật,
Nghi ngờ đều tiêu tan.
Nay con sống vô úy,
Hầu hạ bậc Chánh Giác.
Mũi tên độc tham ái,
Ðấng Chánh Giác nhổ lên,
Con đảnh lễ Ðại Hùng,
Bậc thân tộc mặt trời.
Tôn giả như Phạm thiên,
Nay con đảnh lễ Ngài,
Nay con kính lễ Ngài!
Ngài là bậc Chánh Giác,
Bậc Ðạo Sư vô thượng,
Trong đời kể chư Thiên,
Không ai so sánh Ngài!
SC 136PTS cs 10~23 Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn thát bà
SC 137—Này Khanh Pancasikha, Ngươi đã giúp ta nhiều việc. Trước nhờ Ngươi làm Thế Tôn bằng lòng, sau khi Ngươi làm cho bằng lòng, ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ta sẽ đóng vai trò thân phụ cho Ngươi, Ngươi sẽ là Vua loài Càn thát bà. Ta sẽ cho Ngươi Bhaddà Suriya Vaccasà, người mà ngươi ao ước.
SC 138Rồi Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ cảm hứng như sau:
SC 139Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
SC 140Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: “Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt.” Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati, pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Tena kho pana samayena sakkassa devānamindassa ussukkaṁ udapādi bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho sakkassa devānamindassa etadahosi:
“kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
Addasā kho sakko devānamindo bhagavantaṁ magadhesu viharantaṁ pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Disvāna deve tāvatiṁse āmantesi:
“ayaṁ, mārisā, bhagavā magadhesu viharati, pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Yadi pana, mārisā, mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho devā tāvatiṁsā sakkassa devānamindassa paccassosuṁ.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi:
“ayaṁ, tāta pañcasikha, bhagavā magadhesu viharati pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ.
Yadi pana, tāta pañcasikha, mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya sakkassa devānamindassa anucariyaṁ upāgami.
Atha kho sakko devānamindo devehi tāvatiṁsehi parivuto pañcasikhena gandhabbadevaputtena purakkhato—
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito magadhesu pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate paccuṭṭhāsi.
Tena kho pana samayena vediyako pabbato atiriva obhāsajāto hoti ambasaṇḍā ca brāhmaṇagāmo yathā taṁ devānaṁ devānubhāvena.
Apissudaṁ parito gāmesu manussā evamāhaṁsu:
“ādittassu nāmajja vediyako pabbato jhāyatisu nāmajja vediyako pabbato jalatisu. Nāmajja vediyako pabbato.
Kiṁsu nāmajja vediyako pabbato atiriva obhāsajāto ambasaṇḍā ca brāhmaṇagāmo”ti;
saṁviggā lomahaṭṭhajātā ahesuṁ.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi:
“durupasaṅkamā kho, tāta pañcasikha, tathāgatā mādisena, jhāyī jhānaratā, tadantaraṁ paṭisallīnā.
Yadi pana tvaṁ, tāta pañcasikha, bhagavantaṁ paṭhamaṁ pasādeyyāsi, tayā, tāta, paṭhamaṁ pasāditaṁ pacchā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena indasālaguhā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā:
“ettāvatā me bhagavā neva atidūre bhavissati nāccāsanne, saddañca me sossatī”ti—
ekamantaṁ aṭṭhāsi.
1. Pañcasikhagītagāthā
Ekamantaṁ ṭhito kho pañcasikho gandhabbadevaputto beluvapaṇḍuvīṇaṁ assāvesi, imā ca gāthā abhāsi buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā:
“Vande te pitaraṁ bhadde,
timbaruṁ sūriyavacchase;
Yena jātāsi kalyāṇī,
ānandajananī mama.
Vātova sedataṁ kanto,
pānīyaṁva pipāsato;
Aṅgīrasi piyāmesi,
dhammo arahatāmiva.
Āturasseva bhesajjaṁ,
bhojanaṁva jighacchato;
Parinibbāpaya maṁ bhadde,
jalantamiva vārinā.
Sītodakaṁ pokkharaṇiṁ,
yuttaṁ kiñjakkhareṇunā;
Nāgo ghammābhitattova,
ogāhe te thanūdaraṁ.
Accaṅkusova nāgova,
jitaṁ me tuttatomaraṁ;
Kāraṇaṁ nappajānāmi,
sammatto lakkhaṇūruyā.
Tayi gedhitacittosmi,
cittaṁ vipariṇāmitaṁ;
Paṭigantuṁ na sakkomi,
vaṅkaghastova ambujo.
Vāmūru saja maṁ bhadde,
saja maṁ mandalocane;
Palissaja maṁ kalyāṇi,
etaṁ me abhipatthitaṁ.
Appako vata me santo,
kāmo vellitakesiyā;
Anekabhāvo samuppādi,
arahanteva dakkhiṇā.
Yaṁ me atthi kataṁ puññaṁ,
arahantesu tādisu;
Taṁ me sabbaṅgakalyāṇi,
tayā saddhiṁ vipaccataṁ.
Yaṁ me atthi kataṁ puññaṁ,
asmiṁ pathavimaṇḍale;
Taṁ me sabbaṅgakalyāṇi,
tayā saddhiṁ vipaccataṁ.
Sakyaputtova jhānena,
ekodi nipako sato;
Amataṁ muni jigīsāno,
tamahaṁ sūriyavacchase.
Yathāpi muni nandeyya,
patvā sambodhimuttamaṁ;
Evaṁ nandeyyaṁ kalyāṇi,
missībhāvaṁ gato tayā.
Sakko ce me varaṁ dajjā,
tāvatiṁsānamissaro;
Tāhaṁ bhadde vareyyāhe,
evaṁ kāmo daḷho mama.
Sālaṁva na ciraṁ phullaṁ,
pitaraṁ te sumedhase;
Vandamāno namassāmi,
yassāsetādisī pajā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ etadavoca:
“saṁsandati kho te, pañcasikha, tantissaro gītassarena, gītassaro ca tantissarena;
na ca pana te, pañcasikha, tantissaro gītassaraṁ ativattati, gītassaro ca tantissaraṁ.
Kadā saṁyūḷhā pana te, pañcasikha, imā gāthā buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā”ti?
“Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho.
Tena kho panāhaṁ, bhante, samayena bhaddā nāma sūriyavacchasā timbaruno gandhabbarañño dhītā, tamabhikaṅkhāmi.
Sā kho pana, bhante, bhaginī parakāminī hoti;
sikhaṇḍī nāma mātalissa saṅgāhakassa putto, tamabhikaṅkhati.
Yato kho ahaṁ, bhante, taṁ bhaginiṁ nālatthaṁ kenaci pariyāyena.
Athāhaṁ beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena timbaruno gandhabbarañño nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ assāvesiṁ, imā ca gāthā abhāsiṁ buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā—
Vande te pitaraṁ bhadde,
timbaruṁ sūriyavacchase;
Yena jātāsi kalyāṇī,
ānandajananī mama.
…pe…
Sālaṁva na ciraṁ phullaṁ,
pitaraṁ te sumedhase;
Vandamāno namassāmi,
yassāsetādisī pajāti.
Evaṁ vutte, bhante, bhaddā sūriyavacchasā maṁ etadavoca:
‘na kho me, mārisa, so bhagavā sammukhā diṭṭho, api ca sutoyeva me so bhagavā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sudhammāyaṁ sabhāyaṁ upanaccantiyā.
Yato kho tvaṁ, mārisa, taṁ bhagavantaṁ kittesi, hotu no ajja samāgamo’ti.
Soyeva no, bhante, tassā bhaginiyā saddhiṁ samāgamo ahosi.
Na ca dāni tato pacchā”ti.
2. Sakkūpasaṅkama
Atha kho sakkassa devānamindassa etadahosi:
“paṭisammodati pañcasikho gandhabbadevaputto bhagavatā, bhagavā ca pañcasikhenā”ti.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi:
“abhivādehi me tvaṁ, tāta pañcasikha, bhagavantaṁ:
‘sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti.
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā bhagavantaṁ abhivādeti:
“sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”ti.
“Evaṁ sukhī hotu, pañcasikha, sakko devānamindo sāmacco saparijano;
sukhakāmā hi devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā”ti.
Evañca pana tathāgatā evarūpe mahesakkhe yakkhe abhivadanti.
Abhivadito sakko devānamindo bhagavato indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Devāpi tāvatiṁsā indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Pañcasikhopi gandhabbadevaputto indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Tena kho pana samayena indasālaguhā visamā santī samā samapādi, sambādhā santī urundā samapādi, andhakāro guhāyaṁ antaradhāyi, āloko udapādi yathā taṁ devānaṁ devānubhāvena.
Atha kho bhagavā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
“acchariyamidaṁ āyasmato kosiyassa, abbhutamidaṁ āyasmato kosiyassa tāva bahukiccassa bahukaraṇīyassa yadidaṁ idhāgamanan”ti.
“Cirapaṭikāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamitukāmo; api ca devānaṁ tāvatiṁsānaṁ kehici kehici kiccakaraṇīyehi byāvaṭo; evāhaṁ nāsakkhiṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati salaḷāgārake.
Atha khvāhaṁ, bhante, sāvatthiṁ agamāsiṁ bhagavantaṁ dassanāya.
Tena kho pana, bhante, samayena bhagavā aññatarena samādhinā nisinno hoti, bhūjati ca nāma vessavaṇassa mahārājassa paricārikā bhagavantaṁ paccupaṭṭhitā hoti, pañjalikā namassamānā tiṭṭhati.
Atha khvāhaṁ, bhante, bhūjatiṁ etadavocaṁ:
‘abhivādehi me tvaṁ, bhagini, bhagavantaṁ:
“sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”’ti.
Evaṁ vutte, bhante, sā bhūjati maṁ etadavoca:
‘akālo kho, mārisa, bhagavantaṁ dassanāya;
paṭisallīno bhagavā’ti.
‘Tena hi, bhagini, yadā bhagavā tamhā samādhimhā vuṭṭhito hoti, atha mama vacanena bhagavantaṁ abhivādehi:
“sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”’ti.
Kacci me sā, bhante, bhaginī bhagavantaṁ abhivādesi?
Sarati bhagavā tassā bhaginiyā vacanan”ti?
“Abhivādesi maṁ sā, devānaminda, bhaginī, sarāmahaṁ tassā bhaginiyā vacanaṁ.
Api cāhaṁ āyasmato nemisaddena tamhā samādhimhā vuṭṭhito”ti.
“Ye te, bhante, devā amhehi paṭhamataraṁ tāvatiṁsakāyaṁ upapannā, tesaṁ me sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘yadā tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā, dibbā kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā’ti.
Taṁ me idaṁ, bhante, sakkhidiṭṭhaṁ yato tathāgato loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho, dibbā kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyāti.
2.1. Gopakavatthu
Idheva, bhante, kapilavatthusmiṁ gopikā nāma sakyadhītā ahosi buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārinī.
Sā itthittaṁ virājetvā purisattaṁ bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā.
Devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ amhākaṁ puttattaṁ ajjhupagatā.
Tatrapi naṁ evaṁ jānanti:
‘gopako devaputto, gopako devaputto’ti.
Aññepi, bhante, tayo bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ caritvā hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapannā.
Te pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārayamānā amhākaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti amhākaṁ pāricariyaṁ.
Te amhākaṁ upaṭṭhānaṁ āgate amhākaṁ pāricariyaṁ gopako devaputto paṭicodesi:
‘kutomukhā nāma tumhe, mārisā, tassa bhagavato dhammaṁ assuttha—
ahañhi nāma itthikā samānā buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārinī itthittaṁ virājetvā purisattaṁ bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ sakkassa devānamindassa puttattaṁ ajjhupagatā.
Idhāpi maṁ evaṁ jānanti:
“gopako devaputto gopako devaputto”ti.
Tumhe pana, mārisā, bhagavati brahmacariyaṁ caritvā hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapannā.
Duddiṭṭharūpaṁ vata bho addasāma, ye mayaṁ addasāma sahadhammike hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapanne’ti.
Tesaṁ, bhante, gopakena devaputtena paṭicoditānaṁ dve devā diṭṭheva dhamme satiṁ paṭilabhiṁsu kāyaṁ brahmapurohitaṁ, eko pana devo kāme ajjhāvasi.
‘Upāsikā cakkhumato ahosiṁ,
Nāmampi mayhaṁ ahu “gopikā”ti;
Buddhe ca dhamme ca abhippasannā,
Saṅghañcupaṭṭhāsiṁ pasannacittā.
Tasseva buddhassa sudhammatāya,
Sakkassa puttomhi mahānubhāvo;
Mahājutīko tidivūpapanno,
Jānanti maṁ idhāpi “gopako”ti.
Athaddasaṁ bhikkhavo diṭṭhapubbe,
Gandhabbakāyūpagate vasīne;
Imehi te gotamasāvakāse,
Ye ca mayaṁ pubbe manussabhūtā.
Annena pānena upaṭṭhahimhā,
Pādūpasaṅgayha sake nivesane;
Kutomukhā nāma ime bhavanto,
Buddhassa dhammāni paṭiggahesuṁ.
Paccattaṁ veditabbo hi dhammo,
Sudesito cakkhumatānubuddho;
Ahañhi tumheva upāsamāno,
Sutvāna ariyāna subhāsitāni.
Sakkassa puttomhi mahānubhāvo,
Mahājutīko tidivūpapanno;
Tumhe pana seṭṭhamupāsamānā,
Anuttaraṁ brahmacariyaṁ caritvā.
Hīnaṁ kāyaṁ upapannā bhavanto,
Anānulomā bhavatūpapatti;
Duddiṭṭharūpaṁ vata addasāma,
Sahadhammike hīnakāyūpapanne.
Gandhabbakāyūpagatā bhavanto,
Devānamāgacchatha pāricariyaṁ;
Agāre vasato mayhaṁ,
Imaṁ passa visesataṁ.
Itthī hutvā svajja pumomhi devo,
Dibbehi kāmehi samaṅgibhūto’;
Te coditā gotamasāvakena,
Saṁvegamāpādu samecca gopakaṁ.
‘Handa viyāyāma byāyāma,
Mā no mayaṁ parapessā ahumhā’;
Tesaṁ duve vīriyamārabhiṁsu,
Anussaraṁ gotamasāsanāni.
Idheva cittāni virājayitvā,
Kāmesu ādīnavamaddasaṁsu;
Te kāmasaṁyojanabandhanāni,
Pāpimayogāni duraccayāni.
Nāgova sannāni guṇāni chetvā,
Deve tāvatiṁse atikkamiṁsu;
Saindā devā sapajāpatikā,
Sabbe sudhammāya sabhāyupaviṭṭhā.
Tesaṁ nisinnānaṁ abhikkamiṁsu,
Vīrā virāgā virajaṁ karontā;
Te disvā saṁvegamakāsi vāsavo,
Devābhibhū devagaṇassa majjhe.
‘Imehi te hīnakāyūpapannā,
Deve tāvatiṁse abhikkamanti’;
Saṁvegajātassa vaco nisamma,
So gopako vāsavamajjhabhāsi.
‘Buddho janindatthi manussaloke,
Kāmābhibhū sakyamunīti ñāyati;
Tasseva te puttā satiyā vihīnā,
Coditā mayā te satimajjhalatthuṁ’.
Tiṇṇaṁ tesaṁ āvasinettha eko,
Gandhabbakāyūpagato vasīno;
Dve ca sambodhipathānusārino,
Devepi hīḷenti samāhitattā.
Etādisī dhammappakāsanettha,
Na tattha kiṅkaṅkhati koci sāvako;
Nitiṇṇaoghaṁ vicikicchachinnaṁ,
Buddhaṁ namassāma jinaṁ janindaṁ.
Yaṁ te dhammaṁ idhaññāya,
visesaṁ ajjhagaṁsu te;
Kāyaṁ brahmapurohitaṁ,
duve tesaṁ visesagū.
Tassa dhammassa pattiyā,
āgatamhāsi mārisa;
Katāvakāsā bhagavatā,
pañhaṁ pucchemu mārisā”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“dīgharattaṁ visuddho kho ayaṁ yakkho, yaṁ kiñci maṁ pañhaṁ pucchissati, sabbaṁ taṁ atthasañhitaṁyeva pucchissati, no anatthasañhitaṁ.
Yañcassāhaṁ puṭṭho byākarissāmi, taṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho bhagavā sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Puccha vāsava maṁ pañhaṁ,
yaṁ kiñci manasicchasi;
Tassa tasseva pañhassa,
ahaṁ antaṁ karomi te”ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Katāvakāso sakko devānamindo bhagavatā imaṁ bhagavantaṁ paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi:
“Kiṁsaṁyojanā nu kho, mārisa, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te:
‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti?
Itthaṁ sakko devānamindo bhagavantaṁ pañhaṁ apucchi.
Tassa bhagavā pañhaṁ puṭṭho byākāsi:
“Issāmacchariyasaṁyojanā kho, devānaminda, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te:
‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Issāmacchariyaṁ pana, mārisa, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ;
kismiṁ sati issāmacchariyaṁ hoti;
kismiṁ asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti?
“Issāmacchariyaṁ kho, devānaminda, piyāppiyanidānaṁ piyāppiyasamudayaṁ piyāppiyajātikaṁ piyāppiyapabhavaṁ;
piyāppiye sati issāmacchariyaṁ hoti,
piyāppiye asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti.
“Piyāppiyaṁ pana, mārisa, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ;
kismiṁ sati piyāppiyaṁ hoti;
kismiṁ asati piyāppiyaṁ na hotī”ti?
“Piyāppiyaṁ kho, devānaminda, chandanidānaṁ chandasamudayaṁ chandajātikaṁ chandapabhavaṁ;
chande sati piyāppiyaṁ hoti;
chande asati piyāppiyaṁ na hotī”ti.
“Chando pana, mārisa, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo;
kismiṁ sati chando hoti;
kismiṁ asati chando na hotī”ti?
“Chando kho, devānaminda, vitakkanidāno vitakkasamudayo vitakkajātiko vitakkapabhavo;
vitakke sati chando hoti;
vitakke asati chando na hotī”ti.
“Vitakko pana, mārisa, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo;
kismiṁ sati vitakko hoti;
kismiṁ asati vitakko na hotī”ti?
“Vitakko kho, devānaminda, papañcasaññāsaṅkhānidāno papañcasaññāsaṅkhāsamudayo papañcasaññāsaṅkhājātiko papañcasaññāsaṅkhāpabhavo;
papañcasaññāsaṅkhāya sati vitakko hoti;
papañcasaññāsaṅkhāya asati vitakko na hotī”ti.
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppagāminiṁ paṭipadaṁ paṭipanno hotī”ti?
2.2. Vedanākammaṭṭhāna
“Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ
‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ
‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ sevitabbaṁ.
Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.
Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti.
Iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā domanassaṁ
‘imaṁ kho me domanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ domanassaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā domanassaṁ
‘imaṁ kho me domanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ domanassaṁ sevitabbaṁ.
Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā upekkhaṁ
‘imaṁ kho me upekkhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpā upekkhā na sevitabbā.
Tattha yaṁ jaññā upekkhaṁ
‘imaṁ kho me upekkhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpā upekkhā sevitabbā.
Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Evaṁ paṭipanno kho, devānaminda, bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppagāminiṁ paṭipadaṁ paṭipanno hotī”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
2.3. Pātimokkhasaṁvara
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu pātimokkhasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti?
“Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā kāyasamācāraṁ
‘imaṁ kho me kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā kāyasamācāraṁ
‘imaṁ kho me kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo kāyasamācāro sevitabbo.
Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā vacīsamācāraṁ ‘imaṁ kho me vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo vacīsamācāro na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā vacīsamācāraṁ ‘imaṁ kho me vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo vacīsamācāro sevitabbo.
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā pariyesanaṁ ‘imaṁ kho me pariyesanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpā pariyesanā na sevitabbā.
Tattha yaṁ jaññā pariyesanaṁ ‘imaṁ kho me pariyesanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpā pariyesanā sevitabbā.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampīti
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Evaṁ paṭipanno kho, devānaminda, bhikkhu pātimokkhasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
2.4. Indriyasaṁvara
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu indriyasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti?
“Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Sotaviññeyyaṁ saddampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Ghānaviññeyyaṁ gandhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Jivhāviññeyyaṁ rasampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampi.
Manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi, asevitabbampī”ti.
Evaṁ vutte, sakko devānamindo bhagavantaṁ etadavoca:
“Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Yathārūpaṁ, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ na sevitabbaṁ.
Yathārūpañca kho, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevitabbaṁ.
Yathārūpañca kho, bhante, sotaviññeyyaṁ saddaṁ sevato …pe…
ghānaviññeyyaṁ gandhaṁ sevato …
jivhāviññeyyaṁ rasaṁ sevato …
kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbaṁ sevato …
manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo manoviññeyyo dhammo na sevitabbo.
Yathārūpañca kho, bhante, manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo manoviññeyyo dhammo sevitabbo.
Imassa kho me, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānato
tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Sabbeva nu kho, mārisa, samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti?
“Na kho, devānaminda, sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti.
“Kasmā pana, mārisa, na sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti?
“Anekadhātu nānādhātu kho, devānaminda, loko.
Tasmiṁ anekadhātunānādhātusmiṁ loke yaṁ yadeva sattā dhātuṁ abhinivisanti, taṁ tadeva thāmasā parāmāsā abhinivissa voharanti:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tasmā na sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti.
“Sabbeva nu kho, mārisa, samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti?
“Na kho, devānaminda, sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti.
“Kasmā pana, mārisa, na sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti?
“Ye kho, devānaminda, bhikkhū taṇhāsaṅkhayavimuttā te accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā.
Tasmā na sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi.
Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“Ejā, bhante, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ, ejā imaṁ purisaṁ parikaḍḍhati tassa tasseva bhavassa abhinibbattiyā.
Tasmā ayaṁ puriso uccāvacamāpajjati.
Yesāhaṁ, bhante, pañhānaṁ ito bahiddhā aññesu samaṇabrāhmaṇesu okāsakammampi nālatthaṁ, te me bhagavatā byākatā.
Dīgharattānusayitañca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṁ, tañca bhagavatā abbuḷhan”ti.
“Abhijānāsi no tvaṁ, devānaminda, ime pañhe aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, ime pañhe aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, devānaminda, byākaṁsu? Sace te agaru bhāsassū”ti.
“Na kho me, bhante, garu yatthassa bhagavā nisinno bhagavantarūpo vā”ti.
“Tena hi, devānaminda, bhāsassū”ti.
“Yesvāhaṁ, bhante, maññāmi samaṇabrāhmaṇā āraññikā pantasenāsanāti, tyāhaṁ upasaṅkamitvā ime pañhe pucchāmi, te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaṁyeva paṭipucchanti:
‘ko nāmo āyasmā’ti?
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘ahaṁ kho, mārisa, sakko devānamindo’ti.
Te mamaṁyeva uttari paṭipucchanti:
‘kiṁ panāyasmā, devānaminda, kammaṁ katvā imaṁ ṭhānaṁ patto’ti?
Tesāhaṁ yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ desemi.
Te tāvatakeneva attamanā honti:
‘sakko ca no devānamindo diṭṭho, yañca no apucchimhā, tañca no byākāsī’ti.
Te aññadatthu mamaṁyeva sāvakā sampajjanti, na cāhaṁ tesaṁ.
Ahaṁ kho pana, bhante, bhagavato sāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
2.5. Somanassapaṭilābhakathā
“Abhijānāsi no tvaṁ, devānaminda, ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, devānaminda, abhijānāsi ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti?
“Bhūtapubbaṁ, bhante, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhante, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu.
Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmassa etadahosi:
‘yā ceva dāni dibbā ojā yā ca asurā ojā, ubhayametaṁ devā paribhuñjissantī’ti.
So kho pana me, bhante, vedapaṭilābho somanassapaṭilābho sadaṇḍāvacaro sasatthāvacaro na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Yo kho pana me ayaṁ, bhante, bhagavato dhammaṁ sutvā vedapaṭilābho somanassapaṭilābho, so adaṇḍāvacaro asatthāvacaro ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, devānaminda, atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedesī”ti?
“Cha kho ahaṁ, bhante, atthavase sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Idheva tiṭṭhamānassa,
devabhūtassa me sato;
Punarāyu ca me laddho,
evaṁ jānāhi mārisa.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, paṭhamaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Cutāhaṁ diviyā kāyā,
āyuṁ hitvā amānusaṁ;
Amūḷho gabbhamessāmi,
yattha me ramatī mano.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, dutiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Svāhaṁ amūḷhapaññassa,
viharaṁ sāsane rato;
Ñāyena viharissāmi,
sampajāno paṭissato.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, tatiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Ñāyena me carato ca,
sambodhi ce bhavissati;
Aññātā viharissāmi,
sveva anto bhavissati.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, catutthaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Cutāhaṁ mānusā kāyā,
āyuṁ hitvāna mānusaṁ;
Puna devo bhavissāmi,
devalokamhi uttamo.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, pañcamaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Te paṇītatarā devā,
akaniṭṭhā yasassino;
Antime vattamānamhi,
so nivāso bhavissati.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, chaṭṭhaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Ime kho ahaṁ, bhante, cha atthavase sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Apariyositasaṅkappo,
vicikiccho kathaṅkathī;
Vicariṁ dīghamaddhānaṁ,
anvesanto tathāgataṁ.
Yassu maññāmi samaṇe,
pavivittavihārino;
Sambuddhā iti maññāno,
gacchāmi te upāsituṁ.
‘Kathaṁ ārādhanā hoti,
kathaṁ hoti virādhanā’;
Iti puṭṭhā na sampāyanti,
magge paṭipadāsu ca.
Tyassu yadā maṁ jānanti,
sakko devānamāgato;
Tyassu mameva pucchanti,
‘kiṁ katvā pāpuṇī idaṁ’.
Tesaṁ yathāsutaṁ dhammaṁ,
desayāmi jane sutaṁ;
Tena attamanā honti,
‘diṭṭho no vāsavoti ca’.
Yadā ca buddhamaddakkhiṁ,
vicikicchāvitāraṇaṁ;
Somhi vītabhayo ajja,
sambuddhaṁ payirupāsiya.
Taṇhāsallassa hantāraṁ,
buddhaṁ appaṭipuggalaṁ;
Ahaṁ vande mahāvīraṁ,
buddhamādiccabandhunaṁ.
Yaṁ karomasi brahmuno,
samaṁ devehi mārisa;
Tadajja tuyhaṁ kassāma,
handa sāmaṁ karoma te.
Tvameva asi sambuddho,
tuvaṁ satthā anuttaro;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi te paṭipuggalo”ti.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbaputtaṁ āmantesi:
“bahūpakāro kho mesi tvaṁ, tāta pañcasikha, yaṁ tvaṁ bhagavantaṁ paṭhamaṁ pasādesi.
Tayā, tāta, paṭhamaṁ pasāditaṁ pacchā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamimhā arahantaṁ sammāsambuddhaṁ.
Pettike vā ṭhāne ṭhapayissāmi, gandhabbarājā bhavissasi, bhaddañca te sūriyavacchasaṁ dammi, sā hi te abhipatthitā”ti.
Atha kho sakko devānamindo pāṇinā pathaviṁ parāmasitvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassā”ti.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sakkassa devānamindassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Aññesañca asītiyā devatāsahassānaṁ;
iti ye sakkena devānamindena ajjhiṭṭhapañhā puṭṭhā, te bhagavatā byākatā.
Tasmā imassa veyyākaraṇassa sakkapañhātveva adhivacananti.
Sakkapañhasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.