Như vầy tôi nghe.
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1Một thời Thế Tôn trú tại Campā (Chiêm-bà) trên bờ hồ Gaggara (Già-già), cùng với đại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị. Rồi tôn giả Sāriputta bảo các vị Tỳ kheo: “Này các Hiền giả Tỷ kheo”. “Thưa Hiền giả” các vị Tỷ kheo ấy đáp ứng tôn giả Sāriputta, tôn giả Sāriputta nói như sau:
SC 2Tôi nói Thập thượng pháp,
Pháp đưa đến Niết-bàn,
Diệt trừ mọi khổ đau,
Giải thoát mọi triền phược.
Một pháp
SC 3PTS cs 2 Này các Hiền giả, một pháp có nhiều tác dụng, một pháp cần phải tu tập, một pháp cần phải biến tri, một pháp cần phải đoạn trừ, một pháp chịu phần tai hại, một pháp đưa đến thù thắng, một pháp rất khó thể nhập, một pháp cần được sanh khởi, một pháp cần được thắng tri, một pháp cần được tác chứng.
SC 4I) Thế nào là một pháp có nhiều tác dụng? Bất phóng dật đối với các thiện pháp. Ðó là một pháp có nhiều tác dụng.
SC 5Ii) Thế nào là một pháp cần được tu tập? Niệm thân câu hữu với khả ý. Ðó là một pháp cần được tu tập.
SC 6Iii) Thế nào là một pháp cần phải biến tri? Xúc hữu lậu hữu thủ. Ðó là một pháp cần phải biến tri.
SC 7Iv) Thế nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Ðó là một pháp cần phải đoạn trừ.
SC 8V) Thế nào là một pháp chịu phần tai hại? Bất chánh tác ý. Ðó là một pháp chịu phần tai hại.
SC 9Vi) Thế nào là một pháp đưa đến thù thắng? Chơn chánh tác ý. Ðó là một pháp đưa đến thù thắng.
SC 10Vii) Thế nào là một pháp rất khó thể nhập? Vô gián tâm định. Ðó là một pháp rất khó thể nhập.
SC 11Viii) Thế nào là một pháp cần được sanh khởi? Bất động trí. Ðó là một pháp cần được sanh khởi.
SC 12Ix) Thế nào là một pháp cần được thắng tri? Tất cả loài hữu tình do ăn uống mà an trú. Ðó là một pháp cần được thắng tri.
SC 13X) Thế nào là một pháp cần được tác chứng? Bất động tâm giải thoát. Ðó là một pháp cần được tác chứng.
SC 14Như vậy, mười pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Hai pháp
SC 15PTS cs 3 Có hai pháp có nhiều tác dụng, có hai pháp cần phải tu tập, có hai pháp cần phải biến tri, có hai pháp cần phải đoạn trừ, có hai pháp chịu phần tai hại, có hai pháp đưa đến thù thắng, hai pháp rất khó thể nhập, có hai pháp cần được sanh khởi, có hai pháp cần được thắng tri, có hai pháp cần được tác chứng.
SC 16I) Thế nào là hai pháp có nhiều tác dụng? Niệm và tỉnh giác. Ðó là hai pháp có nhiều tác dụng.
SC 17Ii) Thế nào là hai pháp cần phải tu tập? Chỉ và quán. Ðó là hai pháp cần phải tu tập.
SC 18Iii) Thế nào là hai pháp cần được biến tri? Danh và sắc. Ðó là hai pháp cần được biến tri.
SC 19Iv) Thế nào là hai pháp cần phải đoạn trừ? Vô minh và hữu ái. Ðó là hai pháp cần phải đoạn trừ.
SC 20V) Thế nào là hai pháp chịu phần tai hại? Ác ngôn và ác hữu. Ðó là hai pháp chịu phần tai hại.
SC 21Vi) Thế nào là hai pháp hướng đến thù thắng? Thiện ngôn và thiện hữu. Ðó là hai pháp hướng đến thù thắng.
SC 22Vii) Thế nào là hai pháp rất khó thể nhập? Nhơn và duyên làm ác nhiễm các loài hữu tình. Nhân và duyên làm thanh tịnh các loài hữu tình. Ðó là hai pháp rất khó thể nhập.
SC 23Viii) Thế nào là hai pháp cần được sanh khởi? Tận trí và vô sanh trí. Ðó là hai pháp cần được sanh khởi.
SC 24Ix) Thế nào là hai pháp cần được thắng tri? Hai giới: hữu vi giới và vô vi giới. Ðó là hai pháp cần được thắng tri.
SC 25X) Thế nào là hai pháp cần được tác chứng? Minh và giải thoát. Ðó là hai pháp cần được tác chứng.
SC 26Như vậy hai mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Ba pháp
SC 27PTS cs 4 Có ba pháp có nhiều tác dụng, có ba pháp cần phải tu tập, có ba pháp cần phải biến tri, có ba pháp cần phải đoạn trừ, có ba pháp chịu phần tai hại, có ba pháp đưa đến thù thắng, có ba pháp rất khó thể nhập, có ba pháp cần được sanh khởi, có ba pháp cần được thắng tri, có ba pháp cần được tác chứng.
SC 28I) Thế nào là ba pháp có nhiều tác dụng? Giao thiệp với thiện nhân, nghe diệu pháp, hành trì pháp và tùy pháp. Ðó là ba pháp có nhiều tác dụng.
SC 29Ii) Thế nào là ba pháp cần phải tu tập? Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định. Ðó là ba pháp cần phải tu tập.
SC 30Iii) Thế nào là ba pháp cần phải biến tri? Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðó là ba pháp cần phải biến tri.
SC 31Iv) Thế nào là ba pháp cần phải đoạn trừ? Ba ái: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ðó là ba pháp cần phải đoạn trừ.
SC 32V) Thế nào là ba pháp chịu phần tai hại? Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si bất thiện căn. Ðó là ba pháp chịu phần tai hại.
SC 33Vi) Thế nào là ba pháp đưa đến thù thắng? Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn. Ðó là ba pháp đưa đến thù thắng.
SC 34Vii) Thế nào là ba pháp rất khó thể nhập? Ba xuất yếu giới: Xuất ly khỏi các dục vọng, tức là ly dục; xuất ly khỏi các sắc pháp, tức là vô sắc; phàm pháp gì hiện hữu, hữu vi, do duyên khởi, sự xuất ly khỏi pháp ấy tức là diệt. Ðó là ba pháp rất khó thể nhập.
SC 35Viii) Thế nào là ba pháp cần phải sanh khởi? Ba trí: Trí đối với quá khứ, trí đối với tương lai, trí đối với hiện tại. Ðó là ba pháp cần phải sanh khởi.
SC 36Ix) Thế nào là ba pháp cần được thắng tri? Ba giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ðó là ba pháp cần được thắng tri.
SC 37X) Thế nào là ba pháp cần được tác chứng? Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh diệt trí minh, chư Lậu tận trí minh. Ðó là ba pháp cần được tác chứng.
SC 38Như vậy ba mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Bốn pháp
SC 39PTS cs 5 Có bốn pháp có nhiều tác dụng, có bốn pháp cần phải tu tập, có bốn pháp cần phải biến tri, có bốn pháp cần phải đoạn trừ, có bốn pháp chịu phần tai hại, có bốn pháp đưa đến thù thắng, có bốn pháp rất khó thể nhập, có bốn pháp cần được sanh khởi, có bốn pháp cần được thắng tri, có bốn pháp cần được tác chứng.
SC 40I) Thế nào là bốn pháp có nhiều tác dụng? Bốn bánh xe: Trú ở trung quốc, thân cận thắng nhân, chánh nguyện tự thân, tạo phước trong quá khứ. Ðó là bốn pháp có nhiều tác dụng.
SC 41Ii) Thế nào là bốn pháp cần phải tu tập? Bốn niệm xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị, Tỳ kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời; quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời. Ðó là bốn pháp cần phải tu tập.
SC 42Iii) Thế nào là bốn pháp cần phải biến tri? Bốn thực: Ðoàn thực loại cứng hay loại mềm, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Ðó là bốn pháp cần phải biến tri.
SC 43Iv) Thế nào là bốn pháp cần phải đoạn trừ? Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Ðó là bốn pháp cần phải đoạn trừ.
SC 44V) Thế nào là bốn pháp chịu phần tai hại? Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Ðó là bốn pháp chịu phần tai hại.
SC 45Vi) Thế nào là bốn pháp hướng đến thù thắng? Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách. Ðó là bốn pháp hướng đến thù thắng.
SC 46Vii) Thế nào là bốn pháp rất khó thể nhập? Bốn định: Xả phần định, chỉ phần định, thắng phần định, quyết trạch phần định. Ðó là bốn pháp rất khó thể nhập.
SC 47Viii) Thế nào là bốn pháp cần được sanh khởi? Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí. Ðó là bốn pháp cần được sanh khởi.
SC 48Ix) Thế nào là bốn pháp cần được thắng tri? Bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế. Ðó là bốn pháp cần được thắng tri.
SC 49X) Thế nào là bốn pháp cần được tác chứng? Bốn Sa-môn quả: Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả. Ðó là bốn pháp cần được tác chứng.
SC 50Như vậy là bốn mươi pháp chân, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Năm pháp
SC 51PTS cs 6 Có năm pháp có nhiều tác dụng, có năm pháp cần phải tu tập, có năm pháp cần phải biến tri, có năm pháp cần phải đoạn trừ, có năm pháp chịu phần tai hại, có năm pháp đưa đến thù thắng, có năm pháp rất khó thể nhập, có năm pháp cần được sanh khởi, có năm pháp cần được thắng tri, có năm pháp cần được tác chứng.
SC 52I) Thế nào là năm pháp có nhiều tác dụng? Năm cần chi. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau. Ðó là năm pháp có nhiều tác dụng.
SC 53Ii) Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Năm chánh định chi: Hỷ biến mãn, lạc biến mãn, tâm biến mãn, quang biến mãn, quán sát tướng. Ðó là năm pháp cần được tu tập.
SC 54Iii) Thế nào là năm pháp cần phải biến tri? Năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Ðó là năm pháp cần phải biến tri.
SC 55Iv) Thế nào là năm pháp cần phải đoạn trừ? Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, thụy miên hôn trầm triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái. Ðó là năm pháp cần phải đoạn trừ.
SC 56V) Thế nào là năm pháp chịu phần tai hại? Năm tâm hoang vu. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ … đối với Pháp … đối với Tăng … đối với học Pháp … Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.
SC 57Ðó là năm pháp chịu phần tai hại.
SC 58Vi) Thế nào là năm pháp hướng đến thù thắng? Năm căn: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Ðó là năm pháp hướng đến thù thắng.
SC 59Vii) Thế nào là năm pháp rất khó thể nhập? Năm giới hướng đến giải thoát. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên, các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.
SC 60Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.
SC 61Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.
SC 62Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.
SC 63Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.
SC 64Ðó là năm pháp rất khó thể nhập.
SC 65Viii) Thế nào là năm pháp cần được sanh khởi? Năm chánh định trí: “Ðây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc bậc Thánh, xuất thế”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc hàng hiền thiện thực hành”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại”, tự mình khởi trí như vậy. “Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này”, tự mình khởi trí như vậy. Ðó là năm pháp cần được sanh khởi.
SC 66Ix) Thế nào là năm pháp cần được thắng tri? Năm giải thoát xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.
SC 67Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.
SC 68Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.
SC 69Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.
SC 70Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.
SC 71Ðó là năm pháp cần được thắng tri.
SC 72X) Thế nào là năm pháp cần được tác chứng? Năm pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Ðó là năm pháp cần được tác chứng.
SC 73Như vậy năm mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Sáu pháp
SC 74PTS cs 7 Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.
SC 75I) Thế nào là sáu pháp có nhiều tác dụng? Sáu hòa kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 76Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 77Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 78Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 79Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 80Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 81Ðó là sáu pháp có nhiều tác dụng.
SC 82Ii) Thế nào là sáu pháp cần phải tu tập? Sáu tùy niệm xứ: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giới tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm. Ðó là sáu pháp cần phải tu tập.
SC 83Iii) Thế nào là sáu pháp cần phải biến tri? Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Ðó là sáu pháp cần phải biến tri.
SC 84Iv) Thế nào là sáu pháp cần phải đoạn trừ? Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Ðó là sáu pháp cần phải đoạn trừ.
SC 85V) Thế nào là sáu pháp chịu phần tai hại? Sáu bất cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống không cung kính, chống đối bậc Ðạo Sư, chống đối với Pháp … chống đối với Tăng … chống đối với học pháp … chống đối với bất phóng dật … Sống không cung kính, chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp chịu phần tai hại.
SC 86Vi) Thế nào là sáu pháp hướng đến thù thắng? Sáu cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo cung kính, không chống đối bậc Ðạo sư … không chống đối với Pháp … không chống đối với Tăng … không chống đối với học pháp … không chống đối với bất phóng dật … cung kính, không chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp hướng đến thù thắng.
SC 87Vii) Thế nào là sáu pháp rất khó thể nhập? Sáu xuất ly giới. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trú, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.
SC 88Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.
SC 89Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.
SC 90Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.
SC 91Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.
SC 92Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh, an trú nơi tôi”. Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn “tôi có mặt”, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.
SC 93Ðó là sáu pháp rất khó thể nhập.
SC 94Viii) Thế nào là sáu pháp cần phải sanh khởi? Sáu hằng trú pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác; tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi niếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức pháp không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là sáu pháp cần được sanh khởi.
SC 95Ix) Thế nào là sáu pháp cần được thắng tri? Sáu vô thượng chi: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng. Ðó là sáu pháp cần được thắng tri.
SC 96X) Thế nào là sáu pháp cần được tác chứng? Sáu thắng trí. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo chứng được thần túc sai biệt … với thân có thể đến Phạm thiên giới; với thiên nhĩ thanh tịnh vượt khỏi loài Người, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, xa và gần; với tâm của mình có thể biết tâm của các loài hữu tình khác, của các loài người khác, như tâm có tham … tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát; nhớ đến rất nhiều các đời trước, như một đời, hai đời … nhớ đến các đời trước với các chi tiết và các hình thức; với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài Người … biết được cái loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình; với sự diệt trừ các lậu hoặc; sau khi tự tri, tự chứng ngay trong đời hiện tại; đạt đến và an trú vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Ðó là sáu pháp cần được tác chứng.
SC 97Như vậy sáu mươi pháp này là chân, thực, như thị, không phải không như thị, không có sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Bảy pháp
SC 98PTS cs 8 Có bảy pháp có nhiều tác dụng, có bảy pháp cần phải tu tập, có bảy pháp cần phải biến tri, có bảy pháp cần phải đoạn trừ, có bảy pháp chịu phần tai hại, có bảy pháp đưa đến thù thắng, có bảy pháp rất khó thể nhập, có bảy pháp cần được sanh khởi, có bảy pháp cần được thắng tri, có bảy pháp cần được tác chứng.
SC 99I) Thế nào là bảy pháp, có nhiều tác dụng? Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quí tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Ðó là bảy pháp có nhiều tác dụng.
SC 100Ii) Thế nào là bảy pháp cần tu tập? Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Ðó là bảy pháp cần phải tu tập.
SC 101Iii) Thế nào là bảy pháp cần phải biến tri? Bảy thức trú. Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì cả”. Ðó là loại thức trú thứ bảy.
SC 102Ðó là bảy pháp cần được biến tri.
SC 103Iv) Thế nào là bảy pháp cần được đoạn trừ? Bảy tùy miên: Tham dục tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên. Ðó là bảy pháp cần phải đoạn trừ.
SC 104V) Thế nào là bảy pháp chịu phần tai hại? Bảy phi diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, ác tuệ. Như vậy là bảy pháp chịu phần tai hại.
SC 105Vi) Thế nào là bảy pháp hướng đến thù thắng? Bảy diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tin, có tàm, có quý, đa văn, tinh cần, niệm hiện tiền, có trí tuệ. Như vậy là bảy pháp hướng đến thù thắng.
SC 106Vii) Thế nào là bảy pháp rất khó thể nhập? Bảy thượng nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tri ngã, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân. Như vậy là bảy pháp rất khó thể nhập.
SC 107Viii) Thế nào là bảy pháp cần phải sanh khởi? Bảy tướng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, quá hoạn tưởng, đoạn trừ tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là bảy pháp cần phải sanh khởi.
SC 108Ix) Thế nào là bảy pháp cần phải thắng tri? Bảy thù diệu sự. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai; tha thiết quán sát tự niệm và khát vọng quán sát tự niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.
SC 109Như vậy là bảy pháp cần phải thắng tri.
SC 110X) Thế nào là bảy pháp cần được tác chứng? Bảy lậu tận lực. Này các Hiền giả, ở đây, vị lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi với chánh tuệ. Này các Hiền giả, vị Lậu tận, Tỷ kheo chánh quán như chân với chánh tuệ tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi, chánh quán ấy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo ấy. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được sự diệt tận các lậu hoặc: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 111Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân với chánh tuệ các dục vọng như lửa than hừng … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 112Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo tâm hướng xuất ly, tâm thiên xuất ly, tâm nặng về xuất ly, tâm lấy xuất ly làm mục đích, tâm hoan hỷ ly dục, đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc trú. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 113Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, bốn niệm an trú được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 114Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, năm căn được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 115Này các Hiền giả, lại nữa đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bảy Giác chi đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 116Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập, như vậy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 117Như vậy là bảy pháp cần được tu chứng. Như vậy bảy mươi pháp này là chơn, thực như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Tụng phẩm II
Tám pháp
SC 118PTS cs 1~2 Có tám pháp có nhiều tác dụng, có tám pháp cần phải tu tập, có tám pháp cần phải biến tri, có tám pháp cần phải đoạn trừ, có tám pháp chịu phần tai hại, có tám pháp đưa đến thù thắng, có tám pháp rất khó thể nhập, có tám pháp cần được sanh khởi, có tám pháp cần được thắng tri, có tám pháp cần được tác chứng.
SC 119I) Thế nào là tám pháp có nhiều tác dụng? Có tám nhân, tám duyên đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được. Này các Hiền giả, ở đây, ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Như vậy là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.
SC 120Ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Người này thỉnh thoảng đến các vị ấy và đặt những câu hỏi: “Này Tôn giả, vấn đề này là thế nào? Vấn đề này nghĩa như thế nào?” Và các vị này đối với người ấy, nêu rõ những gì bị che khuất, phơi bày ra những gì bị giấu kín, và diệt trừ mọi nghi ngờ đối với những vấn đề đang còn nghi ngờ. Như vậy là nhân thứ hai, duyên thứ hai đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.
SC 121Sau khi đã nghe pháp, vị này được hai sự an tịnh, an tịnh về thân và an tịnh về tâm. Như vậy là nhân thứ ba, duyên thứ ba, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 122Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong các học pháp. Như vậy là nhân thứ tư, duyên thứ tư, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 123Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe. Với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, gìn giữ, ghi nhớ, nhờ lặp đi lặp lại, tâm ý suy tư, khéo thành đạt chánh trí. Như vậy là nhân thứ năm, duyên thứ năm, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 124Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, vững chắc, kiên trì đối với các thiện pháp. Như vậy là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 125Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có chánh niệm, có chánh niệm tối thượng và phân tích rõ ràng ghi nhận, nhớ rõ điều làm đã lâu ngày, nói đã lâu ngày. Như vậy là nhân thứ bảy, là duyên thứ bảy, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 126Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống quán sát sự sanh diệt của năm thủ uẩn: Ðây là sắc, đây là tập của sắc, đây là diệt của sắc. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là hành … Ðây là thức. Ðây là tập của thức, đây là diệt của thức. Như vậy là nhân thứ tám, duyên thứ tám, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 127Như vậy là tám pháp có nhiều tác dụng.
SC 128Ii) Thế nào là tám pháp cần phải tu tập? Bát Thánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Ðây là tám pháp cần phải tu tập.
SC 129Iii) Thế nào là tám pháp cần phải biến tri? Tám thế pháp: Ðắc và không đắc, không có thanh danh và có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ. Như vậy là tám pháp cần phải biến tri.
SC 130Iv) Thế nào tám pháp cần được đoạn trừ? Tám tà: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Như vậy là tám pháp cần phải đoạn trừ.
SC 131V) Thế nào là tám pháp chịu phần tai hại? Tám giải đãi sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.
SC 132Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … như vậy là giải đãi sự thứ hai.
SC 133Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ ba.
SC 134Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ tư.
SC 135Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn. Như vậy là giải đãi sự thứ năm.
SC 136Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đố ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.
SC 137Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: “Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.
SC 138Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được. Như vậy là giải đãi sự thứ tám.
SC 139Như vậy là tám pháp chịu phần tai hại.
SC 140Vi) Thế nào là tám pháp hướng đến thù thắng? Tám tinh tấn sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: “Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.
SC 141Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: “Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta phải cố gắng tinh tấn … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.
SC 142Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.
SC 143Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.
SC 144Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.
SC 145Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.
SC 146Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: “Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.
SC 147Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Ðó là tinh tấn sự thứ tám.
SC 148Như vậy là tám pháp hướng đến thù thắng.
SC 149Vii) Thế nào là tám pháp rất khó thể nhập? Phạm hạnh trú, tám bất thời bất tiết. Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất.
SC 150Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai.
SC 151… sanh vào ngạ quỷ … bất thời bất tiết thứ ba.
SC 152… sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài … bất thời bất tiết thứ tư.
SC 153… sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ năm.
SC 154Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu.
SC 155Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.
SC 156Này các Hiền giả, lại nữa Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.
SC 157Như vậy là tám pháp rất khó thể nhập.
SC 158Viii) Thế nào là tám pháp cần được sanh khởi? Tám Ðại nhân tầm: Pháp này cho người thiểu dục, pháp này không phải cho người đa dục; pháp này cho người tri túc, pháp này không phải cho người không tri túc; pháp này cho người an tịnh độc cư, pháp này không phải cho người ưa tụ hội; pháp này cho người siêng năng tinh tấn, pháp này không phải cho người giải đãi; pháp này cho người có niệm hiền tiền, pháp này không phải cho người thất niệm; pháp này là cho người có định tâm, pháp này không phải cho người không có định tâm; pháp này cho người có trí tuệ, pháp này không phải cho người có ác tuệ; pháp này cho người không ưa thích lý luận, pháp này không phải cho người ưa thích lý luận. Như vậy là tám pháp cần được sanh khởi.
SC 159Ix) Thế nào là tám pháp cần được thắng tri? Tám thắng xứ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
SC 160Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
SC 161Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
SC 162Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
SC 163Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
SC 164Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông kaṇikāra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
SC 165Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ—như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
SC 166Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám.
SC 167Như vậy là tám pháp cần được thắng tri.
SC 168X) Thế nào là tám pháp cần được chứng ngộ? Tám giải thoát.
SC 169Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.
SC 170Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.
SC 171Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.
SC 172Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên” chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư.
SC 173Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
SC 174Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu.
SC 175Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.
SC 176Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám.
SC 177Như vậy là tám pháp cần được chứng ngộ.
SC 178Như vậy tám mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Chín pháp
SC 1792) Có chín pháp có nhiều tác dụng, có chín pháp cần phải tu tập, có chín pháp cần phải biến tri, có chín pháp cần phải đoạn trừ, có chín pháp chịu phần tai hại, có chín pháp đưa đến thù thắng, có chín pháp rất khó thể nhập, có chín pháp cần được sanh khởi, có chín pháp cần được thắng tri, có chín pháp cần được chứng ngộ.
SC 180I) Thế nào là chín pháp có nhiều tác dụng? Chín pháp tư duy về căn pháp. Do chánh tư duy, hân hoan sinh; do hân hoan, hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh; do tâm định tỉnh, biết được, thấy được sự vật như chân; do biết, nhờ thấy như chơn, yểm ly sanh; do yểm ly, ly dục sanh; do ly dục, vị ấy được giải thoát. Như vậy là chín pháp có nhiều tác dụng.
SC 181Ii) Thế nào là chín pháp cần phải tu tập? Chín thanh tịnh cần chi: Giới hạnh thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tâm thanh tịnh thanh tịnh cần chi, kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đoạn nghi thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tuệ thanh tịnh thanh tịnh cần chi, giải thoát thanh tịnh thanh tịnh cần chi. Như vậy là chín pháp cần được tu tập.
SC 182Iii) Thế nào là chín pháp cần được biến tri? Chín hữu tình trú. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.
SC 183Như vậy là chín pháp cần được biến tri.
SC 184Iv) Thế nào là chín pháp cần phải đoạn trừ? Chín ái căn pháp. Do duyên ái, tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, đắc lợi sanh; do duyên đắc lợi, phân biệt sanh; do duyên phân biệt, tham dục sanh; do duyên tham dục, thủ trước sanh; do duyên thủ trước; chấp trì sanh; do duyên chấp trì, xan tham sanh; do duyên xam tham; hộ trì sanh; do duyên hộ trì, chấp trượng, chấp kiến, tránh tụng, tranh luận, tương phản, ly gián ngữ, vọng ngôn, và các ác bất thiện pháp khai sanh. Như vậy là chín pháp cần phải đoạn trừ.
SC 185V) Thế nào là chín pháp chịu phần tai hại? Chín hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên.
SC 186“Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến” … “người ấy đang làm hại … ” … “người ấy sẽ làm hại … ”, xung đột khởi lên.
SC 187“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến” … “người ấy đang làm lợi … ” … ” người ấy sẽ làm lợi … ”, xung đột khởi lên.
SC 188Như vậy là chín pháp chịu phần tai hại.
SC 189Vi) Thế nào là chín pháp hướng đến thù thắng? Chín điều phục hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?”. Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy, xung đột được điều phục.
SC 190“Người ấy đã làm hại người tôi thương … ”, … " người ấy đang làm hại … ", … ” người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.
SC 191“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến … ”, … " người ấy đang làm lợi … ", … ” người ấy sẽ làm lợi … Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.
SC 192Như vậy là chín pháp hướng đến thù thắng.
SC 193Vii) Thế nào là chín pháp rất khó thể nhập? Chín loại sai biệt. Do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh; do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh; do duyên thọ sai biệt; tưởng sai biệt sanh; do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh; do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh; do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh; do duyên nhiệt tình sai biệt; tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, sai biệt, đắc lợi sanh. Như vậy là chín pháp rất khó thể nhập.
SC 194Viii) Thế nào là chín pháp cần được sanh khởi? Chín tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tâm tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên ngã, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng. Như vậy là chín pháp cần được sanh khởi.
SC 195Ix) Thế nào là chín pháp cần được thắng tri? Chín thứ đệ trú. Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: “Không có sự vật gì tất cả”. Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.
SC 196Như vậy là chín pháp cần được thắng tri.
SC 197X) Thế nào là chín pháp cần được chứng ngộ? Chín thứ đệ diệt. Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.
SC 198Như vậy là chín pháp cần được chứng ngộ.
SC 199Như vậy là chín mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
Mười pháp
SC 2003) Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.
SC 201I) Thế nào là mười phát có nhiều có tác dụng? Mười pháp hộ trì nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 202Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.
SC 203Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn … khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 204Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 205Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn … nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 206Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh … vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 207Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp … vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 208Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng … Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 209Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng … nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 210Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 211Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí … chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 212Như vậy là mười pháp có nhiều tác dụng.
SC 213Ii) Thế nào là mười pháp cần phải tu tập? Mười biến xứ. Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến … Một vị biết được hỏa biến … Một vị biết được phong biến … Một vị biết được thanh biến … Một vị biết được hoàng biến … Một vị biết được xích biến … Một vị biết được bạch biến … Một vị biết được hư không biến … Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Như vậy là mười pháp cần phải tu tập.
SC 214Iii) Thế nào là mười pháp cần phải biến tri? Mười xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, thanh xứ, nhĩ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ. Như vậy là mười pháp cần được biến tri
SC 215iv) Thế nào là mười pháp cần phải đoạn trừ? Mười tà pháp: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Như vậy là mười pháp cần được đoạn trừ.
SC 216V) Thế nào là mười pháp chịu phần tai hại? Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến. Như vậy là mười pháp chịu phần tai hại.
SC 217Vi) Thế nào là mười pháp hướng đến thù thắng? Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, ly tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si. Như vậy là mười pháp hướng đến thù thắng.
SC 218Vii) Thế nào là mười pháp rất khó thể nhập? Mười thánh cư: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.
SC 219Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi.
SC 220Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi.
SC 221Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì.
SC 222Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y.
SC 223Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều.
SC 224Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu.
SC 225Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược.
SC 226Này các Hiền giả, thể nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ—kheo thân hành được khinh an.
SC 227Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ—kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ—kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoát.
SC 228Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ—kheo biết rằng: “Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.
SC 229Như vậy là mười pháp rất khó thể nhập.
SC 230Viii) Thế nào là mười pháp cần được sanh khởi? Mười tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là mười pháp cần được sanh khởi.
SC 231Ix) Thế nào là mười pháp cần được thắng tri? Mười đoạn tận sự: Tà kiến do chánh kiến đoạn tận; do duyên tà kiến, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh kiến các thiện pháp được tăng cường, viên mãn; tà tư duy do chánh tư duy đoạn tận … tà ngữ do chánh ngữ đoạn tận … tà nghiệp cho chánh nghiệp đoạn tận … tà mạng do chánh mạng đoạn tận … tà niệm do chánh niệm đoạn tận … tà định do chánh định đoạn tận … tà trí do chánh trí đoạn tận … tà giải thoát do chánh giải thoát đoạn tận … do duyên tà giải thoát, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh giải thoát, các thiện pháp này được tăng cường, viên mãn. Như vậy là mười pháp cần được thắng tri.
SC 232X) Thế nào là mười pháp cần được chứng ngộ? Mười vô học pháp: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm, vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.
SC 233Như vậy là mười pháp cần được chứng ngộ.
SC 234Như vậy một trăm pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 235Như vậy tôn giả Sāriputta thuyết giảng. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sāriputta.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Dasuttaraṁ pavakkhāmi,
dhammaṁ nibbānapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
sabbaganthappamocanaṁ.
1. Eko dhammo
Eko, āvuso, dhammo bahukāro, eko dhammo bhāvetabbo, eko dhammo pariññeyyo, eko dhammo pahātabbo, eko dhammo hānabhāgiyo, eko dhammo visesabhāgiyo, eko dhammo duppaṭivijjho, eko dhammo uppādetabbo, eko dhammo abhiññeyyo, eko dhammo sacchikātabbo.
Katamo eko dhammo bahukāro?
Appamādo kusalesu dhammesu.
Ayaṁ eko dhammo bahukāro.
Katamo eko dhammo bhāvetabbo?
Kāyagatāsati sātasahagatā.
Ayaṁ eko dhammo bhāvetabbo.
Katamo eko dhammo pariññeyyo?
Phasso sāsavo upādāniyo.
Ayaṁ eko dhammo pariññeyyo.
Katamo eko dhammo pahātabbo?
Asmimāno.
Ayaṁ eko dhammo pahātabbo.
Katamo eko dhammo hānabhāgiyo?
Ayoniso manasikāro.
Ayaṁ eko dhammo hānabhāgiyo.
Katamo eko dhammo visesabhāgiyo?
Yoniso manasikāro.
Ayaṁ eko dhammo visesabhāgiyo.
Katamo eko dhammo duppaṭivijjho?
Ānantariko cetosamādhi.
Ayaṁ eko dhammo duppaṭivijjho.
Katamo eko dhammo uppādetabbo?
Akuppaṁ ñāṇaṁ.
Ayaṁ eko dhammo uppādetabbo.
Katamo eko dhammo abhiññeyyo?
Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā.
Ayaṁ eko dhammo abhiññeyyo.
Katamo eko dhammo sacchikātabbo?
Akuppā cetovimutti.
Ayaṁ eko dhammo sacchikātabbo.
Iti ime dasa dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
2. Dve dhammā
Dve dhammā bahukārā, dve dhammā bhāvetabbā, dve dhammā pariññeyyā, dve dhammā pahātabbā, dve dhammā hānabhāgiyā, dve dhammā visesabhāgiyā, dve dhammā duppaṭivijjhā, dve dhammā uppādetabbā, dve dhammā abhiññeyyā, dve dhammā sacchikātabbā.
Katame dve dhammā bahukārā?
Sati ca sampajaññañca.
Ime dve dhammā bahukārā.
Katame dve dhammā bhāvetabbā?
Samatho ca vipassanā ca.
Ime dve dhammā bhāvetabbā.
Katame dve dhammā pariññeyyā?
Nāmañca rūpañca.
Ime dve dhammā pariññeyyā.
Katame dve dhammā pahātabbā?
Avijjā ca bhavataṇhā ca.
Ime dve dhammā pahātabbā.
Katame dve dhammā hānabhāgiyā?
Dovacassatā ca pāpamittatā ca.
Ime dve dhammā hānabhāgiyā.
Katame dve dhammā visesabhāgiyā?
Sovacassatā ca kalyāṇamittatā ca.
Ime dve dhammā visesabhāgiyā.
Katame dve dhammā duppaṭivijjhā?
Yo ca hetu yo ca paccayo sattānaṁ saṅkilesāya, yo ca hetu yo ca paccayo sattānaṁ visuddhiyā.
Ime dve dhammā duppaṭivijjhā.
Katame dve dhammā uppādetabbā?
Dve ñāṇāni—
khaye ñāṇaṁ, anuppāde ñāṇaṁ.
Ime dve dhammā uppādetabbā.
Katame dve dhammā abhiññeyyā?
Dve dhātuyo—
saṅkhatā ca dhātu asaṅkhatā ca dhātu.
Ime dve dhammā abhiññeyyā.
Katame dve dhammā sacchikātabbā?
Vijjā ca vimutti ca.
Ime dve dhammā sacchikātabbā.
Iti ime vīsati dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
3. Tayo dhammā
Tayo dhammā bahukārā, tayo dhammā bhāvetabbā …pe… tayo dhammā sacchikātabbā.
Katame tayo dhammā bahukārā?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, dhammānudhammappaṭipatti.
Ime tayo dhammā bahukārā.
Katame tayo dhammā bhāvetabbā?
Tayo samādhī—
savitakko savicāro samādhi, avitakko vicāramatto samādhi, avitakko avicāro samādhi.
Ime tayo dhammā bhāvetabbā.
Katame tayo dhammā pariññeyyā?
Tisso vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Ime tayo dhammā pariññeyyā.
Katame tayo dhammā pahātabbā?
Tisso taṇhā—
kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā.
Ime tayo dhammā pahātabbā.
Katame tayo dhammā hānabhāgiyā?
Tīṇi akusalamūlāni—
lobho akusalamūlaṁ, doso akusalamūlaṁ, moho akusalamūlaṁ.
Ime tayo dhammā hānabhāgiyā.
Katame tayo dhammā visesabhāgiyā?
Tīṇi kusalamūlāni—
alobho kusalamūlaṁ, adoso kusalamūlaṁ, amoho kusalamūlaṁ.
Ime tayo dhammā visesabhāgiyā.
Katame tayo dhammā duppaṭivijjhā?
Tisso nissaraṇiyā dhātuyo—
kāmānametaṁ nissaraṇaṁ yadidaṁ nekkhammaṁ, rūpānametaṁ nissaraṇaṁ yadidaṁ arūpaṁ, yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ, nirodho tassa nissaraṇaṁ.
Ime tayo dhammā duppaṭivijjhā.
Katame tayo dhammā uppādetabbā?
Tīṇi ñāṇāni—
atītaṁse ñāṇaṁ, anāgataṁse ñāṇaṁ, paccuppannaṁse ñāṇaṁ.
Ime tayo dhammā uppādetabbā.
Katame tayo dhammā abhiññeyyā?
Tisso dhātuyo—
kāmadhātu, rūpadhātu, arūpadhātu.
Ime tayo dhammā abhiññeyyā.
Katame tayo dhammā sacchikātabbā?
Tisso vijjā—
pubbenivāsānussatiñāṇaṁ vijjā, sattānaṁ cutūpapāte ñāṇaṁ vijjā, āsavānaṁ khaye ñāṇaṁ vijjā.
Ime tayo dhammā sacchikātabbā.
Iti ime tiṁsa dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
4. Cattāro dhammā
Cattāro dhammā bahukārā, cattāro dhammā bhāvetabbā …pe… cattāro dhammā sacchikātabbā.
Katame cattāro dhammā bahukārā?
Cattāri cakkāni—
patirūpadesavāso, sappurisūpanissayo, attasammāpaṇidhi, pubbe ca katapuññatā.
Ime cattāro dhammā bahukārā.
Katame cattāro dhammā bhāvetabbā?
Cattāro satipaṭṭhānā—
idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu …pe…
citte …
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Ime cattāro dhammā bhāvetabbā.
Katame cattāro dhammā pariññeyyā?
Cattāro āhārā—
kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ.
Ime cattāro dhammā pariññeyyā.
Katame cattāro dhammā pahātabbā?
Cattāro oghā—
kāmogho, bhavogho, diṭṭhogho, avijjogho.
Ime cattāro dhammā pahātabbā.
Katame cattāro dhammā hānabhāgiyā?
Cattāro yogā—
kāmayogo, bhavayogo, diṭṭhiyogo, avijjāyogo.
Ime cattāro dhammā hānabhāgiyā.
Katame cattāro dhammā visesabhāgiyā?
Cattāro visaṁyogā—
kāmayogavisaṁyogo, bhavayogavisaṁyogo, diṭṭhiyogavisaṁyogo, avijjāyogavisaṁyogo.
Ime cattāro dhammā visesabhāgiyā.
Katame cattāro dhammā duppaṭivijjhā?
Cattāro samādhī—
hānabhāgiyo samādhi, ṭhitibhāgiyo samādhi, visesabhāgiyo samādhi, nibbedhabhāgiyo samādhi.
Ime cattāro dhammā duppaṭivijjhā.
Katame cattāro dhammā uppādetabbā?
Cattāri ñāṇāni—
dhamme ñāṇaṁ, anvaye ñāṇaṁ, pariye ñāṇaṁ, sammutiyā ñāṇaṁ.
Ime cattāro dhammā uppādetabbā.
Katame cattāro dhammā abhiññeyyā?
Cattāri ariyasaccāni—
dukkhaṁ ariyasaccaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ.
Ime cattāro dhammā abhiññeyyā.
Katame cattāro dhammā sacchikātabbā?
Cattāri sāmaññaphalāni—
sotāpattiphalaṁ, sakadāgāmiphalaṁ, anāgāmiphalaṁ, arahattaphalaṁ.
Ime cattāro dhammā sacchikātabbā.
Iti ime cattārīsadhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
5. Pañca dhammā
Pañca dhammā bahukārā …pe… pañca dhammā sacchikātabbā.
Katame pañca dhammā bahukārā?
Pañca padhāniyaṅgāni—
idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya.
Asaṭho hoti amāyāvī yathābhūtamattānaṁ āvīkattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu.
Āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Ime pañca dhammā bahukārā.
Katame pañca dhammā bhāvetabbā?
Pañcaṅgiko sammāsamādhi—
pītipharaṇatā, sukhapharaṇatā, cetopharaṇatā, ālokapharaṇatā, paccavekkhaṇanimittaṁ.
Ime pañca dhammā bhāvetabbā.
Katame pañca dhammā pariññeyyā?
Pañcupādānakkhandhā—
rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho viññāṇupādānakkhandho.
Ime pañca dhammā pariññeyyā.
Katame pañca dhammā pahātabbā?
Pañca nīvaraṇāni—
kāmacchandanīvaraṇaṁ, byāpādanīvaraṇaṁ, thinamiddhanīvaraṇaṁ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ, vicikicchānīvaraṇaṁ.
Ime pañca dhammā pahātabbā.
Katame pañca dhammā hānabhāgiyā?
Pañca cetokhilā—
idhāvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati.
Yo so, āvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya.
Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya.
Ayaṁ paṭhamo cetokhilo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu dhamme kaṅkhati vicikicchati …pe…
saṅghe kaṅkhati vicikicchati …pe…
sikkhāya kaṅkhati vicikicchati …pe…
sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, yo so, āvuso, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya.
Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya.
Ayaṁ pañcamo cetokhilo.
Ime pañca dhammā hānabhāgiyā.
Katame pañca dhammā visesabhāgiyā?
Pañcindriyāni—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
Ime pañca dhammā visesabhāgiyā.
Katame pañca dhammā duppaṭivijjhā?
Pañca nissaraṇiyā dhātuyo—
idhāvuso, bhikkhuno kāme manasikaroto kāmesu cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Nekkhammaṁ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ kāmehi.
Ye ca kāmapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti.
Idamakkhātaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno byāpādaṁ manasikaroto byāpāde cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Abyāpādaṁ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ byāpādena.
Ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti.
Idamakkhātaṁ byāpādassa nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno vihesaṁ manasikaroto vihesāya cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Avihesaṁ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ vihesāya.
Ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti.
Idamakkhātaṁ vihesāya nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno rūpe manasikaroto rūpesu cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Arūpaṁ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ rūpehi.
Ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti.
Idamakkhātaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno sakkāyaṁ manasikaroto sakkāye cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Sakkāyanirodhaṁ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ sakkāyena.
Ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti.
Idamakkhātaṁ sakkāyassa nissaraṇaṁ.
Ime pañca dhammā duppaṭivijjhā.
Katame pañca dhammā uppādetabbā?
Pañca ñāṇiko sammāsamādhi:
‘ayaṁ samādhi paccuppannasukho ceva āyatiñca sukhavipāko’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati.
‘Ayaṁ samādhi ariyo nirāmiso’ti paccattaññeva ñāṇaṁ uppajjati.
‘Ayaṁ samādhi akāpurisasevito’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati.
‘Ayaṁ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodibhāvādhigato, na sasaṅkhāraniggayhavāritagato’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati.
‘So kho panāhaṁ imaṁ samādhiṁ satova samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati.
Ime pañca dhammā uppādetabbā.
Katame pañca dhammā abhiññeyyā?
Pañca vimuttāyatanāni—
idhāvuso, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī.
Yathā yathā, āvuso, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca.
Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Idaṁ paṭhamaṁ vimuttāyatanaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti
yathā yathā, āvuso, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca.
Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Idaṁ dutiyaṁ vimuttāyatanaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti. Api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti.
Yathā yathā, āvuso, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca.
Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Idaṁ tatiyaṁ vimuttāyatanaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti.
Api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati.
Yathā yathā, āvuso, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca.
Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Idaṁ catutthaṁ vimuttāyatanaṁ.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati;
api ca khvassa aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Yathā yathā, āvuso, bhikkhuno aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammappaṭisaṁvedī ca.
Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammappaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Idaṁ pañcamaṁ vimuttāyatanaṁ.
Ime pañca dhammā abhiññeyyā.
Katame pañca dhammā sacchikātabbā?
Pañca dhammakkhandhā—
sīlakkhandho, samādhikkhandho, paññākkhandho, vimuttikkhandho, vimuttiñāṇadassanakkhandho.
Ime pañca dhammā sacchikātabbā.
Iti ime paññāsa dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
6. Cha dhammā
Cha dhammā bahukārā …pe… cha dhammā sacchikātabbā.
Katame cha dhammā bahukārā?
Cha sāraṇīyā dhammā.
Idhāvuso, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca,
ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi, tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu, yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni, tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhi sāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca,
ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo, saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Ime cha dhammā bahukārā.
Katame cha dhammā bhāvetabbā?
Cha anussatiṭṭhānāni—
buddhānussati, dhammānussati, saṅghānussati, sīlānussati, cāgānussati, devatānussati.
Ime cha dhammā bhāvetabbā.
Katame cha dhammā pariññeyyā?
Cha ajjhattikāni āyatanāni—
cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ.
Ime cha dhammā pariññeyyā.
Katame cha dhammā pahātabbā?
Cha taṇhākāyā—
rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.
Ime cha dhammā pahātabbā.
Katame cha dhammā hānabhāgiyā?
Cha agāravā—
idhāvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso. Dhamme …pe… saṅghe … sikkhāya … appamāde … paṭisanthāre agāravo viharati appatisso.
Ime cha dhammā hānabhāgiyā.
Katame cha dhammā visesabhāgiyā?
Cha gāravā—
idhāvuso, bhikkhu satthari sagāravo viharati sappatisso. Dhamme …pe… saṅghe … sikkhāya … appamāde … paṭisanthāre sagāravo viharati sappatisso.
Ime cha dhammā visesabhāgiyā.
Katame cha dhammā duppaṭivijjhā?
Cha nissaraṇiyā dhātuyo—
idhāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘mettā hi kho me, cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā,
atha ca pana me byāpādo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti.
So ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi. Na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Aṭṭhānametaṁ āvuso anavakāso yaṁ mettāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya.
Atha ca panassa byāpādo cittaṁ pariyādāya ṭhassatīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, byāpādassa, yadidaṁ mettācetovimuttī’ti.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘karuṇā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā.
Atha ca pana me vihesā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti.
So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo, ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi …pe…
nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, vihesāya, yadidaṁ karuṇācetovimuttī’ti.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘muditā hi kho me cetovimutti bhāvitā …pe…
atha ca pana me arati cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti.
So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca …pe…
nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, aratiyā, yadidaṁ muditācetovimuttī’ti.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘upekkhā hi kho me cetovimutti bhāvitā …pe…
atha ca pana me rāgo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti.
So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca …pe…
nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, rāgassa yadidaṁ upekkhācetovimuttī’ti.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘animittā hi kho me cetovimutti bhāvitā …pe…
atha ca pana me nimittānusāri viññāṇaṁ hotī’ti.
So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca …pe…
nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, sabbanimittānaṁ yadidaṁ animittā cetovimuttī’ti.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘asmīti kho me vigataṁ, ayamahamasmīti na samanupassāmi,
atha ca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṁ cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti.
So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso yaṁ asmīti vigate ayamahamasmīti asamanupassato.
Atha ca panassa vicikicchākathaṅkathāsallaṁ cittaṁ pariyādāya ṭhassati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, vicikicchākathaṅkathāsallassa, yadidaṁ asmimānasamugghāto’ti.
Ime cha dhammā duppaṭivijjhā.
Katame cha dhammā uppādetabbā?
Cha satatavihārā.
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Ime cha dhammā uppādetabbā.
Katame cha dhammā abhiññeyyā?
Cha anuttariyāni—
dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ, sikkhānuttariyaṁ, pāricariyānuttariyaṁ, anussatānuttariyaṁ.
Ime cha dhammā abhiññeyyā.
Katame cha dhammā sacchikātabbā?
Cha abhiññā—
idhāvuso, bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
Dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca.
Parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti,
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāti …pe…
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānāti.
So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti …pe…
Āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ime cha dhammā sacchikātabbā.
Iti ime saṭṭhi dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
7. Satta dhammā
Satta dhammā bahukārā …pe… satta dhammā sacchikātabbā.
Katame satta dhammā bahukārā?
Satta ariyadhanāni—
saddhādhanaṁ, sīladhanaṁ, hiridhanaṁ, ottappadhanaṁ, sutadhanaṁ, cāgadhanaṁ, paññādhanaṁ.
Ime satta dhammā bahukārā.
Katame satta dhammā bhāvetabbā?
Satta sambojjhaṅgā—
satisambojjhaṅgo, dhammavicayasambojjhaṅgo, vīriyasambojjhaṅgo, pītisambojjhaṅgo, passaddhisambojjhaṅgo, samādhisambojjhaṅgo, upekkhāsambojjhaṅgo.
Ime satta dhammā bhāvetabbā.
Katame satta dhammā pariññeyyā?
Satta viññāṇaṭṭhitiyo—
santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā.
Ayaṁ paṭhamā viññāṇaṭṭhiti.
Santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā.
Ayaṁ dutiyā viññāṇaṭṭhiti.
Santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā.
Ayaṁ tatiyā viññāṇaṭṭhiti.
Santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Ayaṁ catutthī viññāṇaṭṭhiti.
Santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā.
Ayaṁ pañcamī viññāṇaṭṭhiti.
Santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā.
Ayaṁ chaṭṭhī viññāṇaṭṭhiti.
Santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā.
Ayaṁ sattamī viññāṇaṭṭhiti.
Ime satta dhammā pariññeyyā.
Katame satta dhammā pahātabbā?
Sattānusayā—
kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo, mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo.
Ime satta dhammā pahātabbā.
Katame satta dhammā hānabhāgiyā?
Satta asaddhammā—
idhāvuso, bhikkhu assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.
Ime satta dhammā hānabhāgiyā.
Katame satta dhammā visesabhāgiyā?
Satta saddhammā—
idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti.
Ime satta dhammā visesabhāgiyā.
Katame satta dhammā duppaṭivijjhā?
Satta sappurisadhammā—
idhāvuso, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaññū ca.
Ime satta dhammā duppaṭivijjhā.
Katame satta dhammā uppādetabbā?
Satta saññā—
aniccasaññā, anattasaññā, asubhasaññā, ādīnavasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā.
Ime satta dhammā uppādetabbā.
Katame satta dhammā abhiññeyyā?
Satta niddasavatthūni—
idhāvuso, bhikkhu sikkhāsamādāne tibbacchando hoti, āyatiñca sikkhāsamādāne avigatapemo.
Dhammanisantiyā tibbacchando hoti, āyatiñca dhammanisantiyā avigatapemo.
Icchāvinaye tibbacchando hoti, āyatiñca icchāvinaye avigatapemo.
Paṭisallāne tibbacchando hoti, āyatiñca paṭisallāne avigatapemo.
Vīriyārambhe tibbacchando hoti, āyatiñca vīriyārambhe avigatapemo.
Satinepakke tibbacchando hoti, āyatiñca satinepakke avigatapemo.
Diṭṭhipaṭivedhe tibbacchando hoti, āyatiñca diṭṭhipaṭivedhe avigatapemo.
Ime satta dhammā abhiññeyyā.
Katame satta dhammā sacchikātabbā?
Satta khīṇāsavabalāni—
idhāvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti.
Yaṁpāvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti.
Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantībhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi.
Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā.
Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni.
Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno satta bojjhaṅgā bhāvitā honti subhāvitā.
Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito.
Yaṁpāvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti:
‘khīṇā me āsavā’ti.
Ime satta dhammā sacchikātabbā.
Itime sattati dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
8. Aṭṭha dhammā
Aṭṭha dhammā bahukārā …pe… aṭṭha dhammā sacchikātabbā.
Katame aṭṭha dhammā bahukārā?
Aṭṭha hetū aṭṭha paccayā ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattanti.
Katame aṭṭha?
Idhāvuso, bhikkhu satthāraṁ upanissāya viharati aññataraṁ vā garuṭṭhāniyaṁ sabrahmacāriṁ, yatthassa tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti pemañca gāravo ca.
Ayaṁ paṭhamo hetu paṭhamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Taṁ kho pana satthāraṁ upanissāya viharati aññataraṁ vā garuṭṭhāniyaṁ sabrahmacāriṁ, yatthassa tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti pemañca gāravo ca. Te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ?
Imassa ko attho’ti?
Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti, anuttānīkatañca uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti.
Ayaṁ dutiyo hetu dutiyo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya, vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Taṁ kho pana dhammaṁ sutvā dvayena vūpakāsena sampādeti—kāyavūpakāsena ca cittavūpakāsena ca.
Ayaṁ tatiyo hetu tatiyo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Ayaṁ catuttho hetu catuttho paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Ayaṁ pañcamo hetu pañcamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Ayaṁ chaṭṭho hetu chaṭṭho paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato. Cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Ayaṁ sattamo hetu sattamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu, udayabbayānupassī viharati:
‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya atthaṅgamo;
iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya atthaṅgamo;
iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṁ samudayo iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo;
iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
Ayaṁ aṭṭhamo hetu aṭṭhamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Ime aṭṭha dhammā bahukārā.
Katame aṭṭha dhammā bhāvetabbā?
Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Ime aṭṭha dhammā bhāvetabbā.
Katame aṭṭha dhammā pariññeyyā?
Aṭṭha lokadhammā—
lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca.
Ime aṭṭha dhammā pariññeyyā.
Katame aṭṭha dhammā pahātabbā?
Aṭṭha micchattā—
micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo, micchāsati, micchāsamādhi.
Ime aṭṭha dhammā pahātabbā.
Katame aṭṭha dhammā hānabhāgiyā?
Aṭṭha kusītavatthūni.
Idhāvuso, bhikkhunā kammaṁ kātabbaṁ hoti,
tassa evaṁ hoti:
‘kammaṁ kho me kātabbaṁ bhavissati, kammaṁ kho pana me karontassa kāyo kilamissati, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Idaṁ paṭhamaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā kammaṁ kataṁ hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho kammaṁ akāsiṁ, kammaṁ kho pana me karontassa kāyo kilanto, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati …pe…
idaṁ dutiyaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṁ kho pana me gacchantassa kāyo kilamissati, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati …pe…
idaṁ tatiyaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho maggaṁ agamāsiṁ, maggaṁ kho pana me gacchantassa kāyo kilanto, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati …pe…
idaṁ catutthaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto nālatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo kilanto akammañño, handāhaṁ nipajjāmī’ti …pe…
idaṁ pañcamaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto alatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo garuko akammañño, māsācitaṁ maññe, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati …pe…
idaṁ chaṭṭhaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho, tassa evaṁ hoti:
‘uppanno kho me ayaṁ appamattako ābādho atthi kappo nipajjituṁ, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati …pe…
idaṁ sattamaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gilānāvuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho gilānāvuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā.
Tassa me kāyo dubbalo akammañño, handāhaṁ nipajjāmī’ti.
So nipajjati …pe…
idaṁ aṭṭhamaṁ kusītavatthu.
Ime aṭṭha dhammā hānabhāgiyā.
Katame aṭṭha dhammā visesabhāgiyā?
Aṭṭha ārambhavatthūni.
Idhāvuso, bhikkhunā kammaṁ kātabbaṁ hoti, tassa evaṁ hoti:
‘kammaṁ kho me kātabbaṁ bhavissati, kammaṁ kho pana me karontena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti.
So vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Idaṁ paṭhamaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā kammaṁ kataṁ hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho kammaṁ akāsiṁ, kammaṁ kho panāhaṁ karonto nāsakkhiṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe…
idaṁ dutiyaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṁ kho pana me gacchantena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe…
idaṁ tatiyaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho maggaṁ agamāsiṁ, maggaṁ kho panāhaṁ gacchanto nāsakkhiṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe…
idaṁ catutthaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto nālatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo lahuko kammañño, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe…
idaṁ pañcamaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto alatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ.
Tassa me kāyo balavā kammañño, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe…
idaṁ chaṭṭhaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho.
Tassa evaṁ hoti:
‘uppanno kho me ayaṁ appamattako ābādho ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ me ābādho pavaḍḍheyya, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe…
idaṁ sattamaṁ ārambhavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gilānā vuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā.
Tassa evaṁ hoti:
‘ahaṁ kho gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā, ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ me ābādho paccudāvatteyya, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti.
So vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Idaṁ aṭṭhamaṁ ārambhavatthu.
Ime aṭṭha dhammā visesabhāgiyā.
Katame aṭṭha dhammā duppaṭivijjhā?
Aṭṭha akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya.
Idhāvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito.
Ayañca puggalo nirayaṁ upapanno hoti.
Ayaṁ paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ, āvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito.
Ayañca puggalo tiracchānayoniṁ upapanno hoti.
Ayaṁ dutiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ …pe…
pettivisayaṁ upapanno hoti.
Ayaṁ tatiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ …pe…
aññataraṁ dīghāyukaṁ devanikāyaṁ upapanno hoti.
Ayaṁ catuttho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ …pe…
paccantimesu janapadesu paccājāto hoti milakkhesu aviññātāresu, yattha natthi gati bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Ayaṁ pañcamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ …pe…
ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti micchādiṭṭhiko viparītadassano:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Ayaṁ chaṭṭho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ …pe…
ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti duppañño jaḷo eḷamūgo, nappaṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṁ.
Ayaṁ sattamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Puna caparaṁ …pe…
ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo, paṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṁ.
Ayaṁ aṭṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Ime aṭṭha dhammā duppaṭivijjhā.
Katame aṭṭha dhammā uppādetabbā?
Aṭṭha mahāpurisavitakkā—
appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa.
Santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa.
Pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa.
Āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa.
Upaṭṭhitasatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa.
Samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa.
Paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassa.
Nippapañcassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo papañcārāmassāti ime aṭṭha dhammā uppādetabbā.
Katame aṭṭha dhammā abhiññeyyā?
Aṭṭha abhibhāyatanāni—
ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—
evaṁsaññī hoti.
Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—
evaṁsaññī hoti.
Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—
evaṁsaññī hoti.
Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—
evaṁsaññī hoti.
Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ;
evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ;
evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ;
evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ;
evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ime aṭṭha dhammā abhiññeyyā.
Katame aṭṭha dhammā sacchikātabbā?
Aṭṭha vimokkhā—
rūpī rūpāni passati.
Ayaṁ paṭhamo vimokkho.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati.
Ayaṁ dutiyo vimokkho.
Subhanteva adhimutto hoti.
Ayaṁ tatiyo vimokkho.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ catuttho vimokkho.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ pañcamo vimokkho.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ sattamo vimokkho.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Ime aṭṭha dhammā sacchikātabbā.
Iti ime asīti dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
9. Nava dhammā
Nava dhammā bahukārā …pe… nava dhammā sacchikātabbā.
Katame nava dhammā bahukārā?
Nava yonisomanasikāramūlakā dhammā, yonisomanasikaroto pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati, samāhite citte yathābhūtaṁ jānāti passati, yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ nibbindati, nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati.
Ime nava dhammā bahukārā.
Katame nava dhammā bhāvetabbā?
Nava pārisuddhipadhāniyaṅgāni—
sīlavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, cittavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, diṭṭhivisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, maggāmaggañāṇadassanavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, paṭipadāñāṇadassanavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, ñāṇadassanavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, paññāvisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, vimuttivisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Ime nava dhammā bhāvetabbā.
Katame nava dhammā pariññeyyā?
Nava sattāvāsā—
santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā.
Ayaṁ paṭhamo sattāvāso.
Santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā.
Ayaṁ dutiyo sattāvāso.
Santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā.
Ayaṁ tatiyo sattāvāso.
Santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Ayaṁ catuttho sattāvāso.
Santāvuso, sattā asaññino appaṭisaṁvedino, seyyathāpi devā asaññasattā.
Ayaṁ pañcamo sattāvāso.
Santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā.
Ayaṁ chaṭṭho sattāvāso.
Santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā.
Ayaṁ sattamo sattāvāso.
Santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā.
Ayaṁ aṭṭhamo sattāvāso.
Santāvuso, sattā sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanūpagā.
Ayaṁ navamo sattāvāso.
Ime nava dhammā pariññeyyā.
Katame nava dhammā pahātabbā?
Nava taṇhāmūlakā dhammā—
taṇhaṁ paṭicca pariyesanā, pariyesanaṁ paṭicca lābho, lābhaṁ paṭicca vinicchayo, vinicchayaṁ paṭicca chandarāgo, chandarāgaṁ paṭicca ajjhosānaṁ, ajjhosānaṁ paṭicca pariggaho, pariggahaṁ paṭicca macchariyaṁ, macchariyaṁ paṭicca ārakkho, ārakkhādhikaraṇaṁ daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti.
Ime nava dhammā pahātabbā.
Katame nava dhammā hānabhāgiyā?
Nava āghātavatthūni:
‘anatthaṁ me acarī’ti āghātaṁ bandhati,
‘anatthaṁ me caratī’ti āghātaṁ bandhati,
‘anatthaṁ me carissatī’ti āghātaṁ bandhati;
‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acarī’ti āghātaṁ bandhati …pe…
‘anatthaṁ caratī’ti āghātaṁ bandhati …pe…
‘anatthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati;
‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acarī’ti āghātaṁ bandhati …pe…
‘atthaṁ caratī’ti āghātaṁ bandhati …pe…
‘atthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati.
Ime nava dhammā hānabhāgiyā.
Katame nava dhammā visesabhāgiyā?
Nava āghātapaṭivinayā:
‘anatthaṁ me acari, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti;
‘anatthaṁ me carati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti;
‘anatthaṁ me carissati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti;
‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acari …pe…
anatthaṁ carati …pe…
anatthaṁ carissati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti;
‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acari …pe…
atthaṁ carati …pe…
atthaṁ carissati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti.
Ime nava dhammā visesabhāgiyā.
Katame nava dhammā duppaṭivijjhā?
Nava nānattā—
dhātunānattaṁ paṭicca uppajjati phassanānattaṁ, phassanānattaṁ paṭicca uppajjati vedanānānattaṁ, vedanānānattaṁ paṭicca uppajjati saññānānattaṁ, saññānānattaṁ paṭicca uppajjati saṅkappanānattaṁ, saṅkappanānattaṁ paṭicca uppajjati chandanānattaṁ, chandanānattaṁ paṭicca uppajjati pariḷāhanānattaṁ, pariḷāhanānattaṁ paṭicca uppajjati pariyesanānānattaṁ, pariyesanānānattaṁ paṭicca uppajjati lābhanānattaṁ (…).
Ime nava dhammā duppaṭivijjhā.
Katame nava dhammā uppādetabbā?
Nava saññā—
asubhasaññā, maraṇasaññā, āhāre paṭikūlasaññā, sabbaloke anabhiratisaññā, aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā.
Ime nava dhammā uppādetabbā.
Katame nava dhammā abhiññeyyā?
Nava anupubbavihārā—
idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Ime nava dhammā abhiññeyyā.
Katame nava dhammā sacchikātabbā?
Nava anupubbanirodhā—
paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa kāmasaññā niruddhā hoti,
dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti,
tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti niruddhā hoti,
catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāssā niruddhā honti,
ākāsānañcāyatanaṁ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti,
viññāṇañcāyatanaṁ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti,
ākiñcaññāyatanaṁ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti,
nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti,
saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti.
Ime nava dhammā sacchikātabbā.
Iti ime navuti dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
10. Dasa dhammā
Dasa dhammā bahukārā …pe… dasa dhammā sacchikātabbā.
Katame dasa dhammā bahukārā?
Dasa nāthakaraṇā dhammā—
idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Yaṁpāvuso, bhikkhu sīlavā hoti …pe… sikkhati sikkhāpadesu.
Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bahussuto …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Yaṁpāvuso, bhikkhu bahussuto …pe…
ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… kalyāṇasampavaṅko.
Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato, khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… anusāsaniṁ.
Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni tattha dakkho hoti analaso tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ, alaṁ saṁvidhātuṁ.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… alaṁ saṁvidhātuṁ.
Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… uḷārapāmojjo.
Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarehi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe…
ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati …pe… kusalesu dhammesu.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe…
ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu satimā hoti, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe…
ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato, ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe…
ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Ime dasa dhammā bahukārā.
Katame dasa dhammā bhāvetabbā?
Dasa kasiṇāyatanāni—
pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Āpokasiṇameko sañjānāti …pe…
tejokasiṇameko sañjānāti …
vāyokasiṇameko sañjānāti …
nīlakasiṇameko sañjānāti …
pītakasiṇameko sañjānāti …
lohitakasiṇameko sañjānāti …
odātakasiṇameko sañjānāti …
ākāsakasiṇameko sañjānāti …
viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Ime dasa dhammā bhāvetabbā.
Katame dasa dhammā pariññeyyā?
Dasāyatanāni—
cakkhāyatanaṁ, rūpāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ.
Ime dasa dhammā pariññeyyā.
Katame dasa dhammā pahātabbā?
Dasa micchattā—
micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo, micchāsati, micchāsamādhi, micchāñāṇaṁ, micchāvimutti.
Ime dasa dhammā pahātabbā.
Katame dasa dhammā hānabhāgiyā?
Dasa akusalakammapathā—
pāṇātipāto, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāro, musāvādo, pisuṇā vācā, pharusā vācā, samphappalāpo, abhijjhā, byāpādo, micchādiṭṭhi.
Ime dasa dhammā hānabhāgiyā.
Katame dasa dhammā visesabhāgiyā?
Dasa kusalakammapathā—
pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī, anabhijjhā, abyāpādo, sammādiṭṭhi.
Ime dasa dhammā visesabhāgiyā.
Katame dasa dhammā duppaṭivijjhā?
Dasa ariyavāsā—
idhāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti, chaḷaṅgasamannāgato, ekārakkho, caturāpasseno, paṇunnapaccekasacco, samavayasaṭṭhesano, anāvilasaṅkappo, passaddhakāyasaṅkhāro, suvimuttacitto, suvimuttapañño.
Kathañcāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti?
Idhāvuso, bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu ekārakkho hoti?
Idhāvuso, bhikkhu satārakkhena cetasā samannāgato hoti.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu ekārakkho hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti?
Idhāvuso, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti?
Idhāvuso, bhikkhuno yāni tāni puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ puthupaccekasaccāni, sabbāni tāni nunnāni honti paṇunnāni cattāni vantāni muttāni pahīnāni paṭinissaṭṭhāni.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti?
Idhāvuso, bhikkhuno kāmesanā pahīnā hoti, bhavesanā pahīnā hoti, brahmacariyesanā paṭippassaddhā.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappā hoti?
Idhāvuso, bhikkhuno kāmasaṅkappo pahīno hoti, byāpādasaṅkappo pahīno hoti, vihiṁsāsaṅkappo pahīno hoti.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti?
Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti?
Idhāvuso, bhikkhuno rāgā cittaṁ vimuttaṁ hoti, dosā cittaṁ vimuttaṁ hoti, mohā cittaṁ vimuttaṁ hoti.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti.
Kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘rāgo me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti.
‘Doso me pahīno …pe…
āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti.
‘Moho me pahīno …pe…
āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti.
Ime dasa dhammā duppaṭivijjhā.
Katame dasa dhammā uppādetabbā?
Dasa saññā—
asubhasaññā, maraṇasaññā, āhāre paṭikūlasaññā, sabbaloke anabhiratisaññā, aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā.
Ime dasa dhammā uppādetabbā.
Katame dasa dhammā abhiññeyyā?
Dasa nijjaravatthūni—
sammādiṭṭhissa micchādiṭṭhi nijjiṇṇā hoti.
Ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, te cassa nijjiṇṇā honti.
Sammāsaṅkappassa micchāsaṅkappo …pe…
sammāvācassa micchāvācā …
sammākammantassa micchākammanto …
sammāājīvassa micchāājīvo …
sammāvāyāmassa micchāvāyāmo …
sammāsatissa micchāsati …
sammāsamādhissa micchāsamādhi …
sammāñāṇassa micchāñāṇaṁ nijjiṇṇaṁ hoti.
Sammāvimuttissa micchāvimutti nijjiṇṇā hoti.
Ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, te cassa nijjiṇṇā honti.
Ime dasa dhammā abhiññeyyā.
Katame dasa dhammā sacchikātabbā?
Dasa asekkhā dhammā—
asekkhā sammādiṭṭhi, asekkho sammāsaṅkappo, asekkhā sammāvācā, asekkho sammākammanto, asekkho sammāājīvo, asekkho sammāvāyāmo, asekkhā sammāsati, asekkho sammāsamādhi, asekkhaṁ sammāñāṇaṁ, asekkhā sammāvimutti.
Ime dasa dhammā sacchikātabbā.
Iti ime satadhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā”ti.
Idamavocāyasmā sāriputto.
Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Dasuttarasuttaṁ niṭṭhitaṁ ekādasamaṁ.
Pāthikavaggo niṭṭhito.
Tassuddānaṁ
Pāthiko ca udumbaraṁ,
cakkavatti aggaññakaṁ;
Sampasādanapāsādaṁ,
mahāpurisalakkhaṇaṁ.
Siṅgālāṭānāṭiyakaṁ,
saṅgīti ca dasuttaraṁ;
Ekādasahi suttehi,
pāthikavaggoti vuccati.
Pāthikavaggapāḷi niṭṭhitā.
Tīhi vaggehi paṭimaṇḍito sakalo
dīghanikāyo samatto.
Thus have I heard. The Exalted One was once staying at Campā, on the banks of Lake Gaggara, with a great company of the brethren, about five hundred in number. There the venerable Sāriputta addressed them, saying, ‘Friends, brethren!’
‘Yes, friend,’ responded the brethren.
And the venerable Sāriputta spake thus:—
In groups from one to ten will I declare The Norm, that so ye may Nibbāna win, that ye may make an end of ill and pain, that ye may be from every bond set free.
Ones
There is One thing, friends, that helpeth much, One thing that is to be developed, One that is to be understood, One that is to be eliminated, One that belongs to disaster, One that leads to distinction, One that is hard to penetrate, One that is to be brought to pass, One that is to be thoroughly learnt, One that is to be realized.
i. Which One thing helpeth much?
Zeal in things that are good.
ii. Which One thing is to be developed?
Mindfulness with respect to the bodily factors, accompanied by pleasurable feeling.
iii. Which One thing is to be understood?
Contact as a condition of intoxicants (Āsavas) and of grasping.
iv. Which One thing is to be eliminated?
The conceit: ‘I am.’
v. Which One thing belongs to decline?
Disorderly thinking.
vi. Which One thing leads to distinction?
Orderly thinking.
vii. Which One thing is hard to penetrate?
Immediacy of succession in mental concentration.
viii. Which One thing is to be brought to pass?
Sure and unshakeable knowledge.
ix. Which One thing is to be thoroughly learnt?
All beings are maintained by causes.
x. Which One thing is to be realized?
Sure and unshakeable emancipation of mind.
Now these ten things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Twos
There are Two things, friends, that helpeth much, Two things that are to be developed, Two things that are to be understood, Two things that are to be eliminated, Two things that belong to disaster, Two things that lead to distinction, Two things that are hard to penetrate, Two things that are to be brought to pass, Two things that are to be thoroughly learnt, Two things that are to be realized.
i. Which Two help much?
Mindfulness and deliberation.
ii. Which Two are to be developed?
Calm and insight.
iii. Which Two are to be understood?
Mind and body.
iv. Which Two are to be eliminated?
Ignorance and the craving for rebirth.
v. Which Two belong to decline?
Contumacy and friendship with evil.
vi. Which Two lead to distinction?
Suavity and friendship with good.
vii. Which Two are hard to penetrate?
That which is the condition, the cause of the corruption of beings, and that which is the condition, the cause of their purification.
viii. Which Two are to be brought to pass?
Insight into extinction, and insight into not coming to be.
ix. Which Two are to be thoroughly learnt?
Two elements, to wit, the Conditioned and the Unconditioned.
x. Which Two are to be realized?
Supernormal knowledge and emancipation.
Now these Twofold things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, and perfectly comprehended by the Tathāgata.
Threes
There are Three things, friends, that helpeth much, Three things that are to be developed, Three things that are to be understood, Three things that are to be eliminated, Three things that belong to disaster, Three things that lead to distinction, Three things that are hard to penetrate, Three things that are to be brought to pass, Three things that are to be thoroughly learnt, Three things that are to be realized.
i. Which Three help much?
Intercourse with noble-minded persons, hearing the good Doctrine, progress in doctrine and minor doctrines.
ii. Which Three are to be developed?
The three modes of concentrative thought, to wit, mental application followed by sustained thought, sustained thought without mental application, concentrative thought without either.
iii. Which Three are to be understood?
Three modes of feeling, to wit, pleasurable, painful, and neutral feeling.
iv. Which Three are to be eliminated?
Three cravings, to wit, sensual, worldly craving, craving for rebirth, craving to end life.
v. Which Three belong to decline?
Three roots of demerit, to wit, greed, hate, illusion.
vi. Which Three lead to distinction?
Three roots of merit, to wit, disinterestedness, love, intelligence.
vii. Which Three are hard to penetrate?
Three elements of deliverance, to wit, renunciation;—this is the escape from all worldly desires; the immaterial:—this is the escape from material things; but whatever has become, is conditioned, has arisen from a cause:—the escape from that is cessation.
viii. Which Three are to be brought to pass?
Three knowledges, to wit, as to the past, the future and the present.
ix. Which Three are to be thoroughly learnt?
Three elements, to wit, the element of sensuous desires, of Rūpa, of Arūpa.
x. Which Three are to be realized?
Three branches of wisdom, to wit, intuition of former births, intuition of the deceases and rebirths of beings, intuition of the extinction of ‘intoxicants.’
Now these Three Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathagata.
Fours
There are Four things, friends, that helpeth much, Four things that are to be developed, Four things that are to be understood, Four things that are to be eliminated, Four things that belong to disaster, Four things that lead to distinction, Four things that are hard to penetrate, Four things that are to be brought to pass, Four things that are to be thoroughly learnt, Four things that are to be realized.
i. Which Four help much?
Four ‘wheels,’ to wit, the orbit of a favourable place of residence, the orbit of association with the good, perfect adjustment of one’s self, the cycle of merit wrought in the past.
ii. Which Four are to be developed?
The Four Applications of Mindfulness, to wit:—Herein, friends, a brother as to the body, feelings, thought, and ideas, continues so to look upon [each of these four groups], that he remains ardent, self-possessed and mindful, and can suppress both the hankering and the dejection common in the world.
iii. Which Four are to be understood?
The Four Nutriments, to wit, solid nutriment, gross or subtle; contact as second, the purposes of the mind as third, [rebirth-] consciousness as fourth.
iv. Which Four are to be eliminated?
The Four Floods of sensuous desires, re-becoming, erroneous opinions, ignorance.
v. Which Four belong to decline?
The Four Bonds of sensuous desires, re-becoming, erroneous opinions, ignorance.
vi. Which Four lead to distinction?
The Four Detachments, to wit, detachment from sensuous desires, re-becoming, erroneous opinions, ignorance.
vii. Which Four are hard to penetrate?
The Four Concentrations, to wit, that leading to decline, that leading to maintenance, that leading to distinction, that leading to Nibbāna.
viii. Which Four are to be brought to pass?
The Four knowledges, to wit, knowledge of the Doctrine, knowledge of its corollaries, knowledge of what is in another’s consciousness and popular knowledge.
ix. Which Four are to be thoroughly learnt?
The Four Ariyan Truths, to wit, the Ariyan Truth as to Ill, and the Ariyan Truths as to the Genesis of Ill, the Cessation of Ill, the Path leading to the Cessation of Ill.
x. Which Four are to be realized?
The Four Fruits of the Recluse’s Life, to wit, the Fruit of each Path:—that of the Stream-winning, of Once-Returning, of Never-Returning, of Arahantship.
Now these Four Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathagata.
Fives
There are Five things, friends, that helpeth much, Five things that are to be developed, Five things that are to be understood, Five things that are to be eliminated, Five things that belong to disaster, Five things that lead to distinction, Five things that are hard to penetrate, Five things that are to be brought to pass, Five things that are to be thoroughly learnt, Five things that are to be realized.
i. Which Five help much?
Five factors in spiritual wrestling confidence (or faith), good health, honesty, energy, insight.
ii. Which Five are to be developed?
The five factors of perfect concentration, to wit, suffusion of rapture, suffusion of easeful bliss, suffusion of [telepathic] consciousness, suffusion of light, and images for retrospective thought.
iii. Which Five are to be understood?
The five aggregates of grasping, to wit, material qualities, feeling, perception, volitional and other complexes, consciousness.
iv. Which Five are to be eliminated?
The Five Hindrances, to wit, sensuality, malevolence, sloth and torpor, excitement and worry, doubt.
v. Which Five belong to decline?
The five spiritual barrennesses, to wit, (1) herein, a brother doubts, is perplexed about the Master, comes to no definite choice, is not satisfied. He being thus, his mind does not incline (lit. bend) towards ardour, devotion, perseverance, exertion:—this is the first barrenness. (2–4) When he doubts, is perplexed about the Doctrine, the Order, the Training, these are, in order, the second, third and fourth barrennesses. (5) When he is offended with his fellow-disciples, vexed, agitated, sterile towards them, he being thus, his mind does not incline towards ardour, etc.
vi. Which Five belong to distinction?
The five spiritual faculties, to wit, faith, energy, mindfulness, concentration, insight.
vii. Which Five are hard to penetrate?
(1) The five elements favourable to deliverance, to wit, Herein, friends, when a brother is contemplating sensuous desires, his heart does not leap forward to them, nor rest complacent in them, does not choose them.
But when he is contemplating renunciation of them, his heart leaps forward, rests complacent in it, chooses it.
This frame of mind he gets well in hand, well developed, well lifted up, well freed and detached from sense desires.
And those intoxicants, whose miseries, those fevers which arise in consequence of sense-desires, from all these he is freed, nor does he feel that sort of feeling.
This is pronounced to be the first deliverance.
(2) Again, friends, when a brother is contemplating [Ed.: thoughts of] ill will, his heart does not leap forward to them, nor rest complacent in them, does not choose them.
But when he is contemplating renunciation of them, his heart leaps forward, rests complacent in it, chooses it.
This frame of mind he gets well in hand, well developed, well lifted up, well freed and detached from ill will.
And those intoxicants, whose miseries, those fevers which arise in consequence of ill will, from all these he is freed, nor does he feel that sort of feeling.
This is pronounced to be the second deliverance.
(3) Again, friends, when a brother is contemplating [Ed.: thoughts of] cruelty, his heart does not leap forward to them, nor rest complacent in them, does not choose them.
But when he is contemplating renunciation of them, his heart leaps forward, rests complacent in it, chooses it.
This frame of mind he gets well in hand, well developed, well lifted up, well freed and detached from cruelty.
And those intoxicants, whose miseries, those fevers which arise in consequence of cruelty, from all these he is freed, nor does he feel that sort of feeling.
This is pronounced to be the third deliverance.
(4) Again, friends, when a brother is contemplating external objects, his heart does not leap forward to them, nor rest complacent in them, does not choose them.
But when he is contemplating renunciation of them, his heart leaps forward, rests complacent in it, chooses it.
This frame of mind he gets well in hand, well developed, well lifted up, well freed and detached from external objects.
And those intoxicants, whose miseries, those fevers which arise in consequence of external objects, from all these he is freed, nor does he feel that sort of feeling.
This is pronounced to be the fourth deliverance.
(5) Again, friends, when a brother is contemplating [Ed.: thoughts of] individuality, his heart does not leap forward to them, nor rest complacent in them, does not choose them.
But when he is contemplating renunciation of them, his heart leaps forward, rests complacent in it, chooses it.
This frame of mind he gets well in hand, well developed, well lifted up, well freed and detached from [Ed.: thoughts of] individuality.
And those intoxicants, whose miseries, those fevers which arise in consequence of [Ed.: thoughts of] individuality, from all these he is freed, nor does he feel that sort of feeling.
This is pronounced to be the fifth deliverance.
viii. Which Five are to be brought to pass?
The fivefold intuition of perfect concentration, to wit:—As a personal experience the intuition arises that (1) ‘this rapture is both a present happiness and a future result of happiness;’ (2) ‘this rapture is Ariyan, is unworldly;’ (3) ‘this rapture is not a pursuit of any but the noblest men;’ (4) ‘this rapture is good, excellent, has won tranquillization, has attained to mental uplift and concentration, and is not instigated nor opposed nor foiled; (5) ‘this rapture I myself with mental clarity attain, and from it with mental clarity emerge.’
ix. Which Five are to be thoroughly learnt?
The five occasions of emancipation, to wit: (1) herein, when the Master, or a reverend fellow-disciple teaches the Norm to a brother, according as the teaching is given, the listener comes to know both the matter of the doctrine, and the text of the doctrine. And gladness springs up in him, and in him gladdened zest springs up; his mind enraptured, the faculties become serene; with serenity comes happiness, and of him thus happy the heart is stayed and firm. This is the first occasion.
(2) In the next place, a brother has a similar experience not from hearing the Master or a reverend fellow-disciple teach, but while himself teaching others the Norm in detail, as he has learnt and got it by memory and he comes to know both the matter of the doctrine, and the text of the doctrine. And gladness springs up in him, and in him gladdened zest springs up; his mind enraptured, the faculties become serene; with serenity comes happiness, and of him thus happy the heart is stayed and firm. This is the second occasion.
(3) In the third place, a brother has a similar experience, not on those first two occasions, but when he is reciting the doctrines of the Norm in detail as he has learnt and got them by memory and he comes to know both the matter of the doctrine, and the text of the doctrine. And gladness springs up in him, and in him gladdened zest springs up; his mind enraptured, the faculties become serene; with serenity comes happiness, and of him thus happy the heart is stayed and firm. This is the third occasion.
(4) In the fourth place, a brother has a similar experience, not on those first three occasions, but when he applies his thought to the Norm as he has learnt and got it by memory and he comes to know both the matter of the doctrine, and the text of the doctrine, and sustains protracted meditation on it and contemplates it in mind. And gladness springs up in him, and in him gladdened zest springs up; his mind enraptured, the faculties become serene; with serenity comes happiness, and of him thus happy the heart is stayed and firm. This is the fourth occasion.
(5) Finally, a brother has a similar experience, not on those first four occasions, but when he has well grasped some given clue to concentration, has well applied his understanding, has well thought it out, has well penetrated it by intuition.
And gladness springs up in him, and in him gladdened zest springs up; his mind enraptured, the faculties become serene; with serenity comes happiness, and of him thus happy the heart is stayed and firm. This is the fifth occasion.
x. Which Five are to be realized?
The five bodies of doctrine, to wit, morals, concentrative exercise, insight, emancipation, knowledge and insight requisite for emancipation.
Now these Five Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Sixes
There are Six things, friends, that helpeth much, Six things that are to be developed, Six things that are to be understood, Six things that are to be eliminated, Six things that belong to disaster, Six things that lead to distinction, Six things that are hard to penetrate, Six things that are to be brought to pass, Six things that are to be thoroughly learnt, Six things that are to be realized.
i. Which Six help much?
The six occasions of fraternal living, to wit: (1) Herein, friends, when a brother’s kindly act towards his fellow-disciples has been attested, as wrought publicly and in private, that is an occasion of fraternity, causing affection and regard, and conducing to concord, absence of strife, harmony, union.
(2–3) The second and third occasions are those of kindly speech and kind thoughts. (4) In the next place, when a brother who has honestly and righteously obtained gifts, distributes these impartially among his fellow-disciples, and has everything in common with them, even to the contents of his alms-bowl, that is an occasion of fraternity, etc. (5) Next, when the character and moral habits of a brother are without rupture or flaw, are consistently practised, unblemished, making a man free, commended by the wise, unperverted, and conducing to rapt concentration, and he, so virtuous, dwells openly and privately among his fellow-disciples, that is an occasion of fraternity, causing affection and regard, and conducing to concord, absence of strife, harmony, union. (6) Lastly, when a brother lives with his religious life [guided by] that Ariyan, safe-guarding belief, which leads him who so lives to the perfect destruction of sorrow,—when he thus equipped lives among his fellow-disciples publicly and in private, that is an occasion of fraternity … like the foregoing. ii. Which Six are to be developed?
The six matters for recollection, to wit, the Buddha, the Norm, the Order, the moral precepts, renunciation, the devas.
iii. Which Six are to be understood?
The six (organs of sense or) fields of personal experience, to wit, sight, sound, smell, taste, touch and mind.
iv. Which Six are to be eliminated?
The six groups of cravings, to wit, the five kinds of sense-objects, and phenomena.
v. Which Six belong to decline?
The six forms of irreverence, to wit, Herein, friends, a brother conducts himself irreverently and insolently to the Master, the Norm, the Order, the training, or to his studies, or lacks in reverence and respect towards the duties of courtesy.
vi. Which Six belong to distinction?
The six forms of reverence, to wit, Herein, friends, a brother conducts himself in the opposite manner in the foregoing six cases.
vii. Which Six are hard to penetrate?
The six elements tending to deliverance, to wit: (1) herein, friends, a brother might say: ‘Lo! I have developed mental emancipation by love, I have multiplied it, made it a vehicle, and a base.
I have brought it out, accumulated and set it well going. Nevertheless malevolence persistently possesses my heart.’ To him it should be said: ‘Not so! Say not so, your reverence! Do not misrepresent the Exalted One! It is not well to calumniate the Exalted One! Surely he would not say this was so! This is a baseless and uncalled-for statement, friend. Things cannot be as you say. Emancipation of the heart through love, brother, this is how you become delivered from malevolence. (2–4) In the same way a brother might wrongly complain that after cultivating emancipation of the heart through pity, he was still possessed by cruelty, or that after cultivating emancipation of the heart through sympathetic joy, or through equanimity, he was still possessed by disgust, and passion respectively. (5) Next, friends, a brother might say: ‘Lo! I have developed mental emancipation from the power of any object to catch the fancy and incite lust, I have multiplied that emancipation, made it a vehicle and a base I have brought it out, accumulated and set it well going. Nevertheless my mind still pursues seductive objects. (6) Or again he may say: ‘Lo! The notion “I am” is offensive to me! I pay no heed to the notion “This ‘I’ exists!” Nevertheless doubts and queries and debating still possess my mind.’ To these answer should be made as before. He should be assured that such cannot really be the case; that it is by emancipating the heart through equanimity, or again, through the expulsion of the conceit of the existence of an ‘I,’ that he becomes delivered from lust and from doubts and queries and debatings. viii. Which Six are to be brought to pass?
The six chronic states, to wit, (1–5) Herein, friends, a brother on occasion of any of the five kinds of sensation, (6) as well as on that of any impression or idea, is neither delighted nor displeased, but remains equable, mindful and deliberate.
ix. Which Six are to be thoroughly learnt?
The six unsurpassable experiences, to wit, certain sights, certain things heard, certain gains, certain trainings, certain ministries, certain memories.
x. Which Six are to be realized?
The six super-knowledges. Herein, friends, a brother (1) enjoys the wondrous gift in its various modes: — being one he becomes many, or having become many becomes one again; he becomes visible or invisible; he goes, feeling no obstruction, to the further side of a wall or rampart or hill, as if through air; he penetrates up and down through solid ground, as if through water; he walks on water without breaking through, as if on solid ground; he travels cross-legged in the sky, like the birds on wing; even the Moon and the Sun, so potent, so mighty though they be, does he touch and feel with his hand; he reaches in the body even up to the heaven of Brahmā.
(2) With that clear Heavenly Ear surpassing the ear of men he hears sounds both human and celestial, whether far or near.
(3) Penetrating with his own heart the hearts of other beings, of other men, he knows them. He discerns—
The passionate mind to be passionate, and the calm mind calm; the angry mind to be angry, and the peaceful mind peaceful; the dull mind to be dull, and the alert mind alert; the attentive mind to be attentive, and the wandering mind wandering; the broad mind to be broad, and the narrow mind narrow; the mean mind to be mean, and the lofty mind lofty; the steadfast mind to be steadfast, and the wavering mind to be wavering; the free mind to be free, and the enslaved mind enslaved.
(4) He recalls to mind his various temporary states in days gone by—one birth, or two or three or four or five births, or ten or twenty or thirty or forty or fifty or a hundred or a thousand or a hundred thousand births, through many an aeon of dissolution, many an aeon of evolution, many an aeon of both dissolution and evolution. “In such a place such was my name, such my family, such my caste, such my food, such my experience of discomfort or of ease, and such the limits of my life.
When I passed away from that state, I took form again in such a place. There I had such and such a name and family and caste and food and experience of discomfort or of ease, such was the limit of my life.
When I passed away from that state I took form again here.”—thus does he call to mind his temporary states in days gone by in all their details, and in all their modes.
(5) With the pure Heavenly Eye, surpassing that of men, he sees beings as they pass away from one form of existence and take shape in another; he recognises the mean and the noble, the well favoured and the ill favoured, the happy and the wretched, passing away according to their deeds: “Such and such beings, my brethren, evil-doers in act and word and thought, revilers of the noble ones, holding to wrong views, acquiring for themselves that Karma which results from wrong views, they, on the dissolution of the body, after death, are reborn in some unhappy state of suffering or woe.
But such and such beings, my brethren, well-doers in act and word and thought, not revilers of the noble ones, holding to right views, acquiring for themselves that Karma that results from right views, they, on the dissolution of the body, after death, are reborn in some happy state in heaven.”
Thus with the pure Heavenly Eye, surpassing that of men, he sees beings as they pass away from one state of existence, and take form in another; he recognises the mean and the noble, the well favoured and the ill favoured, the happy and the wretched, passing away according to their deeds.
(6) He lives in the attainment, the personal knowledge and realization, through the extinction of the intoxicants, of sane and immune freedom of heart and mind.
Now these Six Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Sevens
There are Seven things, friends, that helpeth much, Seven things that are to be developed, Seven things that are to be understood, Seven things that are to be eliminated, Seven things that belong to disaster, Seven things that lead to distinction, Seven things that are hard to penetrate, Seven things that are to be brought to pass, Seven things that are to be thoroughly learnt, Seven things that are to be realized.
i. Which Seven help much?
The seven treasures, to wit: The treasure of faith, of morals, of conscientiousness, of discretion, of learning, of self-denial, of insight.
ii. Which Seven are to be developed?
Seven factors of enlightenment, to wit, the factor of mindfulness, of study of doctrines, of energy, of zest, of serenity, of concentration, of equanimity.
iii. Which Seven are to be understood?
Seven stations of consciousness.
(1) There are beings, brethren, who are diverse both in body and in mind, such as mankind, certain devas and some who have gone to an evil doom. This is the first station (or persistence) for [re-born] consciousness. (2) Other beings are diverse of body, but uniform in mind, such as the devas of the Brahma-world, reborn there from [practice here of] first [Jhāna]. (3) Others are uniform in body, diverse in intelligence, such as the Radiant Devas. (4) Others are uniform both in body and in intelligence, such as the All-Lustrous Devas. (5) Others there are who, by having passed wholly beyond all consciousness of matter, by the dying out of the consciousness of sense-reaction, by having turned the attention away from any consciousness of the manifold and become conscious only of ‘space as infinite’ are dwellers in the realm of infinite space. (6) Others there are who, by having passed wholly beyond the realm of infinite space and become conscious only of consciousness as infinite are dwellers in the realm of infinite consciousness. (7) Others there are who, having passed wholly beyond the realm of infinite consciousness, and become conscious only that ‘there is nothing whatever,’ are dwellers in the realm of nothingness. Such are the remaining stations of consciousness.
iv. Which Seven are to be eliminated?
The seven forms of latent bias, to wit, the bias of sensual passion, of enmity, of false opinion, of doubt, of conceit, of lust for rebirth, of ignorance.
v. Which Seven belong to decline?
The seven vicious qualities, to wit, want of faith, unconscientiousness, indiscretion, want of doctrinal knowledge, slackness, muddle-headedness, want of insight.
vi. Which Seven are belong to increase?
The seven virtuous qualities, to wit, the opposites of the foregoing.
vii. Which Seven are hard to penetrate?
The seven qualities of the good, to wit, knowledge of the Dhamma, of the meaning [contained in its doctrines], knowledge of self, knowledge how to be temperate, how to choose and keep time, knowledge of groups of persons, and of individuals.
viii. Which Seven are to be brought to pass?
The seven perceptions, to wit, that of impermanence, of soullessness, of ugliness, of evil [in the world], of elimination, of passionlessness, of cessation.
ix. Which Seven are to be thoroughly understood?
The seven bases of arahantship.
Herein, friends, a brother is keenly desirous of entering the training, and longs to continue doing so. He feels similarly with regard to insight into the doctrine, to the suppression of hankerings, to [the need of] solitude, to evoking energy, to mindfulness and perspicacity, to intuition of the truth. x. Which Seven are to be realized?
The seven powers of the Arahant. Herein, friends, for a brother who is Arahant:
(1) the impermanence of all conditioned things is well seen as it really is by perfect insight. This is one of his powers, on account of which he recognizes that for him the ‘Intoxicants’ are destroyed. (2) That sensuous worldly desires are like coals of fire” is well seen as it really is etc. … (as above) destroyed. (3) His heart is inclined to, set upon detachment; he has made detachment its mountain-cave, its object; his heart loves renunciation, and has become entirely non-existent for all opportunities of incoming intoxicants. This is one, etc. … (4) the four applications of mindfulness have been developed and well developed. This, etc. … (5) so also for the five spiritual faculties, (6) the seven factors of enlightenment, (7) the Ariyan Eightfold Path. In that this and those have been developed and well developed, these are powers of the Arahant brother, on account of which he recognizes that for him the ‘Intoxicants’ are destroyed.
Now these Seven Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Here endeth the first Portion for Recitation.
Eights
There are Eight things, friends, that helpeth much, Eight things that are to be developed, Eight things that are to be understood, Eight things that are to be eliminated, Eight things that belong to disaster, Eight things that lead to distinction, Eight things that are hard to penetrate, Eight things that are to be brought to pass, Eight things that are to be thoroughly learnt, Eight things that are to be realized.
i. Which Eight help much?
The eight conditions, the eight causes which conduce to attaining that wisdom in those fundamentals of religious life which have not been attained, to multiplying, expanding, developing, perfecting those that have been attained. Herein, friends, (1) one dwells near the Master, or near a fellow-disciple occupying the place of teacher, whereby he is strongly established in conscientiousness, prudence, love, and respect. (2) Under such circumstances he approaches his teachers from time to time and asks and considers, saying: ‘Lord, how is this? What does this mean?’ And to him those reverend ones reveal what is hidden, make plain what is obscure, and dispel any doubts in perplexing matters.
(3) When he has heard their doctrine, he succeeds in obtaining a double serenity, that of body and of mind. (4) Moreover, friends, a brother, virtuous, habitually self-restrained with the self-restraint of the Canon law, proficient in behaviour and propriety, seeing danger in the smallest offence, undertakes to train himself in the stages of the training. This is the fourth condition, the eighth cause of such as conduce to attaining that wisdom in the fundamentals of religious life which have not been attained, to multiplying, expanding, developing, perfecting those that have been attained. (5) Moreover, friends, a brother having learnt much, bears what he has heard in mind and stores it up. And whatever doctrines, lovely in the beginning, in the middle, at the end, both in the letter and in the spirit, commend a religious life that is absolutely fulfilled and made quite pure, those doctrines are by such a brother much learnt, remembered, treasured by repetition, pondered in mind, well penetrated by intuition. This is the fifth condition, the eighth cause of such as conduce to attaining that wisdom in the fundamentals of religious life which have not been attained, to multiplying, expanding, developing, perfecting those that have been attained. (6) Moreover, friends, a brother is habitually stirring up energy for the elimination of bad qualities, the evoking of good qualities, indomitable, strongly progressing and never shirking with respect to what is good. This is the sixth condition, the eighth cause of such as conduce to attaining that wisdom in the fundamentals of religious life which have not been attained, to multiplying, expanding, developing, perfecting those that have been attained. (7) Moreover, friends, he is clear-minded, supremely heedful and discriminating, noting and remembering what has long since been done and spoken. This is the seventh condition, the eighth cause of such as conduce to attaining that wisdom in the fundamentals of religious life which have not been attained, to multiplying, expanding, developing, perfecting those that have been attained. (8) Moreover, friends, a brother is habitually contemplating the rise and passing away of the five aggregates of grasping, to wit: ‘Such is the material [aggregate], such its cause, its cessation.’ Similarly for the four mental aggregates. This is the eighth condition, the eighth cause of such as conduce to attaining that wisdom in the fundamentals of religious life which have not been attained, to multiplying, expanding, developing, perfecting those that have been attained. ii. Which Eight are to be developed?
The Aryan Eightfold Path, to wit, right views, intentions, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, concentration.
iii. Which Eight are to be understood?
Eight matters of worldly concern, to wit, gains and losses, fame and obscurity, blame and praise, pleasures and pains.
iv. Which Eight are to be eliminated?
Eight wrong factors of character and conduct, to wit, wrong views, intention, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, concentration.
v. Which Eight belonging to decline?
Eight bases of slackness.
Herein, friends, (1) let a brother have some work to do. He thinks: ‘There’s that work I have to do, but the doing of it will tire me. Well then, I shall lie down.’ He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (2) Or he has been working, and thinks: ‘I have been working, and the doing of my work has tired me. Well then, I shall lie down.’ He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (3) Or he has to make a journey, and he thinks: ‘I have to make a journey, and that will tire me. Well then, I shall lie down.’ He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (4) Or he has gone on his journey, and reflects: ‘I have gone on a journey, and that has tired me. Well then, I shall lie down.’ He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (5) Or he tours about a village or township for alms and does not obtain his fill of poor or rich food, and thinks: ‘I’ve gone about village, about township for alms and have not obtained my fill of poor or rich food. This body of me is tired and good for naught. Well then, I’ll lie down.’ He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (6) Or he tours about a village or township for alms and does obtain his fill of poor or rich food and thinks: ‘I’ve gone about a village or township for alms and have obtained my fill of poor or rich food. This body of me is heavy and good for naught, seems to me like a load of soaked beans. Well then, I’ll lie down’ He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (7) Or in him some slight ailment has arisen, and he thinks: In this state it is fit I lie down. He lies down; he stirs up no energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized. (8) Or he has recovered from illness, has recently arisen from some indisposition. And he thinks his body is weak and good for naught and lies down nor stirs up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.
vi. Which Eight belonging to distinction?
Eight bases of setting afoot an undertaking.
Herein, brethren, (1) let a brother have some work to do. He thinks: ‘There is that work I have to do, but in doing it, I shall not find it easy to attend to the religion of the Buddhas. Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (2) Or he has done a task, and thinks: ‘I have been working, but I could not attend to the religion of the Buddhas. Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (3) Or he has to go on a journey, and thinks it will not be easy for him, on his way, to attend to the religion of the Buddhas, and resolves: ‘Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (4) Or he has been on a journey, but has not been able to attend to the religion of the Buddhas, and resolves: Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (5) Or he has toured about village or township for alms and has not obtained his fill of poor or rich food. And he thinks that, under the circumstances, his body is light and fit for work and resolves: Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (6) Or he has toured and has obtained his fill and thinks that, under the circumstances, his body is strong and fit to work and resolves: Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (7) Or in him some slight ailment has arisen. And he thinks it is possible that the ailment may grow worse, so that he must stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’ (8) Or he has recovered from illness, has recently arisen from some indisposition. And he thinks: I have recovered from illness, I have recently arisen from my indisposition. It is possible that the illness may recur. Well then, I will stir up energy to finish that which is not done, to accomplish the unaccomplished, to realize the unrealized.’
vii. Which Eight are hard to penetrate?
Eight untimely unseasonable intervals for life in a religious order, (1) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme.
The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And this person is reborn at that time in purgatory. This is the first untimely, unseasonable period for living in a religious order. (2) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme. The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And this person is reborn at that time in the animal kingdom. This is the second untimely, unseasonable period for living in a religious order. (3) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme. The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And this person is reborn at that time among the Petas. This is the third untimely, unseasonable period for living in a religious order. (4) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme. The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And this person is reborn at that time among some long-lived deva community. This is the fourth untimely, unseasonable period for living in a religious order. (5) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme. The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And this person is reborn at that time in the border countries among unintelligent barbarians, where there is no opening for members of the Order or lay-brethren. This is the fifth untimely, unseasonable period for living in a religious order. (6) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme. The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And this person is reborn at that time in the middle countries, but he holds wrong opinions and has perverted vision, holding that gifts, offerings, oblations are as naught, for there is no fruit nor result of deeds well or ill done; there are no parents nor birth without them; there are no recluses or brahmins in the world who have attained the highest, leading perfect lives, and who, having known and realized each for himself the truth as to this and the next world, do reveal it. This is the sixth untimely, unseasonable period for living in a religious order. (7) A Tathāgata, friends, is born into the world, Arahant Buddha Supreme. The Norm is taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, declared by the Well-Farer. And though reborn at the time in the Middle countries, he is stupid, dull, or deaf and dumb, unable to know whether a matter has been well said or ill said. This is the seventh untimely, unseasonable period for living in a religious order. (8) Or finally, friends, a Tathāgata has not arisen in the world as Arahant Buddha Supreme, the Norm is not taught, quenching [the passions], extinguishing [the passions], leading to enlightenment, as revealed by the Well-Farer; and this person is [in that interval] reborn in the Middle country, is intelligent, bright of wit, nor deaf-mute, able to know whether a matter has been well said or ill said. This is the eighth untimely, unseasonable period for living in a religious order.
viii. Which Eight are to be brought to pass?
The eight thoughts of a superman.
This Norm is for one of little wants, not for one of great wants; for one who is serenely content, not for the discontented; for one who is detached, not for one who is fond of society; for one who is energetic, not for the slacker; for one who has presence of mind, not a confused mind; for one whose mind is concentrated, not distracted; for one who has insight, not for the unintelligent; for one who delights not in conceit, craving and opinion, not for one who delights therein.
ix. Which Eight are to be thoroughly learnt?
Eight positions of mastery.
(1) When anyone pictures to himself some material feature of his person and sees [corresponding] features in others, lovely or ugly, as small, transcending this [object] he is aware of doing so, [thinks] ‘I know, I see!’ (2) Or when he has the same experience, but sees those features not as small, but as infinitely great, and nevertheless transcending this [object], and is aware of doing so [thinks]: ‘I know, I see!’ (3) Or when he sees the features in others lovely or ugly, as small, without first picturing any material feature of his own transcending this [object] he is aware of doing so, [thinks] ‘I know, I see!’ (4) Or when he sees the features in others but sees those features not as small, but as infinitely great, and nevertheless transcending this [object], and is aware of doing so [thinks]: ‘I know, I see!’ (5) Or when without the personal preliminary, he sees external shapes of indigo, indigo in colour, indigo in visible expanse, indigo in lustre, as is the ummā flower, or a Benares muslin delicately finished on both sides transcending this [object] he is aware of doing so, [thinks] ‘I know, I see!’ (6) or shapes of yellow, yellow in colour, yellow in visible expanse, yellow in lustre, as is the kaṇikāra flower, or Benares muslin delicately finished on both sides transcending this [object] he is aware of doing so, [thinks] ‘I know, I see!’ (7) or shapes of red, red in colour, red in visible expanse, red in lustre, as is the bandhujīvaka flower, or Benares muslin delicately finished on both sides transcending this [object] he is aware of doing so, [thinks] ‘I know, I see!’ (8) or shapes of white, white in color, white in visible expanse, white in lustre as is the morning star, or Benares muslin delicately finished on both sides transcends this [object] and is aware of doing so, [thinks]: ‘I know, I see!’
x. Which Eight are to be realized?
Eight deliverances, to wit, (1) He, picturing any material feature of himself, sees such material features [as they really are]. (2) Not picturing any such, he sees material features external to his own. (3) He decides that it is beautiful. (4) By passing wholly beyond all consciousness of material qualities, by the dying out of the awareness of sensory reaction, by the unheeding of any awareness of difference, he enters into and abides in that rapt ecstasy which is a consciousness of infinite space. (5) By passing wholly beyond such a sphere of consciousness, he enters into and abides in that rapt ecstasy which is a consciousness of infinitude of consciousness itself. (6) By passing wholly beyond such a sphere of consciousness, he enters into and abides in that rapt ecstasy which regards consciousness itself as nothing whatever, a sphere of nothingness. (7) By passing wholly beyond such a sphere, he enters into and abides in that rapt consciousness which neither is, nor yet is not to be called conscious. (8) By passing wholly beyond such a sphere, he enters into and abides in a state of unconsciousness, wherein awareness and feeling cease.
Now these Eight Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Nines
There are Nine things, friends, that helpeth much, Nine things that are to be developed, Nine things that are to be understood, Nine things that are to be eliminated, Nine things that belong to disaster, Nine things that lead to distinction, Nine things that are hard to penetrate, Nine things that are to be brought to pass, Nine things that are to be thoroughly learnt, Nine things that are to be realized.
i. Which Nine help much?
The nine states of mind and body which are rooted in orderly thinking :—To one so thinking, gladness arises, in him gladdened, rapture arises, his mind enraptured the body is satisfied, one whose body is thus appeased is at ease, he being happily at ease, the mind is stayed, with mind thus stayed, concentrated, he knows he sees [things] as they really are, and he thus knowing thus seeing turns in repulsion, repelled he becomes passionless; hence he is set free.
ii. Which Nine are to be developed?
The nine factors in wrestling for utter purity, to wit, the purification of morals, of the mind, of views, the purification of escaping from doubt, that of intuition and insight into what is the [genuine] path, and what is not, that of intuition and insight into progress, the purification which is intuition and insight, that which is understanding, that which is emancipation.
iii. Which Nine are to be understood?
Nine spheres inhabited by beings.
(1) ‘There are beings differing in body and differing in intelligence, for instance, human beings and certain of the gods and some of those in purgatory. This is the first resting place for Cognition. (2) ‘There are beings differing in body but of uniform intelligence, for instance, the gods of the Brahma-heaven who are there reborn by means of the First [Jhāna]. This is the second resting-place for Cognition. (3) ‘There are beings uniform in body and differing in intelligence, for instance, the Luminous Gods. This is the third resting place for Cognition. (4) ‘There are beings uniform in body and of uniform intelligence, for instance, the All-Lustrous Gods. This is the fourth resting place for Cognition.’ (5) There are beings without perception or feeling. These live in the sphere of the ‘unconscious devas.’ (6) There are beings who having passed wholly beyond awareness of material qualities, by the dying out of sensory reaction, by unheeding the awareness of difference, have attained to the sphere of infinite space with a consciousness thereof, (7) by passing wholly beyond such a sphere of consciousness, enter into and abides in that rapt ecstasy which is a consciousness of infinitude of consciousness itself, (8) by passing wholly beyond such a sphere of consciousness, enter into and abides in that rapt ecstasy which regards consciousness itself as nothing whatever, a sphere of nothingness, (9) by passing wholly beyond such a sphere, enter into and abides in that rapt consciousness which neither is, nor yet is not to be called conscious.
iv. Which Nine are to be eliminated?
The nine things springing from craving, to wit, pursuit caused by craving, gain because of pursuit, decision because of gain, desire and passion because of decision, tenacity because of desire and passion, possession because of tenacity, avarice because of possession, watch and ward because of avarice, and many a bad and wicked state of things arising from keeping watch and ward over possessions:—blows and wounds, strife, contradiction and retort, quarrelling, slander and lies.
v. Which Nine are belong to decline?
Nine bases of quarrelling, thus:—quarrelling is stirred up at the thought: ‘he has done me an injury,’ or ‘he is doing me an injury,’ or ‘he will do me an injury,’ or ‘he has done, is doing, will do an injury to one I love,’ or ‘he has bestowed a benefit, is bestowing, will bestow a benefit on one I dislike.’
vi. Which Nine are belong to distinction?
Nine suppressions of quarrelling, thus:—quarrelling is suppressed by the thought: ‘He has done, is doing, will do me an injury, or ‘he has done, is doing, will do an injury to one I love’, or ‘he has bestowed, is bestowing, will bestow a benefit on one I dislike’, true, but what gain would there be to either of us if I quarrelled about it?’
vii. Which Nine are hard to penetrate?
The nine differences:—on account of difference in the [sensory] element, a different contact takes place, on account of difference in contact difference in feeling arises, hence difference in perception, hence difference in purposive thought, hence difference in active desire, hence difference in greed, hence difference in pursuit, hence difference in gain.
viii. Which Nine are to be brought to pass?
The nine perceptions, to wit, perception of ugliness, of death, revulsion from nutriment (physical, sensory, mental), disaffection with everything worldly, impermanence, suffering in impermanence, no-soul in that which suffers, elimination, passionlessness.
ix. Which Nine are to be thoroughly learnt?
Herein, friends, a brother, (1) aloof from sensuous appetites, aloof from evil ideas, enters into and abides in the First Jhāna, wherein there is initiative and sustained thought, which is born of solitude, and is full of zest and ease.
(2) Secondly, when suppressing initiative and sustained thought, he enters into and abides in the Second Jhāna, which is self-evoked, born of concentration, full of zest and ease, in that, set free from initial and sustained thought, the mind grows calm and sure, dwelling on high. (3) Thirdly, when a brother, no longer fired with zest, abides calmly contemplative, while mindful and self-possessed he feels in his body that ease whereof Ariyans declare: He that is calmly contemplative and aware, he dwelleth at ease, so does he enter into and abide in the Third Jhāna. (4) Fourthly, by putting aside ease and by putting aside malaise, by the passing away of the joy and the sorrow he used to feel, he enters into and abides in the Fourth Jhāna, rapture of utter purity of mindfulness and equanimity, wherein neither ease is felt nor any ill. (5) By passing wholly beyond all consciousness of material qualities, by the dying out of the awareness of sensory reaction, by the unheeding of any awareness of difference, he enters into and abides in that rapt ecstasy which is a consciousness of infinite space. (6) By passing wholly beyond such a sphere of consciousness, he enters into and abides in that rapt ecstasy which is a consciousness of infinitude of consciousness itself. (7) By passing wholly beyond such a sphere of consciousness, he enters into and abides in that rapt ecstasy which regards consciousness itself as nothing whatever, a sphere of nothingness. (8) By passing wholly beyond such a sphere, he enters into and abides in that rapt consciousness which neither is, nor yet is not to be called conscious. (9) By passing wholly beyond such a sphere, he enters into and abides in a state of unconsciousness, wherein awareness and feeling cease.
x. Which Nine are to be realized?
The nine successional cessations, thus:—Taking each of the foregoing nine in order, by the attainment of (1) First Jhāna, sensuous perceptions cease, (2) Second Jhāna, applied and sustained thought ceases, (3) Third Jhāna, zest ceases, (4) Fourth Jhāna, respiration ceases, (5) by the perception of infinite space, perception of material things ceases, (6) by the perception of infinite consciousness, perception of infinite space ceases, (7) by the perception of nothingness, perception of infinite consciousness ceases, (8) by the perception that is neither conscious nor yet unconscious, perception of nothingness ceases, (9) by the cessation of perception and feeling, perception that is neither conscious nor yet unconscious ceases.
Now these Nine Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Tens
There are Ten things, friends, that helpeth much, Ten things that are to be developed, Ten things that are to be understood, Ten things that are to be eliminated, Ten things that belong to disaster, Ten things that lead to distinction.
Ten things that are hard to penetrate. Ten things that are to be brought to pass. Ten things that are to be thoroughly learnt. Ten things that are to be realized.
i. Which Ten help much?
Ten doctrines conferring protection.
(1) Herein friends, a brother is virtuous, lives self-controlled according to the self-control prescribed in the Vinaya, he has entered on a proper range of conduct, he sees danger in the least of the things he should avoid, he adopts and trains himself in the precepts.
(2) He learns much, and remembers and stores up what he has learnt. Those doctrines which, excellent at the start, in the middle, at the end, in the letter and in their contents, declare the absolutely perfect and pure religious life, these he learns to a great extent bears them in mind, treasures them by repetition, ponders them in mind, penetrates them by intuition. (3) He is a friend, an associate, an intimate of men of good character. (4) He is affable, endowed with gentleness and humility; he is patient and receives admonition with deference. (5) Where there are duties to be done for the seniors among his fellow-disciples, he therein is industrious, not slothful, and exercises forethought in methods for discharging them, is capable of accomplishing, capable of organizing. (6) And furthermore, friends, he loves the doctrine, the utterance of it is dear to him, he finds exceeding joy in the advanced teaching of both Doctrine and Discipline. (7) Furthermore, friends, he is content with necessaries of any quality, whether it be raiment, alms, lodging, drugs and provision against sickness. (8) Furthermore, friends, he is continually stirring up effort to eliminate bad qualities, evoke good qualities, making dogged and vigorous progress in good things, never throwing off the burden. (9) Furthermore, friends, he is mindful, and possessed of supreme lucidity and perspicacity in following mentally and recollecting deeds and words long past. (10) Furthermore, friends, he is intelligent, endowed with insight into the rise and passing away [of things], insight which is of that Ariyan penetration which leads to the complete destruction of pain. (as detailed in X, i onwards of the Saṅgīti Sutta).
ii. Which Ten must be developed?
Ten objects for self-hypnosis.
These, perceived severally as above, below or across, and as homogeneous, and without limits, are a piece of earth [extended matter], water, fire, air, indigo, yellow, red, white, space, consciousness. (as detailed in X, ii onwards of the Sangiti Sutta).
iii. Which Ten must be understood?
The ten areas [of sense-contact], to wit, the five organs of special sense and the five kinds of sense-objects.
iv. Which Ten must be eliminated?
The ten wrong factors [of character and conduct], to wit, wrong views, wrong purposes, wrong speech, action and livelihood, wrong effort, mindfulness and concentrative practice, wrong knowledge, wrong emancipation.
v. Which Ten belong to decline?
Ten bad channels of action, to wit, taking life, theft, inchastity, lying, abuse, slander, idle talk, covetousness, malevolence, wrong views.
vi. Which Ten belong to distinction?
The ten good channels of action, to wit, abstention from taking life, abstention from theft, abstention from inchastity, abstention from lying, abstention from abuse, abstention from slander, abstention from idle talk, abstention from covetousness, abstention from malevolence, abstention from wrong views. .
vii. Which Ten are hard to perpetrate?
Ten Ariyan methods of living.
Herein, friends, a brother has got rid of five factors, is possessed of six factors, has set the one guard, carries out the four bases of observance, has put away sectarian opinions, has utterly given up quests, is candid in his thoughts, has calmed the restlessness of his body, and is well emancipated in heart and intellect. (1) What five factors has he got rid of? Sensuality, malevolence, sloth and torpor, excitement and worry, doubt. (2) What six factors is he possessed of? The six ‘chronic states.’ Herein, friends, a brother on occasion (1–5) of any of the five kinds of sensation, (6) as well as on that of any impression or idea, is neither delighted nor displeased, but remains equable, mindful and deliberate. (See p. 234) (3) How has he set the one guard? By the mental guard of mindfulness. (4) What are the four bases of observance? Herein a brother judges that something is to be habitually pursued, endured, avoided, suppressed. (5) How does he become ‘one who has put away sectarian opinions? All those many opinions of the mass of recluses and brahmins which are held by individuals as dogmas:—all these he has dismissed, put away, given up, ejected, let go, eliminated, abandoned. (6) How is he one whose questing is utterly given up? He has eliminated the questing after worldly desires, the questing for rebirth, the questing for religious life. (7) How is he candid in his thoughts? He has eliminated occupying his mind with sensual or malicious or cruel ideas. (8) How does he tranquillize the activity of the body? Because of eliminating the being affected pleasurably or painfully, because of the dying out of previous impressions as joyful or sorrowful, he attains to and abides in a state of neutral feeling, of very pure indifference and mental lucidity, namely, the state called Fourth Jhāna. (9) How does he become well emancipated in heart? He becomes emancipated in heart from passion, hate, and illusion. (10) How does he become well emancipated in intellect? He understands his emancipated condition, namely, in the thought: Passion for me is eliminated, cut off at the root, become as a palm-tree stump, become non-existent, unable to grow again in future. Hate for me is eliminated, cut off at the root, become as a palm-tree stump, become non-existent, unable to grow again in future. Illusion for me is eliminated, cut off at the root, become as a palm-tree stump, become non-existent, unable to grow again in future.
viii. Which Ten must be brought to pass?
The ten perceptions, to wit, perception of ugliness, of death, revulsion from nutriment (physical, sensory, mental), disaffection with everything worldly, impermanence, suffering in impermanence, no-soul in that which suffers, elimination, passionlessness, and of cessation.
ix. Which Ten are to be thoroughly learnt?
The ten causes of wearing away:—by right views wrong views are worn away; whatever manifold bad and wicked qualities, proceeding from those wrong views, take shape, they are worn away in you.
And many good qualities, caused by right views, become developed and brought to perfection. The same wearing away is wrought by the other nine factors of the tenfold Path on the opposed nine wrong factors of character and conduct.
x. Which Ten are to be realized?
Ten qualities belonging to the adept, to wit, the right (or perfect) views, intentions, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, concentration, insight and emancipation as held by adepts.
Now these Ten Things are genuine, true, thus, not otherwise, not different, perfectly comprehended by the Tathāgata.
Thus spake the venerable Sāriputta. And pleased in mind those brethren delighted in his words.
Here ends the Dasuttara Sutta
To compass utter end of ill;
To bring to pass true happiness;
Haven ambrosial to win
Under the Sovereign of the Norm.
Here ends the Collection of Long Discourses