Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích-ca) trong vườn xoài của một gia đình Thích-ca tên là Vedhannà.
SC 2Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta (Ni-kiền tử) vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng: “Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Ðiều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được.” Hình như các đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigaṇṭha Nātaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các vị Nigaṇṭha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 3PTS cs 2 Rồi Sa-di Cunda (Thuần-đà), sau khi an cư mùa mưa ở Pàvà đến thăm tôn giả Ānanda ở Sāmāgāma, sau khi đến, đảnh lễ tôn giả Ānanda (A-nan) và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Sa-di Cunda bạch tôn giả Ānanda
SC 4—Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pàvà sau khi vị này tạ thế, các Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … Pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 5Khi nghe nói vậy, tôn giả Ānanda nói với Sa-di Cunda
SC 6—Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến xong, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.
- Bạch Tôn giả, vâng!
SC 7Sa-di Cunda vâng lời tôn giả Ānanda.
SC 8PTS cs 3 Rồi tôn giả Ānanda cùng với Sa-di Cunda, đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 9—Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda có nói: “Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pàvà. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.”
SC 10- Này Cunda, như vậy ở đây pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 11PTS cs 4 Này Cunda, ở đây có vị đạo sư không phải là Chánh Ðẳng Giác, có pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và người đệ tử trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, sống vượt ra ngoài pháp. Người đệ tử ấy cần được nói như sau: “Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi. Thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Ðạo sư của Ngươi không phải là vị Chánh Ðẳng Giác. Pháp của Ngươi đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Và Ngươi trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, vượt ra ngoài pháp. Này Cunda, như vậy ở đây, vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, nhưng ở đây đệ tử đáng tán thán. Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, nên nói như sau:” Này Ðại đức, dầu Ðại đức thực hành đúng như pháp vị đạo sư đã dạy và trình bày, ai có suy tầm, ai có bị suy tầm, ai có suy tầm rồi như thực thi hành, tất cả đều không có phước báo. Vì sao vậy? Vì pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.”
SC 12PTS cs 5 Này Cunda, ở đây, vị đạo sư không là vị Chánh Ðẳng Giác, và pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này, sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống theo chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Người này nên được nói như sau: “Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi không là vị Chánh Ðẳng Giác và pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, những người trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống theo chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp”. Này Cunda, ở đây vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, ở đây vị đệ tử cũng đáng quở trách. Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, có ai, nên nói như sau: “Thật vậy, Ðại đức thành tựu theo chánh hạnh, tinh tấn trong chánh hạnh, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn hơn nữa, tất cả đều không được phước đức.” Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 13PTS cs 6 Này Cunda, ở đây vị đạo sư là vị Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo giảng và trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Vị đệ tử trong pháp này sống không thành tựu pháp và tùy pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp. Vị đệ tử ấy cần phải được nói: “Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng Ngươi trong pháp này sống không thành tựu pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp.” Này Cunda, ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử đáng quở trách. Nếu có ai, hãy nói với vị đệ tử ấy như sau: “Ðại đức hãy thực hành đúng như pháp do vị đạo sư của Ðại đức trình bày và tuyên thuyết. Ai có điều tra, ai có bị điều tra, ai có bị điều tra rồi như thực thi hành, tất cả đều được phước báo”. Vì sao vậy? Này Cunda, pháp luật này khéo thuyết khéo trình bày là như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 14PTS cs 7 Này Cunda ở đây vị đạo sư là Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Cháng Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy nói như sau: “Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi, thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị A la hán Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và Ngươi trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp”. Này Cunda, như vậy ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử cũng đáng được tán thán. Này Cunda, nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy như sau: “Thật vậy, Ðại đức thành tựu như pháp, tinh tấn như pháp, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn thực hành, tất cả đều được nhiều công đức”. Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp luật được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 15PTS cs 8 Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử chưa được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn chưa được tỏ lộ cho các vị này, chưa được trình bày rõ ràng, với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, chưa được trở thành diệu dụng, chưa được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư viên tịch. Này Cunda, đối với vị đạo sư như vậy, nếu viên tịch, các đệ tử sẽ ưu tư rất nhiều. Vì sao vậy? Vì đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng chúng ta chưa được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn chưa được tỏ lộ cho chúng ta với tất cả thứ bậc, vị trí liên hệ, chưa được trở thành diệu dụng, chưa được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị Ðạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử có sự ưu tư.
SC 16PTS cs 9 Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho các vị ấy với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của những vị ấy viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư. Vì cớ sao? Vị đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Còn chúng ta được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho chúng ta biết với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị Ðạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư.
SC 17PTS cs 10 Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, nếu không có một vị đạo sư là một vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, một phạm hạnh như vậy được xem là không viên mãn, trong trường hợp như vậy. Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, và nếu có vị đạo sư là một vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, một phạm hạnh như vậy được xem là viên mãn, trong trường hợp như vậy.
SC 18PTS cs 11 Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, và có vị đạo sư là vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, nhưng không có các vị Thượng tọa Tỷ kheo, những vị đệ tử là những vị sáng suốt, tự điều phục, vô úy, đa văn, đã đạt đến sự an ổn, có thể thuyết diệu pháp, với giáo lý ngoại đạo được khởi lên có thể khéo nhiếp phục với giáo pháp của mình, có thể thuyết diệu pháp bất tư nghì; như vậy phạm hạnh này không thể viên mãn bởi chi tiết này.
SC 19PTS cs 12 Này Cunda, khi nào phạm hạnh được đầy đủ về những phương diện này, vị đạo sư là vị Thượng tọa, có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, và những vị Thượng tọa Tỷ kheo, những vị đệ tử … nếu không có các vị Trung lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … Có các vị Trung lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Hạ lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … có các Hạ lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Trưởng lão Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Trung lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Hạ lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … có các vị Hạ lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … nhưng nếu không có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc … có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc … nhưng nếu không có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … có những Nư cư sĩ đệ tử, những vị tại gia mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … nhưng nếu không có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … phạm hạnh như vậy nếu không được thành công, hưng thịnh, phát triển và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa các người, nhưng không đạt được danh xưng và lợi dưỡng một cách tối thắng, phạm hạnh như vậy không được viên mãn về phương diện này.
SC 20PTS cs 13 Này Cunda, khi nào phạm hạnh được đầy đủ với những phương diện này, vị đạo sư là Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, và những vị Thượng tọa là những bậc Tỷ kheo, những vị đệ tử sáng suốt, tự điều phục … thuyết pháp diệu dụng, có Trung lạp Tỷ kheo đệ tử, có Hạ lạp Tỷ kheo đệ tử, có Trưởng lão Ni đệ tử, có Trung lạp Ni đệ tử, có Hạ lạp Ni đệ tử, có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh, có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc, có Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh, có những vị Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc; phạm hạnh như vậy được thành công, hưng thịnh, phát triển, và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa các người, đạt được danh xưng và lợi dưỡng một cách tối thắng, phạm hạnh như vậy được viên mãn về phương diện này.
SC 21PTS cs 14 Này Cunda, nay Ta hiện tại là bậc Ðạo sư xuất hiện ở đời, là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên bố, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác trình bày, và các vị đệ tử của Ta tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người. Này Cunda, nay Ta là vị Ðạo sư Trưởng lão, có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngay, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành.
SC 22PTS cs 15 Này Cunda, nay Ta có những vị Thượng tọa Tỷ kheo đệ tử sáng suốt, tự biết điều phục, vô úy, đa văn, đã đạt đến sự an ổn, có thể thuyết diệu pháp, đối với giáo lý ngoại đạo được khởi lên, có thể khéo thuyết phục với giáo pháp của mình, có thể thuyết diệu pháp bất khả tư nghì. Này Cunda, Ta lại có những Trung lạp Tỷ kheo sáng suốt. Này Cunda, nay Ta có những vị Hạ lạp Tỷ kheo đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Trưởng lão Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Trung lạp Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Hạ lạp Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Nam cư sĩ, là những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh. Này Cunda, nay Ta có những vị Nam cư sĩ, là những vị tại gia mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc. Này Cunda, nay Ta có những vị Nữ cư sĩ, là những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh. Này Cunda, nay Ta có những vị Nữ cư sĩ là những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … Này Cunda, nay Phạm hạnh của Ta được thành công, hưng thịnh, phát triển, và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa mọi người.
SC 23PTS cs 16 Này Cunda, đối với tất cả những vị đạo sĩ nay xuất hiện ở đời; này Cunda, Ta không thấy một vị đạo sư nào khác có thể bằng Ta về phương diện lợi dưỡng và danh xưng tối thượng. Này Cunda, đối với tất cả các đoàn thể, các hội chúng nay xuất hiện ở đời; này Cunda, Ta không thấy một đoàn thể nào khác có thể bằng đoàn thể Tỷ-kheo về phương diện lợi dưỡng và danh xưng tối thượng. Nếu có ai, khi tả một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, vị ấy nếu tuyên bố đúng đắn sẽ tuyên bố như sau: “Thành tựu hết thảy tướng … phạm hạnh được khéo tuyên bố”. Này Cunda, Uddaka con của Rāma thường nói: “Thấy mà không thấy”. Thấy cái gì mà không thấy? Với một con dao sắc bén, chỉ thấy lưỡi dao không thấy khía cạnh sắc bén của dao. Này Cunda, đấy là nghĩa của câu: “Thấy mà không thấy”. Này Cunda, ở đây Uddaka con của Rāma đề cập đến một vật đê tiện, hạ liệt, thuộc về phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích, nói về con dao. Này Cunda, nếu nói đúng đắn câu “Thấy mà không thấy”, thời phải nói như sau: “Thấy mà không thấy”. Vị ấy thấy cái gì mà không thấy? Một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, đầy đủ hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày. Chính vị ấy thấy phạm hạnh này. Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là “Thấy mà không thấy”. Này Cunda, nếu có ai khi tả một phạm hạnh thành tựu hết thảy tướng … phạm hạnh được khéo tuyên bố, vị ấy sẽ tuyên bố đúng đắn như sau: “Phạm hạnh này thành tựu hết thảy tướng, cụ túc hết thảy tướng, không thiếu thốn, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày”.
SC 24PTS cs 17 Do vậy, này Cunda, những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người. Này Cunda, thế nào là những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người? Những pháp ấy là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Tám Thánh đạo. Này Cunda, những pháp ấy do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc của muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người.
SC 25PTS cs 18 Này Cunda, các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng “Vị Ðại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:
SC 26“Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.
SC 27PTS cs 19 Lại nữa này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức ấy nắm nghĩa sai lạc nhưng hành văn đúng đắn”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không thán thán, không bác bỏ, các ngươi nên nói với vị ấy: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích một cách cẩn thận ý nghĩa đúng đắn cho vị ấy.
SC 28PTS cs 20 Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức này nắm nghĩa đúng đắn, nhưng hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các ngươi phải giải thích một cách cẩn thận cách hành văn cho vị ấy.
SC 29PTS cs 21 Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng, nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức này nắm nghĩa đúng đắn và hành văn đúng đắn”, các Ngươi nên tán đồng và tán thán vị ấy với câu: “Thật là tốt đẹp”, các Ngươi phải nói với vị ấy” “Thật là tốt đẹp”, các Ngươi phải nói với vị ấy: “Này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi, này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi thấy một vị đồng phạm hạnh như Hiền giả, tinh thông nghĩa lý như vậy, tinh thông hành văn như vậy”.
SC 30PTS cs 22 Này Cunda Ta không thuyết giảng chỉ để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này Cunda, Ta không thuyết pháp, chỉ để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà thôi. Này Cunda, Ta thuyết pháp vừa để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại mà cũng để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai nữa. Do vậy, này Cunda, tấm y mà Ta cho phép các Ngươi mặc, như vậy vừa đủ cho các Ngươi ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của các loài ruồi muỗi, của gió, mặt trời và các loài rắn, và các che dấu sự hổ thẹn. Các món ăn khất thực mà Ta cho phép các Ngươi dùng, như vậy vừa đủ để nuôi dưỡng thân thể, giúp thân thể sống còn, tránh khỏi nguy hại và giúp đời sống phạm hạnh với hy vọng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Nhờ vậy đời sống của ta mới khỏi bị lầm lỗi và ta sống an lạc.” Nhà cửa nào mà Ta cho phép các ngươi an trú, như vậy vừa đủ cho các Ngươi ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, mặt trời và các loài rắn, chỉ với mục đích tránh thoát sự nguy hiểm của thời tiết, và an hưởng đời sống tịnh cư. Các dược phẩm và thuốc trị bịnh mà Ta cho phép các Ngươi dùng, như vậy vừa đủ để ngăn chận các cảm thọ đau ốm khởi lên và để gìn giữ sức khỏe.
SC 31PTS cs 23 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra, các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các Sa-môn Thích tử sống đam mê hỷ lạc”. Này Cunda, nếu được nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo phải được trả lời như vậy: “Này Hiền giả, thế nào là đam mê hỷ lạc? Ðam mê hỷ lạc có nhiều loại, có nhiều cách”. Này Cunda, bốn loại đam mê hỷ lạc này là thấp kém, hạ liệt, thuộc phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không hướng đến yểm ly, vô tham, tich diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 32Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây có người ngu si, sau khi sát sanh, tự mình sung sướng hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa, này Cunda, ở đây có người sau khi lấy của không cho, tự mình sung sướng, hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa, này Cunda, ở đây có người sau khi nói láo, tự mình sung sướng, hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, ở đây có người say đắm, đam mê sống vây quanh với năm món dục lạc, đó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc này là thấp kém, hạ liệt, thuộc phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không hướng đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 33PTS cs 24 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra, các ngoại đạo có thể hỏi: “Các Sa-môn Thích tử có phải sống đam mê bốn loại hỷ lạc này không?” Họ cần phải được trả lời: “Chớ có nói như vậy. Các ông nói như vậy là nói không đúng đắn. Nói như vậy là các ông xuyên tạc, không đúng sự thật, không thực có”. Này Cunda, có bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 34Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ðó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba … Ðó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ … chứng và trú Thiền thứ tư … Ðó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các vị Sa-môn Thích tử đang sống đam mê bốn loại hỷ lạc này”. Họ cần phải được trả lời: “Nói như vậy là phải; các ông nói như vậy là nói đúng đắn. Nói như vậy là các ông không xuyên tạc, đúng sự thật, và thực có”.
SC 35PTS cs 25 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê theo bốn loại hỷ lạc ấy có thể mong đợi kết quả gì, lợi ích gì?” Ðược nói vậy, phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê bốn loại hỷ lạc ấy, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn sự lợi ích.
SC 36Thế nào là bốn? Này Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, được nhập vào dòng Thánh, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ. Ðó là kết quả thứ nhất. Lại nữa này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, làm muội lược tham, sân, si, chứng bậc Nhất lai, chỉ còn trở lại đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau. Ðó là kết quả thứ hai, lợi ích thứ hai. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh ở tại chỗ ấy mà nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Như vậy là kết quả thứ ba, lợi ích thứ ba. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ các lậu hoặc, tự mình chứng tri, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Như vậy là kết quả thứ tư. Này Hiền giả, vị nào sống đam mê bốn loại hỷ lạc này, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn lợi ích như vậy”.
SC 37PTS cs 26 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các Sa-môn Thích tử sống không giữ vững lập trường”. Này Cunda, các vị du sĩ ngoại đạo nói vậy cần phải được trả lời như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời. Này Hiền giả, giống như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, chân cột được khéo chôn sâu vào đất, không lắc qua lại, không có rung động. Cũng vậy này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời. Này Hiền giả, giống như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, chân cột được khéo chôn sâu vào đất, không lắc qua lại, không có rung động. Cũng vậy này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời.
SC 38Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã diệt trừ các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, các việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc sau đây: Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc, không thể cố ý tước đoạt sanh mạng của loài hữu tình; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể lấy của không cho, tức là ăn trộm; vị Tỷ kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể hành dâm; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc, không thể biết mà nói láo; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể cất chứa tiền của để hưởng thọ dục lạc, như khi còn tại gia; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành tham; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành sân; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành si; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành theo sợ hãi. Này Hiền giả, một vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đã diệt tận các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, các việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc như vậy”.
SC 39PTS cs 27 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: “Ðối với quá khứ, Sa-môn Gotama có tri kiến siêu việt. Nhưng đối với tương lai, Sa-môn Gotama không có tri kiến siêu việt; như sự việc xảy ra như thế nào và vì sao lại xảy ra như vậy?” Như vậy, các vị du sĩ ngoại đạo này chủ trương rằng tri kiến về vấn đề này có thể được trình bày nêu rõ bởi tri kiến một vấn đề khác, như những kẻ ngu si, không thông minh khác. Này Cunda, về vấn đề quá khứ, Như Lai có thể nhớ đến đời sống quá khứ. Ngài muốn như thế nào, Ngài có thể nhớ xa được như vậy. Về vấn đề vị lai, Như Lai có trí do tuệ sanh: “Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn đời sống nào khác nữa”.
SC 40PTS cs 28 Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy.
SC 41Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là hy vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy một cách vắn tắt.
SC 42Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại và chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy. Như vậy, này Cunda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị nói phải thời nói chơn chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật. Do vậy mới gọi là Như Lai.
SC 43PTS cs 29 Này Cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được phân biệt, được đạt đến, được tìm cầu, được suy đạt với ý, tất cả đều được Như Lai biết rõ. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác và đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn giới, trong thời gian ấy, những gì Như Lai nói trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy, chớ không gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, Như Lai nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy nên được gọi là Như Lai. Ðối với thế giới với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc Toàn Thắng, không ai có thể thắng nổi, bậc Toàn kiến, bậc Tự Tại.
SC 44PTS cs 30 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm!” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, có phải không? Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm!” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết … Như lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm!”.
SC 45PTS cs 31 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, vì sao Sa môn Gotama lại không nói?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, vì không liên hệ đến lợi ích, không liên hệ đến Pháp, không liên hệ đến căn bản phạm hạnh, không hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy Thế Tôn không trả lời.”
SC 46PTS cs 32 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, Sa môn Gotama nói điều gì?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Ðây là Khổ, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là Khổ tập, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là Khổ diệt, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói.”
SC 47PTS cs 33 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn lại nói vậy?” Này Cunda, được nói như vậy, Ngươi phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, vì liên hệ đến lợi ích, liên hệ đến Pháp, liên hệ đến căn bản phạm hạnh, vì nhất định hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy, Thế Tôn mới nói.”
SC 48PTS cs 34 Này Cunda, mọi biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi? Này Cunda, mọi biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 49Này Cunda, thế nào là những biện luận về tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi, và những biện luận không đáng nói cho các Ngươi? Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Bản ngã và thế giới là thường còn, như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm”. Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 50“Bản ngã và thế giới là không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do mình tạo ra và do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là không do mình tự tạo ra và cũng không phải không do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là tự nhiên sanh, không do mình tự tạo ra, không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra sai lầm.
SC 51“Lạc, khổ là thường còn …
“Lạc, khổ là vô thường …
“Lạc, khổ là thường còn và vô thường …
Lạc, khổ là không thường còn và không vô thường
“Lạc, khổ là do tự mình tạo ra …
“Lạc, khổ là do người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là do tự nhiên sanh, không do mình tự tạo ra, không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”.
SC 52PTS cs 35 Này Cunda, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau: “Bản ngã và thế giới là thường còn, như vậy là đúng sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả có phải Hiền giả nói rằng: “Bản ngã và thế giới là thường còn” không?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây Ta cao hơn về thượng trí.
SC 53PTS cs 36 Này Cunda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau:
SC 54“Bản ngã và thế giới là thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra … ”
“Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra.
“Bản ngã và thế giới do tự nhiên sanh, không do mình tự tạo, không do người khác tạo ra …
SC 55“Lạc, khổ là thường còn …
“Lạc, khổ là vô thường …
“Lạc, khổ là thường còn và vô thường …
“Lạc, khổ không thường còn và không vô thường …
“Lạc, khổ là tự mình tạo ra …
“Lạc, khổ là tự người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là tự mình tạo ra và tự người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là tự nhiên sanh, không tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”.
SC 56Ta đến những vị ấy và nói: Này Hiền giả, có phải Hiền giả nói rằng: “Lạc, khổ là tự nhiên sanh, không tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Có một số hữu tình có những ý tưởng sai khác. Này Cunda Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây Ta cao hơn về thượng trí. Này Cunda, những biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này, biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 57PTS cs 37 Này Cunda, thế nào là những biện luận về tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi; và những biện luận không đáng nói cho các Ngươi?
SC 58Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Bản ngã là có sắc, không bệnh, sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”.
SC 59Lại nữa này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 60“Bản ngã là vô sắc …
“Bản ngã là có sắc và vô sắc …
“Bản ngã là không có sắc và không vô sắc …
“Bản ngã là có tưởng …
“Bản ngã là vô tưởng …
“Bản ngã là có tưởng và vô tưởng …
“Bản ngã là không có tưởng và không vô tưởng …
“Bản ngã là đoạn diệt, biến hoại, sau khi chết không có tồn tại. Như vậy là đúng sự thật ngoài ra là sai lầm”.
SC 61PTS cs 38 Này Cunda, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau: “Bản ngã là có sắc, không bệnh sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả có phải Hiền giả có nói: “Bản ngã là có sắc, không có bệnh sau khi chết?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Cunda, vì có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Này Cunda, Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây, Ta cao hơn về thượng trí.
SC 62PTS cs 39 Này Cunda, có những Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 63“Bản ngã là có sắc …
“Bản ngã là vô sắc …
“Bản ngã là có sắc và vô sắc …
“Bản ngã là không có sắc và không vô sắc …
“Bản ngã là có tưởng …
“Bản ngã là vô tưởng …
“Bản ngã là có tưởng và vô tưởng …
“Bản ngã là không có tưởng và không vô tưởng …
“Bản ngã là đoạn diệt, biến hoại, sau khi chết không có tồn tại. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”.
SC 64Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả, có phải Hiền giả nói rằng: “Bản ngã là đoạn diệt biến hoại, sau khi chết không có tồn tại?” Này Cunda, nếu những vị ấy nói: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Vì có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Này Cunda, Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây, Ta cao hơn về thượng trí. Này Cunda, những biện luận về những tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 65PTS cs 40 Này Cunda, với mục đích đoạn trừ và vượt qua những biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này và các biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai này, mà bốn pháp Niệm xứ được ta tuyên thuyết, trình bày. Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích nhiếp phục tham, sân ở đời, sống quán thọ trên các cảm thọ … trong các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích nhiệp phục tham ưu ở đời. Này Cunda, với mục đích đoạn trừ và vượt qua các biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này và các biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai này mà bốn Niệm xứ được Ta truyền thuyết trình bày.
SC 66PTS cs 41 Lúc bấy giờ, Tôn giả Upavāna đang đứng sau lưng hầu quạt Thế Tôn. Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn
SC 67—Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là tuyệt đối thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này tên là gì?
SC 68- Này Upavāna, pháp thoại này là Thanh tịnh (Pàsàdikà), hãy như vậy mà phụng trì.
SC 69Thế Tôn thuyết dạy như vậy. Tôn giả Upavāna hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati vedhaññā nāma sakyā, tesaṁ ambavane pāsāde.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato hoti.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti:
“na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti.
Vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati.
Yepi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā, tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā, yathā taṁ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.
Atha kho cundo samaṇuddeso pāvāyaṁ vassaṁvuṭṭho yena sāmagāmo, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando cundaṁ samaṇuddesaṁ etadavoca:
“atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya.
Āyāmāvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā etamatthaṁ bhagavato ārocessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha, ‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato,
tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe’”ti.
1. Asammāsambuddhappaveditadhammavinaya
“Evaṁ hetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
Idha, cunda, satthā ca hoti asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharati na sāmīcippaṭipanno na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, lābhā, tassa te suladdhaṁ,
satthā ca te asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharasi, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha gārayho, dhammopi tattha gārayho, sāvako ca tattha evaṁ pāsaṁso.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘etāyasmā tathā paṭipajjatu, yathā te satthārā dhammo desito paññatto’ti.
Yo ca samādapeti, yañca samādapeti, yo ca samādapito tathattāya paṭipajjati. Sabbe te bahuṁ apuññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evaṁ hetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
Idha pana, cunda, satthā ca hoti asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, satthā ca te asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharasi sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha gārayho, dhammopi tattha gārayho, sāvakopi tattha evaṁ gārayho.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘addhāyasmā ñāyappaṭipanno ñāyamārādhessatī’ti.
Yo ca pasaṁsati, yañca pasaṁsati, yo ca pasaṁsito bhiyyoso mattāya vīriyaṁ ārabhati. Sabbe te bahuṁ apuññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
2. Sammāsambuddhappaveditadhammavinaya
Idha pana, cunda, satthā ca hoti sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharati, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, satthā ca te sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharasi, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha pāsaṁso, dhammopi tattha pāsaṁso, sāvako ca tattha evaṁ gārayho.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘etāyasmā tathā paṭipajjatu yathā te satthārā dhammo desito paññatto’ti.
Yo ca samādapeti, yañca samādapeti, yo ca samādapito tathattāya paṭipajjati. Sabbe te bahuṁ puññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, cunda, hoti svākkhāte dhammavinaye suppavedite niyyānike upasamasaṁvattanike sammāsambuddhappavedite.
Idha pana, cunda, satthā ca hoti sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, lābhā, tassa te suladdhaṁ,
satthā ca te sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharasi sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha pāsaṁso, dhammopi tattha pāsaṁso, sāvakopi tattha evaṁ pāsaṁso.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘addhāyasmā ñāyappaṭipanno ñāyamārādhessatī’ti.
Yo ca pasaṁsati, yañca pasaṁsati, yo ca pasaṁsito bhiyyoso mattāya vīriyaṁ ārabhati. Sabbe te bahuṁ puññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, cunda, hoti svākkhāte dhammavinaye suppavedite niyyānike upasamasaṁvattanike sammāsambuddhappavedite.
3. Sāvakānutappasatthu
Idha pana, cunda, satthā ca loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito,
aviññāpitatthā cassa honti sāvakā saddhamme, na ca tesaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha nesaṁ satthuno antaradhānaṁ hoti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato anutappo hoti.
Taṁ kissa hetu?
‘Satthā ca no loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito, aviññāpitatthā camha saddhamme, na ca no kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha no satthuno antaradhānaṁ hotī’ti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato anutappo hoti.
4. Sāvakānanutappasatthu
Idha pana, cunda, satthā ca loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho. Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Viññāpitatthā cassa honti sāvakā saddhamme, kevalañca tesaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha nesaṁ satthuno antaradhānaṁ hoti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato ananutappo hoti.
Taṁ kissa hetu?
‘Satthā ca no loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho.
Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Viññāpitatthā camha saddhamme, kevalañca no paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha no satthuno antaradhānaṁ hotī’ti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato ananutappo hoti.
5. Brahmacariyaaparipūrādikathā
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, no ca kho satthā hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, no ca khvassa therā bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
No ca khvassa majjhimā bhikkhū sāvakā honti …pe…
majjhimā cassa bhikkhū sāvakā honti, no ca khvassa navā bhikkhū sāvakā honti …pe…
navā cassa bhikkhū sāvakā honti, no ca khvassa therā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe…
therā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa majjhimā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe…
majjhimā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa navā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe…
navā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa upāsakā sāvakā honti gihī odātavasanā brahmacārino …pe…
upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā brahmacārino, no ca khvassa upāsakā sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino …pe…
upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino, no ca khvassa upāsikā sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …pe…
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo, no ca khvassa upāsikā sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …pe…
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo, no ca khvassa brahmacariyaṁ hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ …pe…
brahmacariyañcassa hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ, no ca kho lābhaggayasaggappattaṁ.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Majjhimā cassa bhikkhū sāvakā honti …
navā cassa bhikkhū sāvakā honti …
therā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti …
majjhimā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti …
navā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti …
upāsakā cassa sāvakā honti … gihī odātavasanā brahmacārino.
Upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino …
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …
brahmacariyañcassa hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ, lābhaggappattañca yasaggappattañca.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
Ahaṁ kho pana, cunda, etarahi satthā loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho.
Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Viññāpitatthā ca me sāvakā saddhamme, kevalañca tesaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Ahaṁ kho pana, cunda, etarahi satthā thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
Santi kho pana me, cunda, etarahi therā bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Santi kho pana me, cunda, etarahi majjhimā bhikkhū sāvakā …
santi kho pana me, cunda, etarahi navā bhikkhū sāvakā …
santi kho pana me, cunda, etarahi therā bhikkhuniyo sāvikā …
santi kho pana me, cunda, etarahi majjhimā bhikkhuniyo sāvikā …
santi kho pana me, cunda, etarahi navā bhikkhuniyo sāvikā …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsakā sāvakā gihī odātavasanā brahmacārino …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsakā sāvakā gihī odātavasanā kāmabhogino …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsikā sāvikā gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsikā sāvikā gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …
etarahi kho pana me, cunda, brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Yāvatā kho, cunda, etarahi satthāro loke uppannā, nāhaṁ, cunda, aññaṁ ekasatthārampi samanupassāmi evaṁlābhaggayasaggappattaṁ yatharivāhaṁ.
Yāvatā kho pana, cunda, etarahi saṅgho vā gaṇo vā loke uppanno;
nāhaṁ, cunda, aññaṁ ekasaṅghampi samanupassāmi evaṁlābhaggayasaggappattaṁ yatharivāyaṁ, cunda, bhikkhusaṅgho.
Yaṁ kho taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti.
Idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ …pe… suppakāsitan’ti.
Udako sudaṁ, cunda, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘passaṁ na passatī’ti.
Kiñca passaṁ na passatīti?
Khurassa sādhunisitassa talamassa passati, dhārañca khvassa na passati.
Idaṁ vuccati:
‘passaṁ na passatī’ti.
Yaṁ kho panetaṁ, cunda, udakena rāmaputtena bhāsitaṁ hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ khurameva sandhāya.
Yañca taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya:
‘passaṁ na passatī’ti, idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘passaṁ na passatī’ti.
Kiñca passaṁ na passatīti?
Evaṁ sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitanti, iti hetaṁ passati.
Idamettha apakaḍḍheyya, evaṁ taṁ parisuddhataraṁ assāti, iti hetaṁ na passati.
Idamettha upakaḍḍheyya, evaṁ taṁ paripūraṁ assāti, iti hetaṁ na passati.
Idaṁ vuccati, cunda:
‘passaṁ na passatī’ti.
Yaṁ kho taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ …pe…
brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti.
Idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti.
6. Saṅgāyitabbadhamma
Tasmātiha, cunda, ye vo mayā dhammā abhiññā desitā, tattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katame ca te, cunda, dhammā mayā abhiññā desitā, yattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ?
Seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Ime kho te, cunda, dhammā mayā abhiññā desitā.
Yattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
7. Saññāpetabbavidhi
Tesañca vo, cunda, samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññataro sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañceva micchā gaṇhāti, byañjanāni ca micchā ropetī’ti.
Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo:
‘imassa nu kho, āvuso, atthassa imāni vā byañjanāni etāni vā byañjanāni katamāni opāyikatarāni, imesañca byañjanānaṁ ayaṁ vā attho eso vā attho katamo opāyikataro’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘imassa kho, āvuso, atthassa imāneva byañjanāni opāyikatarāni, yā ceva etāni; imesañca byañjanānaṁ ayameva attho opāyikataro, yā ceva eso’ti.
So neva ussādetabbo na apasādetabbo, anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tassa ca atthassa tesañca byañjanānaṁ nisantiyā.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañhi kho micchā gaṇhāti byañjanāni sammā ropetī’ti.
Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo:
‘imesaṁ nu kho, āvuso, byañjanānaṁ ayaṁ vā attho eso vā attho katamo opāyikataro’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘imesaṁ kho, āvuso, byañjanānaṁ ayameva attho opāyikataro, yā ceva eso’ti.
So neva ussādetabbo na apasādetabbo, anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tasseva atthassa nisantiyā.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañhi kho sammā gaṇhāti byañjanāni micchā ropetī’ti.
Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ; anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo:
‘imassa nu kho, āvuso, atthassa imāni vā byañjanāni etāni vā byañjanāni katamāni opāyikatarānī’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘imassa kho, āvuso, atthassa imāneva byañjanāni opayikatarāni, yā ceva etānī’ti.
So neva ussādetabbo na apasādetabbo; anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tesaññeva byañjanānaṁ nisantiyā.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañceva sammā gaṇhāti byañjanāni ca sammā ropetī’ti.
Tassa ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ anumoditabbaṁ;
tassa ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā so evamassa vacanīyo:
‘lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso,
ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma evaṁ atthupetaṁ byañjanupetan’ti.
8. Paccayānuññātakāraṇa
Na vo ahaṁ, cunda, diṭṭhadhammikānaṁyeva āsavānaṁ saṁvarāya dhammaṁ desemi.
Na panāhaṁ, cunda, samparāyikānaṁyeva āsavānaṁ paṭighātāya dhammaṁ desemi.
Diṭṭhadhammikānaṁ cevāhaṁ, cunda, āsavānaṁ saṁvarāya dhammaṁ desemi;
samparāyikānañca āsavānaṁ paṭighātāya.
Tasmātiha, cunda, yaṁ vo mayā cīvaraṁ anuññātaṁ, alaṁ vo taṁ
yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīnapaṭicchādanatthaṁ.
Yo vo mayā piṇḍapāto anuññāto, alaṁ vo so
yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca.
Yaṁ vo mayā senāsanaṁ anuññātaṁ, alaṁ vo taṁ
yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva utuparissayavinodanapaṭisallānārāmatthaṁ.
Yo vo mayā gilānapaccayabhesajjaparikkhāro anuññāto, alaṁ vo so
yāvadeva uppannānaṁ veyyābādhikānaṁ vedanānaṁ paṭighātāya abyāpajjaparamatāya.
9. Sukhallikānuyoga
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘sukhallikānuyogamanuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘katamo so, āvuso, sukhallikānuyogo?
Sukhallikānuyogā hi bahū anekavihitā nānappakārakā’ti.
Cattārome, cunda, sukhallikānuyogā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Idha, cunda, ekacco bālo pāṇe vadhitvā vadhitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
Ayaṁ paṭhamo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco adinnaṁ ādiyitvā ādiyitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
Ayaṁ dutiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco musā bhaṇitvā bhaṇitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
Ayaṁ tatiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Ayaṁ catuttho sukhallikānuyogo.
Ime kho, cunda, cattāro sukhallikānuyogā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime cattāro sukhallikānuyoge anuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Te vo ‘mā hevaṁ’ tissu vacanīyā.
Na te vo sammā vadamānā vadeyyuṁ, abbhācikkheyyuṁ asatā abhūtena.
Cattārome, cunda, sukhallikānuyogā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Idha, cunda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ paṭhamo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ dutiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ tatiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ catuttho sukhallikānuyogo.
Ime kho, cunda, cattāro sukhallikānuyogā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime cattāro sukhallikānuyoge anuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Te vo ‘evaṁ’ tissu vacanīyā.
Sammā te vo vadamānā vadeyyuṁ, na te vo abbhācikkheyyuṁ asatā abhūtena.
10. Sukhallikānuyogānisaṁsa
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime panāvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ kati phalāni katānisaṁsā pāṭikaṅkhā’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘ime kho, āvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ cattāri phalāni cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā.
Katame cattāro?
Idhāvuso, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Idaṁ paṭhamaṁ phalaṁ, paṭhamo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Idaṁ dutiyaṁ phalaṁ, dutiyo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti, tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Idaṁ tatiyaṁ phalaṁ, tatiyo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Idaṁ catutthaṁ phalaṁ catuttho ānisaṁso.
Ime kho, āvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ imāni cattāri phalāni, cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā’ti.
11. Khīṇāsavaabhabbaṭhāna
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘aṭṭhitadhammā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sāvakānaṁ dhammā desitā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā.
Seyyathāpi, āvuso, indakhīlo vā ayokhīlo vā gambhīranemo sunikhāto acalo asampavedhī;
evameva kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sāvakānaṁ dhammā desitā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā.
Yo so, āvuso, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so nava ṭhānāni ajjhācarituṁ.
Abhabbo, āvuso, khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe āgārikabhūto; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu chandāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu dosāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu mohāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu bhayāgatiṁ gantuṁ.
Yo so, āvuso, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni nava ṭhānāni ajjhācaritun’ti.
12. Pañhābyākaraṇa
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘atītaṁ kho addhānaṁ ārabbha samaṇo gotamo atīrakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapeti, no ca kho anāgataṁ addhānaṁ ārabbha atīrakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapeti, tayidaṁ kiṁsu tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Te ca aññatitthiyā paribbājakā aññavihitakena ñāṇadassanena aññavihitakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapetabbaṁ maññanti yathariva bālā abyattā.
Atītaṁ kho, cunda, addhānaṁ ārabbha tathāgatassa satānusāriñāṇaṁ hoti;
so yāvatakaṁ ākaṅkhati tāvatakaṁ anussarati.
Anāgatañca kho addhānaṁ ārabbha tathāgatassa bodhijaṁ ñāṇaṁ uppajjati:
‘ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
Atītañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti.
Atītañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, tampi tathāgato na byākaroti.
Atītañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ, tatra kālaññū tathāgato hoti tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
Anāgatañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti …pe… tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
Paccuppannañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti.
Paccuppannañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, tampi tathāgato na byākaroti.
Paccuppannañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ, tatra kālaññū tathāgato hoti tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
Iti kho, cunda, atītānāgatapaccuppannesu dhammesu tathāgato kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yañca kho, cunda, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, sabbaṁ tathāgatena abhisambuddhaṁ,
tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yañca, cunda, rattiṁ tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca rattiṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, yaṁ etasmiṁ antare bhāsati lapati niddisati. Sabbaṁ taṁ tatheva hoti no aññathā,
tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yathāvādī, cunda, tathāgato tathākārī, yathākārī tathāvādī.
Iti yathāvādī tathākārī, yathākārī tathāvādī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Sadevake loke, cunda, samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya tathāgato abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
13. Abyākataṭṭhāna
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ nu kho, āvuso, hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
“hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘etampi kho, āvuso, bhagavatā abyākataṁ:
“na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
“hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘etampi kho, āvuso, bhagavatā abyākataṁ:
“neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kasmā panetaṁ, āvuso, samaṇena gotamena abyākatan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘na hetaṁ, āvuso, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ na ādibrahmacariyakaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, tasmā taṁ bhagavatā abyākatan’ti.
14. Byākataṭṭhāna
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, samaṇena gotamena byākatan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘idaṁ dukkhanti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhasamudayoti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhanirodhoti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, āvuso, bhagavatā byākatan’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kasmā panetaṁ, āvuso, samaṇena gotamena byākatan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘etañhi, āvuso, atthasaṁhitaṁ, etaṁ dhammasaṁhitaṁ, etaṁ ādibrahmacariyakaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Tasmā taṁ bhagavatā byākatan’ti.
15. Pubbantasahagatadiṭṭhinissaya
Yepi te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, tepi vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Yepi te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, tepi vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Katame ca te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Santi kho, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Santi pana, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘asassato attā ca loko ca …pe…
sassato ca asassato ca attā ca loko ca …
neva sassato nāsassato attā ca loko ca …
sayaṅkato attā ca loko ca …
paraṅkato attā ca loko ca …
sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca …
asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
‘Sassataṁ sukhadukkhaṁ …
asassataṁ sukhadukkhaṁ …
sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ …
nevasassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ …
asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“sassato attā ca loko cā”’ti?
Yañca kho te evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘asassato attā ca loko ca …
sassato ca asassato ca attā ca loko ca …
nevasassato nāsassato attā ca loko ca …
sayaṅkato attā ca loko ca …
paraṅkato attā ca loko ca …
sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca …
asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca …
sassataṁ sukhadukkhaṁ …
asassataṁ sukhadukkhaṁ …
sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ …
nevasassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ …
asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhan”’ti?
Yañca kho te evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Ime kho te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
16. Aparantasahagatadiṭṭhinissaya
Katame ca te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Santi, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Santi pana, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘arūpī attā hoti …
rūpī ca arūpī ca attā hoti …
nevarūpī nārūpī attā hoti …
saññī attā hoti …
asaññī attā hoti …
nevasaññīnāsaññī attā hoti …
attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Yañca kho te evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘arūpī attā hoti …
rūpī ca arūpī ca attā hoti …
nevarūpīnārūpī attā hoti …
saññī attā hoti …
asaññī attā hoti …
nevasaññīnāsaññī attā hoti …
attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā”’ti?
Yañca kho te, cunda, evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi, kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Ime kho te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Imesañca, cunda, pubbantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ imesañca aparantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ pahānāya samatikkamāya evaṁ mayā cattāro satipaṭṭhānā desitā paññattā.
Katame cattāro?
Idha, cunda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu vedanānupassī …pe…
citte cittānupassī …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Imesañca, cunda, pubbantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ imesañca aparantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ pahānāya samatikkamāya. Evaṁ mayā ime cattāro satipaṭṭhānā desitā paññattā”ti.
Tena kho pana samayena āyasmā upavāṇo bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Pāsādiko vatāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo;
supāsādiko vatāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo, ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Tasmātiha tvaṁ, upavāṇa, imaṁ dhammapariyāyaṁ ‘pāsādiko’ tveva naṁ dhārehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā upavāṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Pāsādikasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Thus have I heard.
The Exalted One was at one time sojourning among the Sakyans, [at the technical college], in the Mango Grove of the Sakyan family named The Archers.
Now at that time Nāthaputta the Nigaṇṭha had just died at Pāvā.
And at his death the Nigaṇṭhas became disunited and divided into two parties, in mutual strife and conflict, quarrelling and wounding each other with wordy weapons:—
“Thou dost not understand this doctrine and discipline; but I do understand it.”
“How shouldst thou understand it?”
“Thou art in the wrong; I am in the right!”
“I am speaking to the point; thou art not!”
“Thou sayest last what should be said first, and first what ought to come last!”
“What thou hast so long excogitated is quite upset!”
“Thy challenge is taken up; thou’rt proved to be wrong!”
“Begone to get rid of thy opinion, or disentangle thyself if thou canst!”
Truly the Nigaṇṭhas, followers of Nāthaputta, were out methinks to kill.
Even the lay disciples of the white robe, who followed Nāthaputta, showed themselves shocked, repelled and indignant at the Nigaṇṭhas, so badly was their doctrine and discipline set forth and imparted, so ineffectual was it for guidance, so little conducive to peace, imparted as it had been by one who was not supremely enlightened, and now wrecked as it was of his support and without a protector.
Now Cunda the Novice, having passed the rainy season at Pāvā, came to see the venerable Ānanda at Sāmagāma, and coming, saluted him and sat down beside him.
So seated he said to the venerable Ānanda: “Nāthaputta, sir, the Nigaṇṭha, has just died at Pāvā.
And he being dead, the Nigaṇṭhas have become disunited and divided into two parties, in mutual strife and conflict, quarrelling and wounding each other with wordy weapons:—
‘Thou dost not understand this doctrine and discipline; but I do understand it.’
‘How shouldst thou understand it?’
‘Thou art in the wrong; I am in the right!’
‘I am speaking to the point; thou art not!’
‘Thou sayest last what should be said first, and first what ought to come last!’
‘What thou hast so long excogitated is quite upset!’
‘Thy challenge is taken up; thou’rt proved to be wrong!’
‘Begone to get rid of thy opinion, or disentangle thyself if thou canst!’
Truly the Nigaṇṭhas, followers of Nāthaputta, were out methinks to kill.
Even the lay disciples of the white robe, who followed Nāthaputta, showed themselves shocked, repelled and indignant at the Nigaṇṭhas, so badly was their doctrine and discipline set forth and imparted, so ineffectual was it for guidance, so little conducive to peace, imparted as it had been by one who was not supremely enlightened, now wrecked as it was of his support and without a protector.”
Then said the venerable Ānanda to Cunda the Novice: “Friend Cunda, this is a worthy subject to bring before the Exalted One.
Let’s go to him, and tell him about it.”
“Very good, sir”, replied Cunda the Novice.
So the venerable Ānanda and Cunda the Novice sought out the Exalted One and saluting him, and sitting down beside him, said this: “Nāthaputta, sir, the Nigaṇṭha, has just died at Pāvā.
And he being dead, the Nigaṇṭhas have become disunited and divided into two parties, in mutual strife and conflict, quarrelling and wounding each other with wordy weapons:—
‘Thou dost not understand this doctrine and discipline; but I do understand it.’
‘How shouldst thou understand it?’
‘Thou art in the wrong; I am in the right!’
‘I am speaking to the point; thou art not!’
‘Thou sayest last what should be said first, and first what ought to come last!’
‘What thou hast so long excogitated is quite upset!’
‘Thy challenge is taken up; thou’rt proved to be wrong!’
‘Begone to get rid of thy opinion, or disentangle thyself if thou canst!’
Truly the Nigaṇṭhas, followers of Nāthaputta, were out methinks to kill.
Even the lay disciples of the white robe, who followed Nāthaputta, showed themselves shocked, repelled and indignant at the Nigaṇṭhas, so badly was their doctrine and discipline set forth and imparted, so ineffectual was it for guidance, so little conducive to peace, imparted as it had been by one who was not supremely enlightened, now wrecked as it was of his support and without a protector.”
(The Buddha:) “Here, Cunda, we have a teacher who was not supremely enlightened, and a doctrine badly set forth, badly imparted, ineffectual to guide, not conducing to peace, imparted by one who was not supremely enlightened.
In such a doctrine, moreover, the disciple does not come to master the lesser corollaries that follow from the larger doctrine, nor to acquire correct conduct, nor to walk according to the precepts, but is perpetually evading that doctrine.
To him one might say: ‘Friend, thou hast got [thy gospel], and thou hast got thy opportunity.
Thy teacher is not supremely enlightened; his Norm is badly set forth, badly imparted, ineffectual for guidance, not conducive to peace, not imparted by one supremely enlightened.
Thou in that doctrine hast not mastered the lesser corollaries that follow from the larger doctrine, nor acquired correct conduct, nor walkest thou according to those corollaries, but thou dost perpetually evade that doctrine.’
Thus, Cunda, both that teacher and that doctrine are shown blameworthy, but the disciple is praiseworthy.
Now he who should say to such a disciple: ‘Come, your reverence, practise even according to the doctrine taught and declared by your teacher!’
Both he who instigates, and he who is instigated, and he too who, being instigated, practises accordingly,—they all of them generate much demerit.
And why?
Because their doctrine and discipline are badly set forth, badly imparted, ineffectual for guidance, not conducive to peace, not imparted by one supremely enlightened.
But consider, Cunda, where, the teacher not being supremely enlightened, and the doctrine being badly set forth, badly imparted, ineffectual for guidance, not conducive to peace, not imparted by one supremely enlightened, the disciple abides in that doctrine, practising the lesser corollaries following on the larger doctrine, acquiring correct conduct and, walking according to the precepts, perpetually conforms to that doctrine.
To him one might say: ‘Friend, thou hast been unlucky [in thy teacher], and in thy opportunity; thy teacher is not supremely enlightened; thy doctrine is badly set forth, badly imparted, ineffectual for guidance, not conducive to peace, not imparted by one supremely enlightened; and thou abide in that doctrine, practising the lesser corollaries following on the larger doctrine, acquiring correct conduct and, walking according to the precepts, perpetually conformest to that doctrine.’
By these words, Cunda, teacher and doctrine and disciple are all blameworthy.
And he who should say: ‘Verily his reverence mastering the system will carry it to a successful end!’ -
He thus commending and he who is commended and he who, thus commended, redoubles the energy he puts forth,—all they generate much demerit.
And why?
Because their doctrine and discipline have been badly set forth, badly imparted, ineffectual for guidance, not conducive to peace, not imparted by one supremely enlightened.
But consider, Cunda, where the teacher is supremely enlightened, and the doctrine well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one supremely enlightened, but where the disciple in that norm has not mastered the lesser corollaries following on the larger doctrine, nor learnt to practise correct conduct, nor walks according to the precepts, but perpetually evades that doctrine.
To him one might say: -
‘Friend, thou hast not succeeded, thou hast missed thy opportunity.
Thy teacher is supremely enlightened, and his doctrine is well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened, but thou hast not mastered the lesser corollaries following on the larger doctrine, nor learnt to practise correct conduct, nor walk according to the precepts, but perpetually evade that doctrine.’
By these words, Cunda, teacher and doctrine are commended, but the disciple is held blameworthy.
Now if one were to say to such a disciple: -
‘Come, your reverence, practise in accordance with the doctrine taught and declared by your teacher!’—he who instigated, he who was instigated, and he who being instigated practised accordingly, would all of them generate much merit.
And why?
Because that doctrine and discipline were well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened.
But consider, Cunda, where the teacher is supremely enlightened, the doctrine well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened and where the disciple has mastered the lesser corollaries following on the larger doctrine, learnt to practise correct conduct, walks according to the precepts, and perpetually conformest to that doctrine.
To him one might say:
‘Thou, friend, hast been successful in teacher and in opportunity thy teacher is supremely enlightened, the doctrine well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened and you have mastered the lesser corollaries following on the larger doctrine, learnt to practise correct conduct, walk according to the precepts, and perpetually conformest to that doctrine.’
By these words, Cunda, teacher and doctrine and disciple are all three deemed praiseworthy.
And if one should say to such a disciple: -
‘Verily his reverence has mastered the system and will carry it to a successful end, he who commends, he who is commended and he who, commended, redoubles the energy he is putting forth, do all of them generate much merit.’
And why?
Because, Cunda, that is so when a doctrine and discipline well set forth and well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, have been imparted by one who is supremely enlightened.
But consider, Cunda, where a teacher hath arisen in the world, Arahant, supremely enlightened; where a doctrine hath been well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely en1ightened; but where his disciples have not become proficient in the good Norm, nor has the full scope of the higher life become manifest to them, evident, with all the stages in it coordinated, nor has it been made a thing of saving grace for them, well proclaimed among men, when their teacher passes away.
Now for such a teacher to die, Cunda, is a great affliction for his disciples.
And why?
‘Our teacher arose in the world for us, Arahant, supremely enlightened; and a Norm was well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who was supremely enlightened.
But we have not become proficient in the good Norm, nor has the full scope of the higher life become manifest to us, evident, with all the stages in it coordinated, nor has it been made a thing of saving grace for us, well proclaimed among men.
Now has our teacher passed away!’
For such a teacher to die, Cunda, is a great affliction for his disciples.
But consider, Cunda, where a Teacher has appeared in the world who is Arahant, supremely enlightened; where a Norm has been well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened; and where the disciples have become proficient in the good Norm, and where the full scope of the higher life has become manifest to them, evident, with all its stages coordinated, and made a thing of saving grace, well proclaimed among men, when that teacher passes away.
Now for such a teacher, Cunda, to die is not an affliction for his disciples.
And why?
‘A Teacher arose in the world for us, Arahant, supremely enlightened; and a Norm was well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened.
And we have become proficient in the good Norm, and the full scope of the higher life has become manifest to us, evident, with all its stages coordinated and made a thing of saving grace, well proclaimed among men.
‘Now is our Teacher passed away!’
For such a Teacher to die, Cunda, is not an affliction to his disciples.
If a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be none to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, then is that system by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, then is that system by this circumstance made perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, but there be no senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace: then is that system by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace: then is that system by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, but if there be no bhikkhus of middle age or standing who are disciples, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, but if there be no novices who are disciples, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, but if there be no senior Sisters who are disciples then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples but if there be no Sister novices who are disciples then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples but if there be no laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, but if there be none among those, laymen who are wealthy, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laymen who are wealthy, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those laymen who are wealthy, but if there be no laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, but if there be none among those, laywomen who are wealthy, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be no laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laywomen who are wealthy, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laywomen who are wealthy, but if the system be not successful, prosperous, widespread and popular in its full extent, well proclaimed among men, then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be no laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laywomen who are wealthy, and if the system be successful, prosperous, widespread and popular in its full extent, well proclaimed among men, then is the holy life by this circumstance perfect.
Again, if a religious system, Cunda, be placed in these circumstances, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laywomen who are wealthy, and if the system be successful, prosperous, widespread and popular in its full extent, well proclaimed among men, but if the system be all this but have not attained the foremost place in public fame and support then is the holy life by this circumstance imperfect.
But if a religious system be placed in these circumstances, Cunda, and there be one to take the lead who is a senior brother, experienced, of long standing in the order, of ripe age, arrived at years of discretion, and there be senior bhikkhus who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the goal of religion, who are able to propagate the truth, who, having well confuted uprisen opposing schools with their doctrines, are able to teach the Norm with saving grace, and if there be bhikkhus of middle age or standing who are disciples, and if there be novices who are disciples, and if there be senior Sisters who are disciples and if there be Sister novices who are disciples and if there be no laymen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laymen who are wealthy, and if there be laywomen who are disciples, householders of the white robe, holy livers, and if there be among those, laywomen who are wealthy, and if the system be successful, prosperous, widespread and popular in its full extent, well proclaimed among men, and if the system be all this and have attained the foremost place in public fame and support then is the holy life by this circumstance perfect.
But I, Cunda, have now arisen as a teacher in the world who am Arahant, supremely enlightened.
And the Norm is well set forth, well imparted, effectual for guidance, conducive to peace, imparted by one who is supremely enlightened.
And my true hearers are proficient in the good Norm, and the full scope of the holy life has become manifest to them, evident, with all its stages coordinated, and made a thing of saving grace for them, well proclaimed among men.
But I, Cunda, the teacher am now grown old, many are the nights I have known, long is it since I went forth, I have reached full age, l have come to my journey’s end.
Yet senior bhikkhus of mine are there, Cunda, who are disciples, wise and well trained, ready and learned, who have won the peace of the Arahant, who are able to propagate the good Norm, who when others start opposed doctrine, easy to confute by the truth, will be able in confuting it to teach the Norm and its saving grace.
And bhikkhus of middle age and standing now are there, Cunda; disciples of mine and wise.
And novices now are there, Cunda, disciples of mine.
And senior Sisters now are there, Cunda, disciples of mine.
And Sisters of middle age and standing now are there, Cunda, and novices also, disciples of mine.
And laymen now are there, Cunda, householders of the white robe, men of holy life, disciples of mine; and among these are men of wealth.
Laywomen now are there, Cunda, householders of the white robe, disciples of mine; and among these are women of wealth.
And my religion, Cunda, is successful, prosperous, widespread and popular in all its full extent, well proclaimed among men.
To what extent, Cunda, there now are teachers arisen in the world, I cannot discern any teacher, who has attained to such a leading position in renown and support as I have.
To what extent, Cunda, there now are Orders and companies arisen in the world, I cannot discern any one that has attained to such a leading position in renown and support as the Order of Bhikkhus.
If anyone, in describing a religion as in every way successful, in every respect complete, neither defective nor redundant, well set forth in all its full extent, were to be speaking rightly, it is this religion that he would be describing.
Uddaka the son of Rama, Cunda, used to say: ‘Seeing he seeth not.’
And on seeing what does one not see?
Of a well sharpened razor one sees the blade, but one does not see the edge.
This is what he meant.
And a low pagan thing was this that he spoke, unworthy, unprofitable, suitable to the worldly majority, about a razor forsooth.
Now were one to wish to use rightly that phrase, ‘Seeing he does not see,’ it is thus that he should say: ‘Seeing he seeth not.’
But what is it that seeing he does not see?
A religion that is in every way successful, in every respect complete, neither defective nor redundant, well set forth in all its full extent: this is what he sees.
Were he to abstract some feature at a given point, thinking to make it clearer, then he does not see it.
Were he to fill in some feature at a given point, thinking to make it more complete then he does not see it, and thus seeing he seeth not.
Hence, Cunda, if anyone wishing to describe a religion in every way successful, in every respect complete, neither defective nor redundant, well set forth in all its full extent, were to be speaking rightly, it is this religion of which he should speak.
Wherefore, Cunda, do ye, to whom I have made known the truths that I have perceived, come together in company and rehearse all of you together those doctrines and quarrel not over them, but compare meaning with meaning, and phrase with phrase, in order that this pure religion may last long and be perpetuated, in order that it may continue to be for the good and happiness of the great multitudes, out of love for the world, to the good and the gain and the weal of devas and men!
Which then, Cunda, are the truths which, when I had perceived, I made known to you?
Which when ye have come together and have associated yourselves, ye are to rehearse, all of you, and not quarrel over, comparing meaning with meaning, and phrase with phrase, in order that this pure religion may last long and be perpetuated, in order that it may continue to be for the good and happiness of the great multitudes, out of love for the world, to the good and the gain and the weal of devas and men?
They are these: -
The Four Onsets of Mindfulness, the Four Supreme Efforts, the Four Paths to Efficacy, the Five Powers, the Five Forces, the Seven Factors of Enlightenment, the Ariyan Eightfold Path.
These, O Cunda, are the truths which when I had perceived, I made known to you, and which, when ye have come together and have associated yourselves, ye are to rehearse, all of you, and not quarrel over, comparing meaning with meaning and phrase with phrase, in order that this pure religion may last long, and be perpetuated, in order that it may continue to be for the good and the happiness of the great multitudes, out of love for the world, to the good and the gain and the weal of devas and men.
You, Cunda, thus met together in concord and in courtesy, suppose that a co-religionist expresses an opinion before the Chapter.
Then if you judge that this honourable member has laid hold of the meaning wrongly, or is proposing a wrong form of words, ye are neither to approve of, nor to blame him.
Unapproving, unblaming, ye are to address him thus:
Of this meaning, brother, either this is the phraseology or that: which fits it better?
Or of these phrases either this is the meaning, or that: which fits them better?
If he reply: Of this meaning, brother, just that phraseology is the more fitting, or, Of these phrases, brother, just that meaning fits them better, he is neither to be set aside nor upbraided.
Neither setting him aside nor upbraiding him, ye are with careful attention to explain to him both meaning and phraseology.
Again, Cunda, suppose that a co-religionist expresses an opinion before the Chapter.
Then if you judge that if this honourable member has laid hold of the meaning wrongly, but propagates a right form of words, ye are neither to approve of, nor to blame him.
Unapproving, unblaming, ye are to address him thus: Of these different phrases, brother, either this is the meaning or that: which fits them better?
If he reply: Of these phrases, brother, just this meaning is the more fitting, he is neither to be set aside, nor to be upbraided.
Neither setting him aside, nor upbraiding him, ye are thoroughly to explain to him, with careful attention, the right meaning.
So also must ye act, if ye judge that such a speaker has laid hold of the right meaning, but is propagating a wrong form of words; ye are thoroughly to explain to him, with careful attention, the right phraseology.
But if, Cunda, such a speaker say and mean what ye judge to be right, then saying
‘Weil said!’ ye should approve of and congratulate him.
And so saying and doing, ye should thus address him: ‘We are fortunate, brother, this is most fortunate for us that in your reverence we see a co-religionist so expert in the spirit and in the letter!
A new doctrine, Cunda, do I teach for subduing the mental intoxicants that are generated even in this present life.
I teach not a doctrine for the extirpating of intoxicants in the future life only, but one for subduing them now and also for extirpating them in the after-life.
Wherefore, Cunda, the raiment sanctioned by me for you, let it suffice for the purpose of warding off cold, for warding off heat, for warding off the touch of gadfly and mosquito, of wind and sun and snakes.
The alms which are sanctioned by me for you, let that suffice to sustain the body in life, to keep it going, to prevent injury, to aid you in living the holy life, you taking thought that: ‘Thus shall I overcome the former sensation, nor cause new sensation to arise.
So far shall I both be at ease and incur no blame.’
The lodging which is sanctioned by me for you, let that suffice for you to ward off cold, to ward off heat, to ward off the touch of gadfly and mosquito, of wind and sun and snakes, just for the purpose of avoiding the dangers of the climate and of enjoying seclusion.
The provision in drugs and other necessaries for sickness which is sanctioned by me for you, let that suffice you so far as it may ward off sensations of illness that have arisen and preserve your health.
It may happen, Cunda, that wanderers holding other views than ours may say: -
‘Those recluses who follow the Sakyan are addicted and devoted to a life of pleasure.’
Teachers alleging this, Cunda, should be answered thus: ‘What, brother, is it to be addicted and devoted to pleasure?’
For there are many and manifold modes in which one may be so addicted and devoted.
There are four such modes, Cunda, which are low and pagan, belonging to the average majority, unworthy, not associated with good, not conducing to unworldliness, to passionlessness, to cessation, to peace, to higher knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
What are the four?
Firstly, there is the case of the fool who takes his pleasure and finds gratification in slaying living creatures.
Secondly, there is the case of one who takes his pleasure and finds gratification in taking what is not given.
Thirdly, there is the case of one who takes his pleasure and finds gratification in false statements.
Fourthly, there is the case of one who dwells surrounded by, and in the enjoyment of the five kinds of sensuous pleasures.
These, Cunda, are the four modes of being addicted and devoted to pleasure which are low and pagan, belonging to the average majority, unworthy, disconnected with good, not conducive to unworldliness, to passionlessness, to cessation, to peace, to insight, to enlightenment, to Nibbāna.
It may happen, Cunda, that other teachers may ask: ‘Are those recluses who follow the Sakyan addicted and devoted to these four modes?’
They should be answered: ‘Nay, that is not so!’
They would not be speaking rightly; they would be misrepresenting you by what is not fact, by what is not so.
These are the four modes of being addicted and devoted to pleasure, Cunda, which conduce absolutely to unworldliness, to passionlessness, to cessation, to peace, to higher knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
What are the four?
Firstly, Cunda, when a brother, aloof from sensuous appetites, aloof from evil ideas, enters into and abides in the First Jhāna, wherein there is initiative and sustained thought which is born of solitude and is full of zest and ease.
Secondly, when suppressing initiative and sustained thought, he enters into and abides in the Second Jhāna, which is self-evoked, born of concentration, full of zest and ease, in that, set free from initial and sustained thought, the mind grows calm and sure, dwelling on high.
Thirdly, when a brother, no longer fired with zest, abides calmly contemplative, while mindful and self-possessed he feels in his body that ease where of Ariyans declare: ‘He that is calmly contemplative and aware, he dwelleth at ease,’ so does he enter into and abide in the Third Jhāna.
Fourthly, by putting aside ease and by putting aside malaise, by the passing away of the joy and the sorrow he used to feel, he enters into and abides in the Fourth Jhāna, rapture of utter purity of mindfulness and equanimity, wherein neither ease is felt nor any ill.
These four modes of being addicted and devoted to pleasure, Cunda, conduce to utter unworldliness, to passionlessness, to cessation, to peace, to insight, to enlightenment, to Nibbāna.
If then it happen, Cunda, that wanderers teaching other doctrines should declare: ‘The Sakyan recluses live addicted and devoted to these four modes of pleasure, to them ye should answer: ‘Yea.’
Rightly would they be speaking of you, nor would they be misrepresenting you by what is not fact, by what does not exist.
It may happen, Cunda, that Teachers teaching other doctrines than ours may declare: ‘For those who live addicted and devoted to these four modes of pleasure, brother, how much fruit, how many advantages are to be expected?’
Them ye should answer thus: ‘Four kinds of fruit, brother, four advantages are to be expected.
What are the four?
Firstly, the case of a brother who by the complete destruction of the three fetters becomes a Stream-winner, saved from disaster hereafter, certain to attain Enlightenment.
Secondly, the case of a brother who by the complete destruction of three fetters has so diminished passion and hate and illusion that he has become a Once Returner, and returning but once to this world will make an end of Ill.
Thirdly, the case of a brother who, by the complete destruction of the five last fetters, will be reborn in another world, thence never to return, there to pass away.
Fourthly, the case of the brother who, by the destruction of the mental intoxicants, has come to know and realize for himself, even in this life, emancipation of intellect and emancipation of insight, and therein abides.
These, brother, are the four kinds of fruit, the four advantages to be expected by those who are addicted and devoted to those four modes of pleasure.’
It may happen, Cunda, that wanderers teaching other views than ours may declare: ‘The Sakyan recluses are inconsistent in the doctrines they hold.’
To them thus declaring, this might be replied:-
‘Brother, the Exalted One who knows, who sees, Arahant, supremely enlightened, hath taught and made known to his disciples doctrines not to be transgressed so long as life shall last.
Just as a pillar of stone or iron, with base deep planted, well fixed, unshaking, unquivering, even so are those doctrines.
The brother who is arahant, in whom the intoxicants are destroyed, who has lived the life, who has done his task, who has laid low his burden, who has attained salvation, who has utterly destroyed the fetter of rebirth, who is emancipated by the true gnosis, he is incapable of perpetrating nine things:
- He is incapable of deliberately depriving a living creature of life.
- He is incapable of taking what is not given so that it constitutes theft.
- He is incapable of sexual impurity.
- He is incapable of deliberately telling lies.
- He is incapable of laying up treasure for indulgence in worldly pleasure as he used to do in the life of the house.
- He is incapable of taking a wrong course through partiality.
- He is incapable of taking a wrong course through hate.
- He is incapable of taking a wrong course through stupidity.
- He is incapable of taking a wrong course through fear.
These nine things the arahant in whom the mental intoxicants arc destroyed, who has lived the life, whose task is clone, whose burden is laid low, who has attained salvation, who has utterly destroyed the fetter of becoming, who is emancipated by the true gnosis is incapable of perpetrating.’
It may happen, Cunda, that Wanderers who hold other views than ours mav declare: ‘Concerning the past Gotama the Recluse reveals an infinite knowledge and insight, but not so concerning the future, as to the what and the why of it.’
[If they were to say so], then those wanderers would fancy, like so many silly fools, that knowledge and insight concerning one kind of thing are to be revealed by knowledge and insight engaged upon another kind of thing.
Concerning the past, Cunda, the Tathāgata has cognition reminiscent of existences.
He can remember as far back as he desires.
And concerning the future there arises in him knowledge born of Enlightenment to this effect: This is the last birth; now is there no more coming to be.
If, O Cunda, the past mean what is not true, what is not fact, what does not redound to your good, concerning that the Tathāgata reveals nothing.
If the past mean what is true, what is fact, but what does not redound to your good, concerning that the Tathāgata reveals nothing.
If the past mean what is true, what is fact, and what does redound to your good, concerning that the Tathāgata knows well the time when to reveal it.
If, O Cunda, the future mean what is not true, what is not fact, what does not redound to your good, concerning that the Tathāgata reveals nothing.
If the future mean what is true, what is fact, but what does not redound to your good, concerning that the Tathāgata reveals nothing.
If the future mean what is true, what is fact, and what does redound to your good, concerning that the Tathāgata knows well the time when to reveal it.
If, O Cunda, the present mean what is not true, what is not fact, what does not redound to your good, concerning that the Tathāgata reveals nothing.
If the present mean what is true, what is fact, but what does not redound to your good, concerning that the Tathāgata reveals nothing.
If the present mean what is true, what is fact, and what does redound to your good, concerning that the Tathāgata knows well the time when to reveal it.
And so, O Cunda, concerning things past, future and present the Tathāgata is a prophet of the hour, a prophet of fact, a prophet of good, a prophet of the Norm, a prophet of the Discipline.
For this is he called Tathāgata.
Whatever, O Cunda, in this world with its devas and Māras and Brahmās, is by the folk thereof, gods or men, recluses or brahmins, seen, heard, felt, discerned, accomplished, striven for, or devised in mind,—all is understood by the Tathāgata.
For this is he called Tathāgata.
And all that in the interval between the night, O Cunda, wherein the Tathāgata was enlightened in the supreme enlightenment, and the night wherein he passed away without any condition of rebirth remaining,—all that, in that interval, he speaks in discourse or conversation or exposition:—all that is so, and not otherwise.
For that is he called Tathāgata.
As the Tathāgata says, O Cunda so he does; as he does, so he says.
Inasmuch as he goeth even according to his word, and his word is according to his going, for that is he called Tathāgata.
As to the world, O Cunda, with its Māras and its Brahmās, of all its folk, divine or human, recluses or brahmins, the Tathāgata hath surpassed them, hath not by them been surpassed, surveys them with sure vision, disposer of things.
For that is he called Tathāgata.
It may happen, Cunda, that wanderers teaching other doctrines than ours may say: ‘How is it, brother, does a Tathāgata exist after death?
Is that true, and is any other view absurd?’
They so asking are thus to be answered: ‘Brother, this hath not been revealed by the Exalted One.’
Or they may say: ‘Does a Tathāgata not exist after death?’
Is that true, and is any other view absurd?’
They so asking are thus to be answered: ‘Brother, this hath not been revealed by the Exalted One.’
Or they may say: ‘Does a Tathāgata neither exist nor not exist after death?’
Is that true, and is any other view absurd?’
They so asking are thus to be answered: ‘Brother, this hath not been revealed by the Exalted One.’
Or they may say: ‘Does he both exist and not exist after death?
Is that true, and is any other view absurd?’
They so asking are thus to be answered: ‘Brother, this hath not been revealed by the Exalted One.’
But it may happen, Cunda, that they may ask: ‘But why, brother, is this not revealed by Gotama the Recluse?’
They are thus to be answered: ‘Because, brother, it is not conducive to good, nor to true doctrine, nor to the fundamentals of religion, nor to unworldliness, nor to passionlessness, nor to tranquillity, nor to peace, nor to insight, nor to enlightenment, nor to Nibbāna.
Therefore is it not revealed by the Exalted One.’
It may happen, Cunda, that they may ask: ‘But what, brother, is revealed by Gotama the Recluse?’
They are thus to be addressed: -
‘This is Ill:—that, brother, is revealed by the Exalted One.
This is the Cause of Ill:—that, brother, is revealed by the Exalted One.
This is the Cessation of Ill:—that, brother, is revealed by the Exalted One.
This is the Path leading to the Cessation of Ill:—that, brother, is revealed by the Exalted One.’
It may happen, Cunda, that those wanderers may ask: ‘But why, brother, is just that revealed by the Exalted One?’
They so asking are to be thus addressed: -
‘Because that, brother, is fraught with Good, that belongs to the Norm, that is fundamental to religion, and conduces to absolute unworldliness, to passionlessness, to cessation [of ill], to peace, to insight, to enlightenment, to Nibbāna.
Therefore is it revealed by the Exalted One.’
Those comments on views concerning the beginning of things, Cunda, which have been revealed by me to you even as they should be revealed:—as they should not be revealed shall I thus reveal them unto you?
And those comments on views concerning the end or the beginnings of things, which have been revealed by me to you even as they should be revealed: as they should not be revealed shall I thus reveal them unto you?
There are, Cunda, some recluses and brahmins who believe and profess one or another of the following views; saying: ‘This alone is true, any other opinion is absurd’:
‘The soul and the world are eternal.’
‘The soul and the world are not eternal.’
‘The soul and the world are neither.’
‘The soul and the world are both.’
‘The soul and the world are self-made.’
‘The soul and the world are made by another.’
‘The soul and the world are both self-made and made by another.’
‘The soul and the world are neither, having come into being fortuitously.’
Or they believe and profess one or other of these same views concerning pleasure and pain.
Now, Cunda, to those recluses and brahmins who believe and profess any one of these views I go and say thus: ‘Is this so, friend?’
And if they reply: ‘Yes!
This alone is true, any other view is absurd’
I do not admit their claim.
Why is this?
Because persons hold different opinions on such questions.
Nor do I consider this [or that] view on a level with my own, let alone higher.
‘Tis I who am higher, that is with regard to exposition.
And thus I say regarding each of these opinions aforesaid.
Concerning all these comments concerning the beginning of things, I have revealed to you what should be revealed; shall I then reveal to you what should not be revealed?
And what, Cunda, are the comments concerning the things after this life, both which should be revealed and which should not be revealed?
There are, Cunda, certain recluses and brahmins who believe and profess one or other of the following views and say regarding it: ‘That alone is true, any other view is absurd’:
‘The soul becomes after death of visible shape free from infirmity.’
‘It becomes invisible.’
‘It becomes both visible and invisible.’
‘It becomes neither visible nor invisible.’
‘It becomes conscious.’
‘It becomes unconscious.’
‘It becomes both.’
‘It becomes neither.’
‘The soul is abolished, destroyed, does not come to be after death.’
Now, Cunda, to those recluses and brahmins who believe and profess any one of these views, I go and say, as before: -
‘Is this even as you say, friend?’
And if they reply: ‘Yes!
This alone is true, any other view is absurd,’
I do not admit that.
And why is this?
Because persons hold different views on such questions.
Nor do I consider this or that view on a level with mine own, let alone higher.
‘Tis I who am higher, that is with regard to exposition.
And thus I say regarding all those opinions aforesaid.
Concerning all these comments concerning the things after this life, I have revealed to you what should be revealed; shall I then reveal to you what should not be revealed?
For the expungeing of all these comments on opinions concerning the beginning and the hereafter of things, and for getting beyond them, Cunda, I have taught and laid down the Four Onsets of Mindfulness.
What are the Four?
Herein, let a brother, as to the body, continue so to look upon the body that he remains ardent, self-possessed and mindful, that he may overcome both the hankering and the dejection common in the world.
Herein, let a brother, as to feeling, continue so to look upon the feelings that he remains ardent, self-possessed and mindful, that he may overcome both the hankering and the dejection common in the world.
Herein, let a brother, as to thought, continue so to look upon the thoughts that he remains ardent, self-possessed and mindful, that he may overcome both the hankering and the dejection common in the world.
Herein, let a brother, as to ideas, continue so to look upon ideas that he remains ardent, self-possessed and mindful, that he may overcome both the hankering and the dejection common in the world.
These have I taught and laid down for the expungeing of and the getting beyond all those comments on opinions.
Now at that time the venerable Upavāna was standing behind the Exalted One fanning him.
Thereupon he said to the Exalted One: Wonderfully, lord, and marvellously delectable is this exposition of the Norm; exceeding great is the charm thereof.
How, lord, is this exposition named?
“Well then, Upavāna, bear it in mind as the Delectable Discourse.
Thus spake the Exalted One.
And pleased and delighted was the venerable Upavāna at his words.
Here ends the Pāsādika Suttanta.
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích-ca) trong vườn xoài của một gia đình Thích-ca tên là Vedhannà.
SC 2Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta (Ni-kiền tử) vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng: “Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Ðiều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được.” Hình như các đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigaṇṭha Nātaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các vị Nigaṇṭha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 3PTS cs 2 Rồi Sa-di Cunda (Thuần-đà), sau khi an cư mùa mưa ở Pàvà đến thăm tôn giả Ānanda ở Sāmāgāma, sau khi đến, đảnh lễ tôn giả Ānanda (A-nan) và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Sa-di Cunda bạch tôn giả Ānanda
SC 4—Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pàvà sau khi vị này tạ thế, các Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … Pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 5Khi nghe nói vậy, tôn giả Ānanda nói với Sa-di Cunda
SC 6—Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến xong, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.
- Bạch Tôn giả, vâng!
SC 7Sa-di Cunda vâng lời tôn giả Ānanda.
SC 8PTS cs 3 Rồi tôn giả Ānanda cùng với Sa-di Cunda, đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 9—Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda có nói: “Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pàvà. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.”
SC 10- Này Cunda, như vậy ở đây pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 11PTS cs 4 Này Cunda, ở đây có vị đạo sư không phải là Chánh Ðẳng Giác, có pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và người đệ tử trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, sống vượt ra ngoài pháp. Người đệ tử ấy cần được nói như sau: “Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi. Thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Ðạo sư của Ngươi không phải là vị Chánh Ðẳng Giác. Pháp của Ngươi đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Và Ngươi trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, vượt ra ngoài pháp. Này Cunda, như vậy ở đây, vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, nhưng ở đây đệ tử đáng tán thán. Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, nên nói như sau:” Này Ðại đức, dầu Ðại đức thực hành đúng như pháp vị đạo sư đã dạy và trình bày, ai có suy tầm, ai có bị suy tầm, ai có suy tầm rồi như thực thi hành, tất cả đều không có phước báo. Vì sao vậy? Vì pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.”
SC 12PTS cs 5 Này Cunda, ở đây, vị đạo sư không là vị Chánh Ðẳng Giác, và pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này, sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống theo chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Người này nên được nói như sau: “Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi không là vị Chánh Ðẳng Giác và pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, những người trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống theo chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp”. Này Cunda, ở đây vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, ở đây vị đệ tử cũng đáng quở trách. Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, có ai, nên nói như sau: “Thật vậy, Ðại đức thành tựu theo chánh hạnh, tinh tấn trong chánh hạnh, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn hơn nữa, tất cả đều không được phước đức.” Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 13PTS cs 6 Này Cunda, ở đây vị đạo sư là vị Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo giảng và trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Vị đệ tử trong pháp này sống không thành tựu pháp và tùy pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp. Vị đệ tử ấy cần phải được nói: “Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng Ngươi trong pháp này sống không thành tựu pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp.” Này Cunda, ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử đáng quở trách. Nếu có ai, hãy nói với vị đệ tử ấy như sau: “Ðại đức hãy thực hành đúng như pháp do vị đạo sư của Ðại đức trình bày và tuyên thuyết. Ai có điều tra, ai có bị điều tra, ai có bị điều tra rồi như thực thi hành, tất cả đều được phước báo”. Vì sao vậy? Này Cunda, pháp luật này khéo thuyết khéo trình bày là như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 14PTS cs 7 Này Cunda ở đây vị đạo sư là Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Cháng Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy nói như sau: “Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi, thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị A la hán Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và Ngươi trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp”. Này Cunda, như vậy ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử cũng đáng được tán thán. Này Cunda, nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy như sau: “Thật vậy, Ðại đức thành tựu như pháp, tinh tấn như pháp, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn thực hành, tất cả đều được nhiều công đức”. Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp luật được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 15PTS cs 8 Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử chưa được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn chưa được tỏ lộ cho các vị này, chưa được trình bày rõ ràng, với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, chưa được trở thành diệu dụng, chưa được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư viên tịch. Này Cunda, đối với vị đạo sư như vậy, nếu viên tịch, các đệ tử sẽ ưu tư rất nhiều. Vì sao vậy? Vì đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng chúng ta chưa được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn chưa được tỏ lộ cho chúng ta với tất cả thứ bậc, vị trí liên hệ, chưa được trở thành diệu dụng, chưa được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị Ðạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử có sự ưu tư.
SC 16PTS cs 9 Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho các vị ấy với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của những vị ấy viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư. Vì cớ sao? Vị đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Còn chúng ta được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho chúng ta biết với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị Ðạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư.
SC 17PTS cs 10 Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, nếu không có một vị đạo sư là một vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, một phạm hạnh như vậy được xem là không viên mãn, trong trường hợp như vậy. Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, và nếu có vị đạo sư là một vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, một phạm hạnh như vậy được xem là viên mãn, trong trường hợp như vậy.
SC 18PTS cs 11 Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, và có vị đạo sư là vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, nhưng không có các vị Thượng tọa Tỷ kheo, những vị đệ tử là những vị sáng suốt, tự điều phục, vô úy, đa văn, đã đạt đến sự an ổn, có thể thuyết diệu pháp, với giáo lý ngoại đạo được khởi lên có thể khéo nhiếp phục với giáo pháp của mình, có thể thuyết diệu pháp bất tư nghì; như vậy phạm hạnh này không thể viên mãn bởi chi tiết này.
SC 19PTS cs 12 Này Cunda, khi nào phạm hạnh được đầy đủ về những phương diện này, vị đạo sư là vị Thượng tọa, có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, và những vị Thượng tọa Tỷ kheo, những vị đệ tử … nếu không có các vị Trung lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … Có các vị Trung lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Hạ lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … có các Hạ lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Trưởng lão Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Trung lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Hạ lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … có các vị Hạ lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … nhưng nếu không có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc … có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc … nhưng nếu không có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … có những Nư cư sĩ đệ tử, những vị tại gia mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … nhưng nếu không có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … phạm hạnh như vậy nếu không được thành công, hưng thịnh, phát triển và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa các người, nhưng không đạt được danh xưng và lợi dưỡng một cách tối thắng, phạm hạnh như vậy không được viên mãn về phương diện này.
SC 20PTS cs 13 Này Cunda, khi nào phạm hạnh được đầy đủ với những phương diện này, vị đạo sư là Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, và những vị Thượng tọa là những bậc Tỷ kheo, những vị đệ tử sáng suốt, tự điều phục … thuyết pháp diệu dụng, có Trung lạp Tỷ kheo đệ tử, có Hạ lạp Tỷ kheo đệ tử, có Trưởng lão Ni đệ tử, có Trung lạp Ni đệ tử, có Hạ lạp Ni đệ tử, có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh, có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc, có Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh, có những vị Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc; phạm hạnh như vậy được thành công, hưng thịnh, phát triển, và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa các người, đạt được danh xưng và lợi dưỡng một cách tối thắng, phạm hạnh như vậy được viên mãn về phương diện này.
SC 21PTS cs 14 Này Cunda, nay Ta hiện tại là bậc Ðạo sư xuất hiện ở đời, là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên bố, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác trình bày, và các vị đệ tử của Ta tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người. Này Cunda, nay Ta là vị Ðạo sư Trưởng lão, có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngay, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành.
SC 22PTS cs 15 Này Cunda, nay Ta có những vị Thượng tọa Tỷ kheo đệ tử sáng suốt, tự biết điều phục, vô úy, đa văn, đã đạt đến sự an ổn, có thể thuyết diệu pháp, đối với giáo lý ngoại đạo được khởi lên, có thể khéo thuyết phục với giáo pháp của mình, có thể thuyết diệu pháp bất khả tư nghì. Này Cunda, Ta lại có những Trung lạp Tỷ kheo sáng suốt. Này Cunda, nay Ta có những vị Hạ lạp Tỷ kheo đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Trưởng lão Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Trung lạp Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Hạ lạp Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Nam cư sĩ, là những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh. Này Cunda, nay Ta có những vị Nam cư sĩ, là những vị tại gia mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc. Này Cunda, nay Ta có những vị Nữ cư sĩ, là những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh. Này Cunda, nay Ta có những vị Nữ cư sĩ là những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … Này Cunda, nay Phạm hạnh của Ta được thành công, hưng thịnh, phát triển, và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa mọi người.
SC 23PTS cs 16 Này Cunda, đối với tất cả những vị đạo sĩ nay xuất hiện ở đời; này Cunda, Ta không thấy một vị đạo sư nào khác có thể bằng Ta về phương diện lợi dưỡng và danh xưng tối thượng. Này Cunda, đối với tất cả các đoàn thể, các hội chúng nay xuất hiện ở đời; này Cunda, Ta không thấy một đoàn thể nào khác có thể bằng đoàn thể Tỷ-kheo về phương diện lợi dưỡng và danh xưng tối thượng. Nếu có ai, khi tả một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, vị ấy nếu tuyên bố đúng đắn sẽ tuyên bố như sau: “Thành tựu hết thảy tướng … phạm hạnh được khéo tuyên bố”. Này Cunda, Uddaka con của Rāma thường nói: “Thấy mà không thấy”. Thấy cái gì mà không thấy? Với một con dao sắc bén, chỉ thấy lưỡi dao không thấy khía cạnh sắc bén của dao. Này Cunda, đấy là nghĩa của câu: “Thấy mà không thấy”. Này Cunda, ở đây Uddaka con của Rāma đề cập đến một vật đê tiện, hạ liệt, thuộc về phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích, nói về con dao. Này Cunda, nếu nói đúng đắn câu “Thấy mà không thấy”, thời phải nói như sau: “Thấy mà không thấy”. Vị ấy thấy cái gì mà không thấy? Một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, đầy đủ hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày. Chính vị ấy thấy phạm hạnh này. Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là “Thấy mà không thấy”. Này Cunda, nếu có ai khi tả một phạm hạnh thành tựu hết thảy tướng … phạm hạnh được khéo tuyên bố, vị ấy sẽ tuyên bố đúng đắn như sau: “Phạm hạnh này thành tựu hết thảy tướng, cụ túc hết thảy tướng, không thiếu thốn, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày”.
SC 24PTS cs 17 Do vậy, này Cunda, những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người. Này Cunda, thế nào là những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người? Những pháp ấy là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Tám Thánh đạo. Này Cunda, những pháp ấy do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc của muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người.
SC 25PTS cs 18 Này Cunda, các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng “Vị Ðại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:
SC 26“Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.
SC 27PTS cs 19 Lại nữa này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức ấy nắm nghĩa sai lạc nhưng hành văn đúng đắn”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không thán thán, không bác bỏ, các ngươi nên nói với vị ấy: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích một cách cẩn thận ý nghĩa đúng đắn cho vị ấy.
SC 28PTS cs 20 Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức này nắm nghĩa đúng đắn, nhưng hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các ngươi phải giải thích một cách cẩn thận cách hành văn cho vị ấy.
SC 29PTS cs 21 Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng, nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức này nắm nghĩa đúng đắn và hành văn đúng đắn”, các Ngươi nên tán đồng và tán thán vị ấy với câu: “Thật là tốt đẹp”, các Ngươi phải nói với vị ấy” “Thật là tốt đẹp”, các Ngươi phải nói với vị ấy: “Này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi, này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi thấy một vị đồng phạm hạnh như Hiền giả, tinh thông nghĩa lý như vậy, tinh thông hành văn như vậy”.
SC 30PTS cs 22 Này Cunda Ta không thuyết giảng chỉ để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này Cunda, Ta không thuyết pháp, chỉ để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà thôi. Này Cunda, Ta thuyết pháp vừa để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại mà cũng để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai nữa. Do vậy, này Cunda, tấm y mà Ta cho phép các Ngươi mặc, như vậy vừa đủ cho các Ngươi ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của các loài ruồi muỗi, của gió, mặt trời và các loài rắn, và các che dấu sự hổ thẹn. Các món ăn khất thực mà Ta cho phép các Ngươi dùng, như vậy vừa đủ để nuôi dưỡng thân thể, giúp thân thể sống còn, tránh khỏi nguy hại và giúp đời sống phạm hạnh với hy vọng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Nhờ vậy đời sống của ta mới khỏi bị lầm lỗi và ta sống an lạc.” Nhà cửa nào mà Ta cho phép các ngươi an trú, như vậy vừa đủ cho các Ngươi ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, mặt trời và các loài rắn, chỉ với mục đích tránh thoát sự nguy hiểm của thời tiết, và an hưởng đời sống tịnh cư. Các dược phẩm và thuốc trị bịnh mà Ta cho phép các Ngươi dùng, như vậy vừa đủ để ngăn chận các cảm thọ đau ốm khởi lên và để gìn giữ sức khỏe.
SC 31PTS cs 23 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra, các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các Sa-môn Thích tử sống đam mê hỷ lạc”. Này Cunda, nếu được nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo phải được trả lời như vậy: “Này Hiền giả, thế nào là đam mê hỷ lạc? Ðam mê hỷ lạc có nhiều loại, có nhiều cách”. Này Cunda, bốn loại đam mê hỷ lạc này là thấp kém, hạ liệt, thuộc phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không hướng đến yểm ly, vô tham, tich diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 32Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây có người ngu si, sau khi sát sanh, tự mình sung sướng hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa, này Cunda, ở đây có người sau khi lấy của không cho, tự mình sung sướng, hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa, này Cunda, ở đây có người sau khi nói láo, tự mình sung sướng, hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, ở đây có người say đắm, đam mê sống vây quanh với năm món dục lạc, đó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc này là thấp kém, hạ liệt, thuộc phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không hướng đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 33PTS cs 24 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra, các ngoại đạo có thể hỏi: “Các Sa-môn Thích tử có phải sống đam mê bốn loại hỷ lạc này không?” Họ cần phải được trả lời: “Chớ có nói như vậy. Các ông nói như vậy là nói không đúng đắn. Nói như vậy là các ông xuyên tạc, không đúng sự thật, không thực có”. Này Cunda, có bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 34Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ðó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba … Ðó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ … chứng và trú Thiền thứ tư … Ðó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các vị Sa-môn Thích tử đang sống đam mê bốn loại hỷ lạc này”. Họ cần phải được trả lời: “Nói như vậy là phải; các ông nói như vậy là nói đúng đắn. Nói như vậy là các ông không xuyên tạc, đúng sự thật, và thực có”.
SC 35PTS cs 25 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê theo bốn loại hỷ lạc ấy có thể mong đợi kết quả gì, lợi ích gì?” Ðược nói vậy, phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê bốn loại hỷ lạc ấy, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn sự lợi ích.
SC 36Thế nào là bốn? Này Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, được nhập vào dòng Thánh, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ. Ðó là kết quả thứ nhất. Lại nữa này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, làm muội lược tham, sân, si, chứng bậc Nhất lai, chỉ còn trở lại đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau. Ðó là kết quả thứ hai, lợi ích thứ hai. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh ở tại chỗ ấy mà nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Như vậy là kết quả thứ ba, lợi ích thứ ba. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ các lậu hoặc, tự mình chứng tri, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Như vậy là kết quả thứ tư. Này Hiền giả, vị nào sống đam mê bốn loại hỷ lạc này, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn lợi ích như vậy”.
SC 37PTS cs 26 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các Sa-môn Thích tử sống không giữ vững lập trường”. Này Cunda, các vị du sĩ ngoại đạo nói vậy cần phải được trả lời như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời. Này Hiền giả, giống như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, chân cột được khéo chôn sâu vào đất, không lắc qua lại, không có rung động. Cũng vậy này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời. Này Hiền giả, giống như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, chân cột được khéo chôn sâu vào đất, không lắc qua lại, không có rung động. Cũng vậy này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời.
SC 38Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã diệt trừ các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, các việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc sau đây: Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc, không thể cố ý tước đoạt sanh mạng của loài hữu tình; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể lấy của không cho, tức là ăn trộm; vị Tỷ kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể hành dâm; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc, không thể biết mà nói láo; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể cất chứa tiền của để hưởng thọ dục lạc, như khi còn tại gia; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành tham; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành sân; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành si; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành theo sợ hãi. Này Hiền giả, một vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đã diệt tận các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, các việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc như vậy”.
SC 39PTS cs 27 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: “Ðối với quá khứ, Sa-môn Gotama có tri kiến siêu việt. Nhưng đối với tương lai, Sa-môn Gotama không có tri kiến siêu việt; như sự việc xảy ra như thế nào và vì sao lại xảy ra như vậy?” Như vậy, các vị du sĩ ngoại đạo này chủ trương rằng tri kiến về vấn đề này có thể được trình bày nêu rõ bởi tri kiến một vấn đề khác, như những kẻ ngu si, không thông minh khác. Này Cunda, về vấn đề quá khứ, Như Lai có thể nhớ đến đời sống quá khứ. Ngài muốn như thế nào, Ngài có thể nhớ xa được như vậy. Về vấn đề vị lai, Như Lai có trí do tuệ sanh: “Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn đời sống nào khác nữa”.
SC 40PTS cs 28 Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy.
SC 41Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là hy vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy một cách vắn tắt.
SC 42Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại và chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy. Như vậy, này Cunda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị nói phải thời nói chơn chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật. Do vậy mới gọi là Như Lai.
SC 43PTS cs 29 Này Cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được phân biệt, được đạt đến, được tìm cầu, được suy đạt với ý, tất cả đều được Như Lai biết rõ. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác và đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn giới, trong thời gian ấy, những gì Như Lai nói trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy, chớ không gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, Như Lai nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy nên được gọi là Như Lai. Ðối với thế giới với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc Toàn Thắng, không ai có thể thắng nổi, bậc Toàn kiến, bậc Tự Tại.
SC 44PTS cs 30 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm!” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, có phải không? Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm!” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết … Như lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm!”.
SC 45PTS cs 31 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, vì sao Sa môn Gotama lại không nói?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, vì không liên hệ đến lợi ích, không liên hệ đến Pháp, không liên hệ đến căn bản phạm hạnh, không hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy Thế Tôn không trả lời.”
SC 46PTS cs 32 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, Sa môn Gotama nói điều gì?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Ðây là Khổ, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là Khổ tập, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là Khổ diệt, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói.”
SC 47PTS cs 33 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn lại nói vậy?” Này Cunda, được nói như vậy, Ngươi phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, vì liên hệ đến lợi ích, liên hệ đến Pháp, liên hệ đến căn bản phạm hạnh, vì nhất định hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy, Thế Tôn mới nói.”
SC 48PTS cs 34 Này Cunda, mọi biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi? Này Cunda, mọi biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 49Này Cunda, thế nào là những biện luận về tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi, và những biện luận không đáng nói cho các Ngươi? Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Bản ngã và thế giới là thường còn, như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm”. Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 50“Bản ngã và thế giới là không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do mình tạo ra và do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là không do mình tự tạo ra và cũng không phải không do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là tự nhiên sanh, không do mình tự tạo ra, không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra sai lầm.
SC 51“Lạc, khổ là thường còn …
“Lạc, khổ là vô thường …
“Lạc, khổ là thường còn và vô thường …
Lạc, khổ là không thường còn và không vô thường
“Lạc, khổ là do tự mình tạo ra …
“Lạc, khổ là do người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là do tự nhiên sanh, không do mình tự tạo ra, không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”.
SC 52PTS cs 35 Này Cunda, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau: “Bản ngã và thế giới là thường còn, như vậy là đúng sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả có phải Hiền giả nói rằng: “Bản ngã và thế giới là thường còn” không?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây Ta cao hơn về thượng trí.
SC 53PTS cs 36 Này Cunda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau:
SC 54“Bản ngã và thế giới là thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra … ”
“Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra.
“Bản ngã và thế giới do tự nhiên sanh, không do mình tự tạo, không do người khác tạo ra …
SC 55“Lạc, khổ là thường còn …
“Lạc, khổ là vô thường …
“Lạc, khổ là thường còn và vô thường …
“Lạc, khổ không thường còn và không vô thường …
“Lạc, khổ là tự mình tạo ra …
“Lạc, khổ là tự người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là tự mình tạo ra và tự người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là tự nhiên sanh, không tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”.
SC 56Ta đến những vị ấy và nói: Này Hiền giả, có phải Hiền giả nói rằng: “Lạc, khổ là tự nhiên sanh, không tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Có một số hữu tình có những ý tưởng sai khác. Này Cunda Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây Ta cao hơn về thượng trí. Này Cunda, những biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này, biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 57PTS cs 37 Này Cunda, thế nào là những biện luận về tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi; và những biện luận không đáng nói cho các Ngươi?
SC 58Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Bản ngã là có sắc, không bệnh, sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”.
SC 59Lại nữa này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 60“Bản ngã là vô sắc …
“Bản ngã là có sắc và vô sắc …
“Bản ngã là không có sắc và không vô sắc …
“Bản ngã là có tưởng …
“Bản ngã là vô tưởng …
“Bản ngã là có tưởng và vô tưởng …
“Bản ngã là không có tưởng và không vô tưởng …
“Bản ngã là đoạn diệt, biến hoại, sau khi chết không có tồn tại. Như vậy là đúng sự thật ngoài ra là sai lầm”.
SC 61PTS cs 38 Này Cunda, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau: “Bản ngã là có sắc, không bệnh sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả có phải Hiền giả có nói: “Bản ngã là có sắc, không có bệnh sau khi chết?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Cunda, vì có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Này Cunda, Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây, Ta cao hơn về thượng trí.
SC 62PTS cs 39 Này Cunda, có những Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 63“Bản ngã là có sắc …
“Bản ngã là vô sắc …
“Bản ngã là có sắc và vô sắc …
“Bản ngã là không có sắc và không vô sắc …
“Bản ngã là có tưởng …
“Bản ngã là vô tưởng …
“Bản ngã là có tưởng và vô tưởng …
“Bản ngã là không có tưởng và không vô tưởng …
“Bản ngã là đoạn diệt, biến hoại, sau khi chết không có tồn tại. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”.
SC 64Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả, có phải Hiền giả nói rằng: “Bản ngã là đoạn diệt biến hoại, sau khi chết không có tồn tại?” Này Cunda, nếu những vị ấy nói: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Vì có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Này Cunda, Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây, Ta cao hơn về thượng trí. Này Cunda, những biện luận về những tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 65PTS cs 40 Này Cunda, với mục đích đoạn trừ và vượt qua những biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này và các biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai này, mà bốn pháp Niệm xứ được ta tuyên thuyết, trình bày. Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích nhiếp phục tham, sân ở đời, sống quán thọ trên các cảm thọ … trong các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích nhiệp phục tham ưu ở đời. Này Cunda, với mục đích đoạn trừ và vượt qua các biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này và các biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai này mà bốn Niệm xứ được Ta truyền thuyết trình bày.
SC 66PTS cs 41 Lúc bấy giờ, Tôn giả Upavāna đang đứng sau lưng hầu quạt Thế Tôn. Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn
SC 67—Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là tuyệt đối thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này tên là gì?
SC 68- Này Upavāna, pháp thoại này là Thanh tịnh (Pàsàdikà), hãy như vậy mà phụng trì.
SC 69Thế Tôn thuyết dạy như vậy. Tôn giả Upavāna hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati vedhaññā nāma sakyā, tesaṁ ambavane pāsāde.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato hoti.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti:
“na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti.
Vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati.
Yepi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā, tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā, yathā taṁ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.
Atha kho cundo samaṇuddeso pāvāyaṁ vassaṁvuṭṭho yena sāmagāmo, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando cundaṁ samaṇuddesaṁ etadavoca:
“atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya.
Āyāmāvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā etamatthaṁ bhagavato ārocessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha, ‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato,
tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe’”ti.
1. Asammāsambuddhappaveditadhammavinaya
“Evaṁ hetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
Idha, cunda, satthā ca hoti asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharati na sāmīcippaṭipanno na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, lābhā, tassa te suladdhaṁ,
satthā ca te asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharasi, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha gārayho, dhammopi tattha gārayho, sāvako ca tattha evaṁ pāsaṁso.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘etāyasmā tathā paṭipajjatu, yathā te satthārā dhammo desito paññatto’ti.
Yo ca samādapeti, yañca samādapeti, yo ca samādapito tathattāya paṭipajjati. Sabbe te bahuṁ apuññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evaṁ hetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
Idha pana, cunda, satthā ca hoti asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, satthā ca te asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharasi sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha gārayho, dhammopi tattha gārayho, sāvakopi tattha evaṁ gārayho.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘addhāyasmā ñāyappaṭipanno ñāyamārādhessatī’ti.
Yo ca pasaṁsati, yañca pasaṁsati, yo ca pasaṁsito bhiyyoso mattāya vīriyaṁ ārabhati. Sabbe te bahuṁ apuññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
2. Sammāsambuddhappaveditadhammavinaya
Idha pana, cunda, satthā ca hoti sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharati, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, satthā ca te sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharasi, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha pāsaṁso, dhammopi tattha pāsaṁso, sāvako ca tattha evaṁ gārayho.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘etāyasmā tathā paṭipajjatu yathā te satthārā dhammo desito paññatto’ti.
Yo ca samādapeti, yañca samādapeti, yo ca samādapito tathattāya paṭipajjati. Sabbe te bahuṁ puññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, cunda, hoti svākkhāte dhammavinaye suppavedite niyyānike upasamasaṁvattanike sammāsambuddhappavedite.
Idha pana, cunda, satthā ca hoti sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito,
sāvako ca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattati.
So evamassa vacanīyo:
‘tassa te, āvuso, lābhā, tassa te suladdhaṁ,
satthā ca te sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Tvañca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharasi sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattasī’ti.
Iti kho, cunda, satthāpi tattha pāsaṁso, dhammopi tattha pāsaṁso, sāvakopi tattha evaṁ pāsaṁso.
Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya:
‘addhāyasmā ñāyappaṭipanno ñāyamārādhessatī’ti.
Yo ca pasaṁsati, yañca pasaṁsati, yo ca pasaṁsito bhiyyoso mattāya vīriyaṁ ārabhati. Sabbe te bahuṁ puññaṁ pasavanti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, cunda, hoti svākkhāte dhammavinaye suppavedite niyyānike upasamasaṁvattanike sammāsambuddhappavedite.
3. Sāvakānutappasatthu
Idha pana, cunda, satthā ca loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito,
aviññāpitatthā cassa honti sāvakā saddhamme, na ca tesaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha nesaṁ satthuno antaradhānaṁ hoti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato anutappo hoti.
Taṁ kissa hetu?
‘Satthā ca no loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito, aviññāpitatthā camha saddhamme, na ca no kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha no satthuno antaradhānaṁ hotī’ti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato anutappo hoti.
4. Sāvakānanutappasatthu
Idha pana, cunda, satthā ca loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho. Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Viññāpitatthā cassa honti sāvakā saddhamme, kevalañca tesaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha nesaṁ satthuno antaradhānaṁ hoti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato ananutappo hoti.
Taṁ kissa hetu?
‘Satthā ca no loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho.
Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Viññāpitatthā camha saddhamme, kevalañca no paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Atha no satthuno antaradhānaṁ hotī’ti.
Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato ananutappo hoti.
5. Brahmacariyaaparipūrādikathā
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, no ca kho satthā hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, no ca khvassa therā bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
No ca khvassa majjhimā bhikkhū sāvakā honti …pe…
majjhimā cassa bhikkhū sāvakā honti, no ca khvassa navā bhikkhū sāvakā honti …pe…
navā cassa bhikkhū sāvakā honti, no ca khvassa therā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe…
therā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa majjhimā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe…
majjhimā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa navā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe…
navā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa upāsakā sāvakā honti gihī odātavasanā brahmacārino …pe…
upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā brahmacārino, no ca khvassa upāsakā sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino …pe…
upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino, no ca khvassa upāsikā sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …pe…
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo, no ca khvassa upāsikā sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …pe…
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo, no ca khvassa brahmacariyaṁ hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ …pe…
brahmacariyañcassa hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ, no ca kho lābhaggayasaggappattaṁ.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Majjhimā cassa bhikkhū sāvakā honti …
navā cassa bhikkhū sāvakā honti …
therā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti …
majjhimā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti …
navā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti …
upāsakā cassa sāvakā honti … gihī odātavasanā brahmacārino.
Upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino …
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …
upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …
brahmacariyañcassa hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ, lābhaggappattañca yasaggappattañca.
Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
Ahaṁ kho pana, cunda, etarahi satthā loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho.
Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito.
Viññāpitatthā ca me sāvakā saddhamme, kevalañca tesaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Ahaṁ kho pana, cunda, etarahi satthā thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
Santi kho pana me, cunda, etarahi therā bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā.
Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ.
Santi kho pana me, cunda, etarahi majjhimā bhikkhū sāvakā …
santi kho pana me, cunda, etarahi navā bhikkhū sāvakā …
santi kho pana me, cunda, etarahi therā bhikkhuniyo sāvikā …
santi kho pana me, cunda, etarahi majjhimā bhikkhuniyo sāvikā …
santi kho pana me, cunda, etarahi navā bhikkhuniyo sāvikā …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsakā sāvakā gihī odātavasanā brahmacārino …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsakā sāvakā gihī odātavasanā kāmabhogino …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsikā sāvikā gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …
santi kho pana me, cunda, etarahi upāsikā sāvikā gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …
etarahi kho pana me, cunda, brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Yāvatā kho, cunda, etarahi satthāro loke uppannā, nāhaṁ, cunda, aññaṁ ekasatthārampi samanupassāmi evaṁlābhaggayasaggappattaṁ yatharivāhaṁ.
Yāvatā kho pana, cunda, etarahi saṅgho vā gaṇo vā loke uppanno;
nāhaṁ, cunda, aññaṁ ekasaṅghampi samanupassāmi evaṁlābhaggayasaggappattaṁ yatharivāyaṁ, cunda, bhikkhusaṅgho.
Yaṁ kho taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti.
Idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ …pe… suppakāsitan’ti.
Udako sudaṁ, cunda, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘passaṁ na passatī’ti.
Kiñca passaṁ na passatīti?
Khurassa sādhunisitassa talamassa passati, dhārañca khvassa na passati.
Idaṁ vuccati:
‘passaṁ na passatī’ti.
Yaṁ kho panetaṁ, cunda, udakena rāmaputtena bhāsitaṁ hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ khurameva sandhāya.
Yañca taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya:
‘passaṁ na passatī’ti, idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘passaṁ na passatī’ti.
Kiñca passaṁ na passatīti?
Evaṁ sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitanti, iti hetaṁ passati.
Idamettha apakaḍḍheyya, evaṁ taṁ parisuddhataraṁ assāti, iti hetaṁ na passati.
Idamettha upakaḍḍheyya, evaṁ taṁ paripūraṁ assāti, iti hetaṁ na passati.
Idaṁ vuccati, cunda:
‘passaṁ na passatī’ti.
Yaṁ kho taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ …pe…
brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti.
Idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti.
6. Saṅgāyitabbadhamma
Tasmātiha, cunda, ye vo mayā dhammā abhiññā desitā, tattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katame ca te, cunda, dhammā mayā abhiññā desitā, yattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ?
Seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Ime kho te, cunda, dhammā mayā abhiññā desitā.
Yattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
7. Saññāpetabbavidhi
Tesañca vo, cunda, samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññataro sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañceva micchā gaṇhāti, byañjanāni ca micchā ropetī’ti.
Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo:
‘imassa nu kho, āvuso, atthassa imāni vā byañjanāni etāni vā byañjanāni katamāni opāyikatarāni, imesañca byañjanānaṁ ayaṁ vā attho eso vā attho katamo opāyikataro’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘imassa kho, āvuso, atthassa imāneva byañjanāni opāyikatarāni, yā ceva etāni; imesañca byañjanānaṁ ayameva attho opāyikataro, yā ceva eso’ti.
So neva ussādetabbo na apasādetabbo, anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tassa ca atthassa tesañca byañjanānaṁ nisantiyā.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañhi kho micchā gaṇhāti byañjanāni sammā ropetī’ti.
Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo:
‘imesaṁ nu kho, āvuso, byañjanānaṁ ayaṁ vā attho eso vā attho katamo opāyikataro’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘imesaṁ kho, āvuso, byañjanānaṁ ayameva attho opāyikataro, yā ceva eso’ti.
So neva ussādetabbo na apasādetabbo, anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tasseva atthassa nisantiyā.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañhi kho sammā gaṇhāti byañjanāni micchā ropetī’ti.
Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ; anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo:
‘imassa nu kho, āvuso, atthassa imāni vā byañjanāni etāni vā byañjanāni katamāni opāyikatarānī’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘imassa kho, āvuso, atthassa imāneva byañjanāni opayikatarāni, yā ceva etānī’ti.
So neva ussādetabbo na apasādetabbo; anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tesaññeva byañjanānaṁ nisantiyā.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
‘ayaṁ kho āyasmā atthañceva sammā gaṇhāti byañjanāni ca sammā ropetī’ti.
Tassa ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ anumoditabbaṁ;
tassa ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā so evamassa vacanīyo:
‘lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso,
ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma evaṁ atthupetaṁ byañjanupetan’ti.
8. Paccayānuññātakāraṇa
Na vo ahaṁ, cunda, diṭṭhadhammikānaṁyeva āsavānaṁ saṁvarāya dhammaṁ desemi.
Na panāhaṁ, cunda, samparāyikānaṁyeva āsavānaṁ paṭighātāya dhammaṁ desemi.
Diṭṭhadhammikānaṁ cevāhaṁ, cunda, āsavānaṁ saṁvarāya dhammaṁ desemi;
samparāyikānañca āsavānaṁ paṭighātāya.
Tasmātiha, cunda, yaṁ vo mayā cīvaraṁ anuññātaṁ, alaṁ vo taṁ
yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīnapaṭicchādanatthaṁ.
Yo vo mayā piṇḍapāto anuññāto, alaṁ vo so
yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca.
Yaṁ vo mayā senāsanaṁ anuññātaṁ, alaṁ vo taṁ
yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva utuparissayavinodanapaṭisallānārāmatthaṁ.
Yo vo mayā gilānapaccayabhesajjaparikkhāro anuññāto, alaṁ vo so
yāvadeva uppannānaṁ veyyābādhikānaṁ vedanānaṁ paṭighātāya abyāpajjaparamatāya.
9. Sukhallikānuyoga
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘sukhallikānuyogamanuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘katamo so, āvuso, sukhallikānuyogo?
Sukhallikānuyogā hi bahū anekavihitā nānappakārakā’ti.
Cattārome, cunda, sukhallikānuyogā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Idha, cunda, ekacco bālo pāṇe vadhitvā vadhitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
Ayaṁ paṭhamo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco adinnaṁ ādiyitvā ādiyitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
Ayaṁ dutiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco musā bhaṇitvā bhaṇitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
Ayaṁ tatiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Ayaṁ catuttho sukhallikānuyogo.
Ime kho, cunda, cattāro sukhallikānuyogā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime cattāro sukhallikānuyoge anuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Te vo ‘mā hevaṁ’ tissu vacanīyā.
Na te vo sammā vadamānā vadeyyuṁ, abbhācikkheyyuṁ asatā abhūtena.
Cattārome, cunda, sukhallikānuyogā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Idha, cunda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ paṭhamo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ dutiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ tatiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ catuttho sukhallikānuyogo.
Ime kho, cunda, cattāro sukhallikānuyogā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime cattāro sukhallikānuyoge anuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Te vo ‘evaṁ’ tissu vacanīyā.
Sammā te vo vadamānā vadeyyuṁ, na te vo abbhācikkheyyuṁ asatā abhūtena.
10. Sukhallikānuyogānisaṁsa
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘ime panāvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ kati phalāni katānisaṁsā pāṭikaṅkhā’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘ime kho, āvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ cattāri phalāni cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā.
Katame cattāro?
Idhāvuso, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Idaṁ paṭhamaṁ phalaṁ, paṭhamo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Idaṁ dutiyaṁ phalaṁ, dutiyo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti, tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Idaṁ tatiyaṁ phalaṁ, tatiyo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Idaṁ catutthaṁ phalaṁ catuttho ānisaṁso.
Ime kho, āvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ imāni cattāri phalāni, cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā’ti.
11. Khīṇāsavaabhabbaṭhāna
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘aṭṭhitadhammā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti.
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sāvakānaṁ dhammā desitā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā.
Seyyathāpi, āvuso, indakhīlo vā ayokhīlo vā gambhīranemo sunikhāto acalo asampavedhī;
evameva kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sāvakānaṁ dhammā desitā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā.
Yo so, āvuso, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so nava ṭhānāni ajjhācarituṁ.
Abhabbo, āvuso, khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe āgārikabhūto; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu chandāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu dosāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu mohāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu bhayāgatiṁ gantuṁ.
Yo so, āvuso, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni nava ṭhānāni ajjhācaritun’ti.
12. Pañhābyākaraṇa
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘atītaṁ kho addhānaṁ ārabbha samaṇo gotamo atīrakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapeti, no ca kho anāgataṁ addhānaṁ ārabbha atīrakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapeti, tayidaṁ kiṁsu tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Te ca aññatitthiyā paribbājakā aññavihitakena ñāṇadassanena aññavihitakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapetabbaṁ maññanti yathariva bālā abyattā.
Atītaṁ kho, cunda, addhānaṁ ārabbha tathāgatassa satānusāriñāṇaṁ hoti;
so yāvatakaṁ ākaṅkhati tāvatakaṁ anussarati.
Anāgatañca kho addhānaṁ ārabbha tathāgatassa bodhijaṁ ñāṇaṁ uppajjati:
‘ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
Atītañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti.
Atītañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, tampi tathāgato na byākaroti.
Atītañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ, tatra kālaññū tathāgato hoti tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
Anāgatañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti …pe… tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
Paccuppannañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti.
Paccuppannañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, tampi tathāgato na byākaroti.
Paccuppannañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ, tatra kālaññū tathāgato hoti tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
Iti kho, cunda, atītānāgatapaccuppannesu dhammesu tathāgato kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yañca kho, cunda, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, sabbaṁ tathāgatena abhisambuddhaṁ,
tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yañca, cunda, rattiṁ tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca rattiṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, yaṁ etasmiṁ antare bhāsati lapati niddisati. Sabbaṁ taṁ tatheva hoti no aññathā,
tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yathāvādī, cunda, tathāgato tathākārī, yathākārī tathāvādī.
Iti yathāvādī tathākārī, yathākārī tathāvādī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Sadevake loke, cunda, samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya tathāgato abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
13. Abyākataṭṭhāna
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ nu kho, āvuso, hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
“hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘etampi kho, āvuso, bhagavatā abyākataṁ:
“na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
“hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘etampi kho, āvuso, bhagavatā abyākataṁ:
“neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kasmā panetaṁ, āvuso, samaṇena gotamena abyākatan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘na hetaṁ, āvuso, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ na ādibrahmacariyakaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, tasmā taṁ bhagavatā abyākatan’ti.
14. Byākataṭṭhāna
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kiṁ panāvuso, samaṇena gotamena byākatan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘idaṁ dukkhanti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhasamudayoti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhanirodhoti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, āvuso, bhagavatā byākatan’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘kasmā panetaṁ, āvuso, samaṇena gotamena byākatan’ti?
Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘etañhi, āvuso, atthasaṁhitaṁ, etaṁ dhammasaṁhitaṁ, etaṁ ādibrahmacariyakaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Tasmā taṁ bhagavatā byākatan’ti.
15. Pubbantasahagatadiṭṭhinissaya
Yepi te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, tepi vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Yepi te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, tepi vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Katame ca te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Santi kho, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Santi pana, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘asassato attā ca loko ca …pe…
sassato ca asassato ca attā ca loko ca …
neva sassato nāsassato attā ca loko ca …
sayaṅkato attā ca loko ca …
paraṅkato attā ca loko ca …
sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca …
asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
‘Sassataṁ sukhadukkhaṁ …
asassataṁ sukhadukkhaṁ …
sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ …
nevasassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ …
asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“sassato attā ca loko cā”’ti?
Yañca kho te evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘asassato attā ca loko ca …
sassato ca asassato ca attā ca loko ca …
nevasassato nāsassato attā ca loko ca …
sayaṅkato attā ca loko ca …
paraṅkato attā ca loko ca …
sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca …
asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca …
sassataṁ sukhadukkhaṁ …
asassataṁ sukhadukkhaṁ …
sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ …
nevasassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ …
sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ …
asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhan”’ti?
Yañca kho te evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Ime kho te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
16. Aparantasahagatadiṭṭhinissaya
Katame ca te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Santi, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Santi pana, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘arūpī attā hoti …
rūpī ca arūpī ca attā hoti …
nevarūpī nārūpī attā hoti …
saññī attā hoti …
asaññī attā hoti …
nevasaññīnāsaññī attā hoti …
attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Yañca kho te evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘arūpī attā hoti …
rūpī ca arūpī ca attā hoti …
nevarūpīnārūpī attā hoti …
saññī attā hoti …
asaññī attā hoti …
nevasaññīnāsaññī attā hoti …
attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati:
“attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā”’ti?
Yañca kho te, cunda, evamāhaṁsu:
‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Taṁ tesaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā.
Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi, kuto bhiyyo.
Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Ime kho te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā.
Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Imesañca, cunda, pubbantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ imesañca aparantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ pahānāya samatikkamāya evaṁ mayā cattāro satipaṭṭhānā desitā paññattā.
Katame cattāro?
Idha, cunda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu vedanānupassī …pe…
citte cittānupassī …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Imesañca, cunda, pubbantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ imesañca aparantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ pahānāya samatikkamāya. Evaṁ mayā ime cattāro satipaṭṭhānā desitā paññattā”ti.
Tena kho pana samayena āyasmā upavāṇo bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Pāsādiko vatāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo;
supāsādiko vatāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo, ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Tasmātiha tvaṁ, upavāṇa, imaṁ dhammapariyāyaṁ ‘pāsādiko’ tveva naṁ dhārehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā upavāṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Pāsādikasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.