Như vầy tôi nghe.
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthi, rừng thái tử Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
SC 3PTS cs 2~2 Này các Tỷ-kheo, ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này là gì mà những ai đầy đủ những tướng Ðại Trượng phu này sẽ chọn đi hai con đường, không còn con đường nào khác? Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương … Nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, vị ấy sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời?
SC 4Này các Tỷ-kheo, vị này có lòng bàn chân bằng phẳng. Tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân.
SC 5Này các Tỷ-kheo, dưới hai bàn chân của vị này có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xem với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ …
SC 6Này các Tỷ-kheo, vị này có gót chân thon dài …
SC 7Vị này có ngón tay, ngón chân dài …
SC 8Vị này có tay chân mềm mại …
SC 9Vị này tay chân có màn da lưới …
SC 10Vị này có mắt cá tròn như con sò …
SC 11Vị này có ống chân như con dê rừng …
SC 12Vị này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể sờ đầu gối với hai bàn tay …
SC 13Vị này có tướng mã âm tàng …
SC 14Vị này có màu da đồng, màu sắc như vàng …
SC 15Vị này có da trơn mướt, khiến bụi không thể bám dính vào …
SC 16Vị này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông …
SC 17Vị này có lông mọc xoáy trong thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt …
SC 18Vị này có thân hình cao thẳng …
SC 19Vị nầy có thân với các góc cạnh tròn đầy, đều đặn …
SC 20Vị này có nửa thân trước như thân con sư tử …
SC 21Vị này không có lõm khuyết xuống giữa hai vai …
SC 22Vị này có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân …
SC 23Vị này có bán thân trên vuông tròn …
SC 24Vị này có vị giác rất nhạy bén …
SC 25Vị này có quai hàm như con sư tử …
SC 26Vị này có bốn mươi cái răng …
SC 27Vị này có răng đều đặn …
SC 28Vị này có răng không khuyết hở …
SC 29Vị này có răng cửa trơn láng …
SC 30Vị này có tướng lưỡi rộng dài …
SC 31Vị này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim Ca-lăng-tần-già …
SC 32Vị này có hai mắt màu xanh đậm …
SC 33Vị này có lông mi con bò cái …
SC 34Vị này có hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ …
SC 35Vị này có nhục kế trên đầu …
SC 36PTS cs 3~3 Này các Tỷ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị Pháp vương, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình xuất gia, sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Này các Tỷ-kheo, những vị ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này nhưng không biết là do tạo nghiệp nào mà được những tướng này.
SC 37PTS cs 4~4 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp, thiện hành về thân, thiện hành về miệng, thiện hành về ý, phân định bố thí, thủ hộ giới luật, tuân giữ các lễ Bồ tát, hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, cúng dường Sa-môn, cúng dường Bà-la-môn, tôn kính các bậc đàn anh trong gia đình, và tất cả những vị tối thắng khác. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, cõi Trời hay đời này. Ở đây, Ngài có mười điểm thắng hơn chư Thiên khác, thiên giới thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên giới danh xưng, thiên giới uy lực, thiên giới sắc tướng, thiên giới âm thanh, thiên hương, thiên vị, thiên xúc. Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này, nghĩa là lòng bàn chân bằng phẳng, đặt chân trên đất một cách bằng phẳng, bàn chân chạm đất với toàn thể bàn chân một lần.
SC 38PTS cs 5~5 Ngài đầy đủ tướng này, nếu ở tại gia sẽ làm vị Chuyển Luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị Pháp vương, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị ấy là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân.
SC 39Vị này chinh phục và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao, trị vì đất này cho đến hải biên, một cõi đất không hoang vu, không có tướng nguy hiểm, không có gai góc, phồn vinh, phong phú, an ổn, may mắn, không có nguy hiểm. Làm vua được những gì? Làm vua không bị người thù hay kẻ địch làm trở ngại. Làm vua được lợi như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, Ngài thành bậc A-La-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được lợi những gì? Ngài không bị người thù hay kẻ địch ở trong cũng như ở ngoài, không bị tham, sân, si, không bị Sa—môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở ngoài đời làm trở ngại. Làm Phật được lợi như vậy.
SC 40Thế Tôn thuyết nghĩa như vậy.
SC 41PTS cs 6~6 Ở đây lời nói này được nói lên:
SC 42Sống chân thực đúng Pháp,
Ðiều phục và tự chế,
Sống với hạnh thanh tịnh,
Ngày trai giới, Bố tát.
Bố thí, không bạo động,
Không làm hại một ai,
Tâm kiên cố hành trì,
Sống thật sự toàn diện.
Với hạnh nghiệp như vậy,
Ngài được sanh cõi Trời,
Sống trong niềm hoan hỷ,
An lạc vô cùng tận.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Với bàn chân bằng phẳng,
Chạm đất thật đều đặn.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Không ai làm trở ngại,
Vị bàn chân bằng phẳng.
Dầu tại gia, xuất gia.
Nghĩa tướng thật rõ ràng,
Nếu sống tại gia đình,
Không bị trở ngại gì,
Chiến thắng mọi quân thù.
Ðại phá cả quân địch,
Không ai ngăn chặn được,
Vị nghiệp báo như vậy.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt,
Là bậc Thánh siêu phàm,
Không còn phải thai sanh,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Pháp nhĩ là như vậy.
SC 43PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, sống vì hạnh phúc cho chúng sanh, trừ diệt mọi sợ hãi kinh hoàng, sắp đặt sự che chở, hộ trì, bảo vệ đúng Pháp, bố thí cho các người tùy tùng. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của sự nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cõi thiện thú, thiên giới hay đời này … Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này: Dưới bàn chân, có hình bánh xe hiện ra, với một ngàn tăm xe, với bánh xe, trục xe, các bộ phận hoàn toàn đầy đủ.
SC 44PTS cs 8~8 Ngài đầy đủ tướng này, nếu ở tại gia thành vị Chuyển Luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Có nhiều kẻ hầu cận. Số hầu cận rất đông, có cư sĩ, Bà la môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ngài thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được những gì? Ngài có đại chúng hầu cận, số đại chúng rất đông, gồm có Tỷ-kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, các loài Thần rắn, Càn thát bà. Làm Phật được như vậy.
SC 45Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 46PTS cs 9~9 Ở đây lời nói này được nói lên:
SC 47Trong những năm đã qua,
Trong những đời quá khứ,
Khi Ngài được làm Người,
Khiến nhiều người hạnh phúc.
Ngài trừ diệt kinh hoàng,
Hộ trì và bảo vệ,
Nhờ nghiệp ấy, sanh Thiên,
Hưởng an lạc hạnh phúc.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Dưới hai bàn chân Ngài,
Có bánh xe hiện ra,
Với bánh xe đầy đủ,
Ðủ một ngàn căm xe.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Khi thấy trăm đức này:
Ðược quần chúng bao vây,
Ðịch quân được nhiếp phục,
Như bánh xe quay tròn,
Với vành xe đầy đủ.
Nếu Ngài không xuất gia,
Sống đời sống như vậy,
Ngài chuyển vận bánh xe,
Trị vì khắp cõi đất.
Ở đây Sát đế lỵ,
Ðều chịu thần phục Ngài,
Hầu hạ chung quanh Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát dục, sáng suốt,
chư Thiên và loài Người,
Ðế thích và Dạ xoa,
Càn thát bà, Long xà,
Phi điểu, loài bốn chân,
Tất cả đoanh vây Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Ðược Thiên, Nhơn cung kính.
SC 48PTS cs 10~10 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ sát sanh, chế ngự sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này … Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu này: gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân dài và tay chân mềm mại.
SC 49PTS cs 11~11 Ngài đầy đủ ba tướng này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân thánh vương … Làm vua được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một người nào dưới hình thức kẻ thù hay kẻ nghịch có thể hại mạng sống Ngài. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một kẻ thù, kẻ nghịch nào có thể hại được mạng sống Ngài, dưới hình thức Sa môn, Bà la môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trong đời. Làm Phật được như vậy.
SC 50Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 51PTS cs 12~12 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 52Tự biết mình sợ hãi,
Sợ chết sợ tàn hại,
Ngài từ bỏ giết hại,
Hết mọi loài chúng sanh.
Nhờ sống hành thiện pháp,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Tự hưởng quả dị thục,
Do thiện báo đem lại.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Ðược hưởng tại nơi đây,
Ba Ðại trượng phu tướng:
Gót chân đầy và dài,
Thân thẳng như Phạm thiên.
Khả ái, hình vóc đẹp,
Khéo cân xứng, khéo sanh,
Các ngón tay, ngón chân,
Ðều mềm mại trẻ đẹp.
Với ba tướng Trượng phu,
Sống lâu luôn luôn trẻ.
Nếu sống tại gia đình,
Thọ mạng sẽ lâu dài.
Nếu sống đời xuất gia,
Tuổi thọ được dài thêm,
Như vậy tướng hảo này,
Là tướng tuổi trường thọ.
SC 53PTS cs 13~13 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, là vị bố thí các món ăn loại cứng loại mềm, các loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này … Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này là bảy chỗ tròn đầy. Bảy chỗ tròn đầy là hai tay tròn đầy, hai chân tròn đầy, hai vai tròn đầy và thân hình tròn đầy.
SC 54PTS cs 14~14 Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Ðược các món ăn, loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Ðược các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm Phật được như vậy.
SC 55Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 56PTS cs 15~15 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 57Bố thí các món ăn,
Thượng vị hợp sở thích
Loại cứng vị hợp sở thích
Loại cứng và loại mềm,
Loại liếm cả loại nếm.
Nhờ hành thiện tốt đẹp,
Sống lâu thiên hỷ lạc.
Ðược sanh tại chỗ này,
Với bảy chỗ tròn đầy.
Với tay chân mềm mại,
Nhà chiêm tướng thiện xảo,
Tuyên bố Ngài đầy đủ,
Món ăn thật ngon lành,
Loại cứng và loại mềm.
Không riêng gì tại gia,
Ðược tướng hảo như vậy,
Nếu sống hạnh xuất gia,
Cũng được hảo tướng ấy.
Món ăn thật thượng vị
Loại cứng và loại mềm,
Chặt đứt các trói buộc
Tất cả hàng cư sĩ.
SC 58PTS cs 16~16 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, được đầy đủ Bốn Nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới, hay đời này. Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: Tay chân mềm mại, và có lưới da giữa ngón tay, ngón chân.
SC 59PTS cs 17~17 Ngài đầy đủ hai tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng. Ðược khéo thâu nhiếp các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng, được khéo thâu nhiếp các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long thần, Càn-thát-bà. Làm Phật được như vậy.
SC 60Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 61PTS cs 18~18 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 62Bố thí và lợi hành,
Ái ngữ và đồng sự,
Nhiếp phục nhiều tùy tùng.
Do hành thiện pháp này,
Nhờ vô lượng công đức,
Ðược sanh lên cõi Trời.
Tạ thế tại chỗ kia,
Tái sanh tại chỗ này,
Do hạnh ấy tay chân,
Mềm mại và có lưới.
Ðược sắc tướng đoan nghiêm,
Mỹ lệ và khả ái
Dầu còn là niên thiếu,
Trẻ thơ măng sữa vậy,
Quần chúng chịu tùy thuận,
Nhiếp phục cõi đất này.
Luôn luôn dùng ái ngữ,
Cầu hạnh phúc quần sanh.
Như vậy sống thanh tịnh,
Với công đức thù thắng.
Nếu Ngài sống từ bỏ,
Mọi dục lạc tài sản,
Tuyên thuyết vi diệu pháp,
Vị chiến thắng quần sanh,
Họ nghe tâm hoan hỷ,
Vâng hành lời Ngài dạy.
Họ sống thiện hành trì,
Theo Chánh pháp, Tùy pháp.
SC 63PTS cs 19~19 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp … Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây với hai tướng Ðại Trượng phu: mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên.
SC 64PTS cs 20~20 Ngài đầy đủ với những tướng như vậy, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì. Tài vật dục lạc đều tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Ngài trở thành bậc tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất cho toàn thể chúng sanh. Làm Phật được như vậy.
SC 65Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 66PTS cs 21~21 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 67Thuở xưa lời Ngài nói,
Thuyết giảng cho Ðại chúng,
Liên hệ đến mục đích,
Liên hệ đến Chánh pháp.
Ngài là người đem lại,
Hạnh phúc cho chúng sanh,
Không xan lẫn hối tiếc,
Lễ đàn pháp và chơn.
Nhờ hành trì thiện nghiệp,
Sống hoan hỷ cõi Trời.
Tái sanh tại nơi đây,
Ngài được hai hảo tướng,
Hưởng hạnh phúc tối thượng.
Lông mọc xoay thẳng lên,
Mắt cá tròn khéo gọn,
Dưới có thịt, có da
Trên hình dáng đẹp đẽ.
Nếu Ngài sống tại gia,
Tài dục đều tối thượng.
Không ai thắng hơn Ngài.
Chinh phục Diêm-phù-đề.
Nếu hạnh Ngài xuất gia,
Tinh tấn hơn mọi người,
Ngài là bậc tối thắng,
Trong tất cả chúng sanh.
Do vậy không tìm được,
Kẻ tối thắng hơn Ngài.
Ngài sống và ngự trị,
Cùng khắp mọi thế giới.
SC 68PTS cs 22~22 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai trước làm Người, ngài siêng năng học hỏi, nghề nghiệp, mọi kỹ thuật, học thuật, oai nghi hay hành động: “Làm thế nào để tôi mau học được, làm thế nào để tôi mau biết, làm thế nào để tôi mau thâu hoạch được, khỏi phải mệt nhọc lâu ngày?”. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy … Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây, với tướng Ðại Trượng phu, có ống chân giống như con dê rừng.
SC 69PTS cs 23~23 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Tất cả sự vật xứng đáng nhà vua, đặc tướng nhà vua, tài sản nhà vua, sở hữu nhà vua, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Tất cả sự vật gì xứng đáng vị Sa-môn, đặc tướng Sa-môn, tài sản Sa-môn, sở hữu Sa-môn, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm Phật được như vậy.
SC 70Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 71PTS cs 24~24 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 72Trong các nghề, kỹ thuật
Trong cử chỉ, hành động,
Ngài muốn làm thế nào,
Ðể học biết mau chóng.
Không ai bị thương hại,
Học mau, không mệt mỏi,
Do hành thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện tốt đẹp.
Cân đối xoay nhẹ nhàng,
Trên da trơn mềm mại,
Lông được mọc đứng lên.
Người như vậy được gọi,
Người có chân dê rừng.
Tướng này, người ta đồn,
Khiến học hỏi mau chóng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt.
Mọi sự vật hợp pháp,
Ngài tuần tự chứng đắc,
Sống tinh tấn cao thượng,
Quả chứng thật mau chóng.
SC 73PTS cs 25~25 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, đi đến các vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi đến liền hỏi: “Bạch Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội? Thế nào là không có tội? Ðiều nào nên làm? Ðiều nào không nên làm? Ðiều nào làm sẽ đưa đến cho ta bất hạnh và đau khổ lâu dài? Ðiều nào nếu làm sẽ đưa đến cho ta hạnh phúc và an lạc lâu dài? Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp này … ” Ngài sau khi từ trần từ chỗ kia được tái sanh lại đây với tướng Ðại Trượng phu này: Da của Ngài trơn mịn khiến bụi bặm không thể bám dính vào thân.
SC 74PTS cs 26~26 Ngài đầy đủ với các tướng này, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua, được những gì? Ðại trí tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ. Hay không ai hơn Ngài về tài sản thế tục. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược đại trí tuệ, quảng trí tuệ, hỷ tâm trí tuệ, mẫn tiệp trí tuệ, thông nhuệ trí tuệ, yểm ly trí tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ hay không có chúng sanh nào hơn Ngài. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 75Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 76PTS cs 27~27 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 77Trong những ngày quá khứ,
Ngài tha thiết muốn biết,
Ngài tha thiết muốn hỏi,
Yết kiến vị xuất gia,
Khéo nghe và học hỏi.
Chính nhờ hạnh nghiệp ấy,
Ngài chứng được trí tuệ.
Và sanh vào loài Người,
Ngài được da mịn màng.
Các vị chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Vị này biết và thấy,
Mọi ý nghĩa tế nhị.
Nếu hạnh không xuất gia,
Sống hành trì như vậy,
Ngài là vị Chuyển luân,
Ngự trị cõi đất này.
Những vị nắm được nghĩa,
Không ai hơn bằng Ngài.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát tục sáng suốt;
Chứng được đạo Bồ-đề,
Tuệ tối hảo vô thượng.
SC 78PTS cs 28~28 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, không sân hận, hoàn toàn không ảo não, dầu có bị nói nhiều cũng không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận phiền muộn. Trái lại, Ngài bố thí các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Với tác động … Ngài từ trần từ chỗ kia, thác sanh tại chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này: sắc hoàng kim, da màu đồng, sáng bóng.
SC 79PTS cs 29~29 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 80Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 81PTS cs 30~30 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 82Cương quyết không sân hận,
Ngài sẵn sàng bố thí,
Các loại vải mềm mại,
Các đồ đắp mềm mại.
Trong những đời sống trước,
Ngài cương quyết phân phát,
Như thần mưa tung vải,
Mây móc trên đất liền.
Nhờ hạnh nghiệp như vậy,
Từ trần tại chỗ kia,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Hưởng quả báo thiện hạnh.
Tận hưởng thiện báo xong,
Ngài sanh tại nơi đây,
Với thân màu hoàng kim,
Sáng chói như vàng ròng,
Mỹ lệ hùng tráng hơn,
Chẳng khác gì Ðế-thích.
Nếu không muốn xuất gia,
Ngài trị vì đất này,
Nhờ sức mạnh quá khứ,
Ngài được thật đầy đủ,
Mềm mại và tế nhị,
Ðồ che đắp mang mặc.
Nếu Ngài sống đời sống,
Xuất gia, không gia đình,
Kiên trì Ngài tận hưởng,
Quả báo nghiệp quá khứ,
Những điều Ngài đã làm,
Không bao giờ vô hiệu.
SC 83PTS cs 31~31 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Ngài làm cho sum họp lại những bà con bạn bè thân tín không gặp nhau lâu ngày, bị đau khổ lâu ngày, làm cho sum họp lại mẹ với con, con với mẹ, làm cho sum họp lại cha với con, con với cha, làm cho sum họp lại giữa anh em với nhau, làm cho sum họp lại giữa anh và chị, giữa chị và em, làm cho hòa hợp lại, sống vui vẻ với nhau. Với tác động … Ngài từ trần tại chỗ kia, thác sanh tại chỗ này với tướng Ðại Trượng phu này là tướng mã âm tàng.
SC 84PTS cs 32~32 Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược nhiều con, hơn một ngàn người con đều là bậc anh hùng, bậc chiến thắng, dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Làm vua, vị ấy được như vậy … Làm Phật được những gì? Ðược nhiều con, sẽ có hàng ngàn người con (xuất gia và tại gia) đều là bậc anh hùng, các bậc vô song, các bậc dõng kiện, nhiếp phục các địch quân. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 85Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 86PTS cs 33~33 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 87Thuở xưa trong quá khứ,
Trong nhiều đời tiền thân,
Ngài khiến cho sum họp,
Bà con, bạn, thân tín.
Ðã đau khổ lâu ngày,
Ðã phiêu bạt lâu ngày,
Ngài khiến họ hòa hợp,
Sống hoan hỷ với nhau.
Hạnh này Ngài sanh Thiên,
Hưởng hạnh phúc hỷ lạc,
Chết kia, sanh chỗ này,
Ngài được mã âm tàng.
Ngài có rất nhiều con,
Hơn đến số ngàn vị,
Là những bậc anh hùng,
Chiến thắng nhiếp địch quân,
Ðón chào lời hiếu kính,
Khiến tại gia hoan hỷ.
Nếu xuất gia tu đạo,
Uy lực thắng hơn nhiều.
Số con có nhiều hơn,
Biết vâng lời chỉ giáo.
Dầu tại gia, xuất gia,
Hảo tướng thật rõ ràng.
Tụng phẩm II
SC 88PTS cs 1~34 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người quán sát và hiểu biết rõ ràng toàn thể Ðại chúng, biết mình, biết người, biết sự sai biệt giữa mọi người: “Người này xứng đáng như thế này, người này xứng đáng như thế này”, và Ngài hành động tùy theo sự sai biệt giữa mọi người ấy. Do tác động … Ngài từ trần từ chỗ kia tái sanh tại đây với hai tướng Ðại Trượng phu: thân hình tròn như cây Nigrodha (cây bàng) và đứng thẳng không cong lưng, Ngài có thể sờ và thoa đầu gối với hai lòng bàn tay.
SC 89PTS cs 2~35 Ngài đầy đủ những tướng như vậy, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Làm vị triệu phú, đại triệu phú, với kho tàng đầy vàng bạc, đầy tài vật, đầy tiền lúa, kho tàng tràn đầy. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Làm vị triệu phú, đại triệu phú. Tài vật của Ngài là tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, đa văn tài, thí tài, trí tuệ tài. Làm Phật được như vậy.
SC 90Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 91PTS cs 3~36 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 92Cân nhắc, tìm, suy tư,
Ngài quán sát Ðại chúng,
Ở chỗ này chỗ kia,
Người này xứng thế này.
Hành động Ngài tương xứng,
Sự sai biệt loài Người.
Ðứng thẳng không cong lưng,
Hai tay sờ đầu gối,
Thân như cây tròn cao,
Là thiện báo đặc biệt.
Bậc thiện xảo siêu nhân,
Ðều tuyên bố như sau:
Ðứa trẻ được tất cả,
Những gì xứng cư sĩ,
Là cư sĩ, Ngài được,
Mọi dục lạc tài sản,
Phong phú và thích hợp,
Với vua cõi đất này.
Nếu phát tâm từ bỏ,
Mọi dục lạc tài sản,
Ngài sẽ được tài vật,
Vô thượng và tối thiện.
SC 93PTS cs 4~37 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, tha thiết với sự lợi ích của Ðại chúng, tha thiết với hạnh phúc, tha thiết với sự thoải mái, tha thiết với sự an ủi của Ðại chúng: “Làm thế nào cho họ tăng trưởng lòng tin, tăng trưởng giới, tăng trưởng đa văn, tăng trưởng bố thí, tăng trưởng pháp, tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng tài vật và lúa gạo, tăng trưởng đất ruộng, tăng trưởng các loài hai chân và bốn chân, tăng trưởng vợ con, tăng trưởng đầy tớ và lao công, tăng trưởng bà con, tăng trưởng bạn bè, tăng trưởng quyến thuộc”. Với tác động, chất chứa, tích tụ, và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này. Ngài tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu: nửa thân trên như thân con sư tử, hai vai không có lõm khuyết xuống, và thân hình tròn đều.
SC 94PTS cs 5~38 Ngài với những tướng như thế này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ngài không bị thất bại và mất mát. Ngài không mất tài sản lúa gạo, ruộng đất, các loài hai chân bốn chân, vợ con, đầy tớ lao công, bạn bè, quyến thuộc. Ngài thành tựu tất cả, không thất bại một điều gì … Làm Phật, Ngài được những gì? Ngài không bị thất bại và mất mát. Ngài không mất tín, giới, văn, thí xả và tuệ. Ngài thành tựu tất cả, không bị thất bại một điều gì.
SC 95Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 96PTS cs 6~39 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 97Tín, giới, văn, trí tuệ,
Thí, pháp, nhiều thiện sự.
Tài sản, lúa, ruộng đất,
Vợ con, loài bốn chân.
Quyến thuộc, bạn, bà con,
Lúa, sắc và hạnh phúc.
Ngài ao ước mong cầu,
Không một ai tổn hại.
Thân trên như sư tử,
Vai vuông tròn đều đặn.
Nhờ hạnh xưa, không hư,
Tại gia được tăng trưởng,
Gạo, tài sản, vợ con,
Cùng với loài bốn chân.
Xuất gia không vật gì,
Chứng Bồ-đề vô thượng,
Không bao giờ tiêu diệt,
Pháp nhĩ là như vậy.
SC 98PTS cs 7~40 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, không làm điều gì hại đến các loài hữu tình, hoặc bằng tay, bằng đá, bằng gậy, hay bằng đao. Với tác động chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này: cảm vị hết sức nhạy bén, khi vật gì chạm đầu ngọn lưỡi, những cảm giác được khởi lên tại cổ họng và truyền đi khắp nơi.
SC 99Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thì làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Thiểu bệnh, thiểu não, tiêu hóa tốt đẹp, nhiệt độ thăng bằng, không lạnh quá, không nóng quá. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Thiểu bệnh, thiểu não, tiêu hóa tốt đẹp, nhiệt độ thăng bằng, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, có thể kham nhẫn, siêng năng. Làm Phật được như vậy.
SC 100Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 101PTS cs 9~41 Ở đây, lời này được nói lên:
SC 102Ngài không hại một ai,
Với tay, gậy, đá, gươm,
Không trói, không dọa dạt,
Không sát sanh hại mạng.
Do vậy Ngài sanh thiên,
Hưởng quả báo an lạc,
Tái sanh tại nơi đây,
Cảm vị rất nhạy bén,
Cổ họng khéo an trú,
Thượng vị nhạy truyền đi.
Thiện xảo chiêm tướng gia,
Tuyên bố về Ngài rằng:
Người này sẽ được hưởng,
Nhiều hạnh phúc an lạc,
Dầu tại gia xuất gia,
Hảo tướng thật rõ ràng.
SC 103PTS cs 10~42 Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm Người, có thói quen không ngó liếc, không ngó xiên, không ngó trộm, nhưng với tâm chánh trực mở rộng, cao thượng, Ngài nhìn Ðại chúng với tâm từ bi. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Sau khi tạ thế từ chỗ kia, Ngài sanh lại tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: cặp mắt hết sức xanh và lông mi như con bò cái.
SC 104PTS cs 11~43 Ngài đầy đủ với những tướng này, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðại chúng ưa nhìn Ngài. Các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, vệ sĩ, các thủ môn quan, các đại thần, chư hầu, phú gia, vương tử đều hoan nghênh, tương kính Ngài. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðại chúng ưa Ngài. Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long xà, Càn-thát-bà hoan nghênh và thương kính Ngài. Làm Phật được như vậy.
SC 105Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 106PTS cs 12~44 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 107Không ngó liếc, ngó xiên,
Và cũng không ngó trộm,
Nhưng với tâm chánh trực,
Rộng mở và cao thượng,
Ngài nhìn khắp Ðại chúng,
Với từ tâm của Ngài.
Ở đây Ngài tận hưởng,
Quả an lạc chư Thiên,
Ở đây lông mi Ngài,
Như mi con bò cái,
Cặp mắt hết sức xanh,
Ðẹp đẽ thật ưa nhìn.
Chiêm tướng gia lão luyện,
Tinh thông về hảo tướng,
Ngài thành bậc Thiện nhân.
Với cặp mắt tế nhị,
Ðược mọi người hoan nghênh,
Ưa thích ngắm nhìn Ngài.
Cư sĩ ưa nhìn Ngài,
Ðược mọi người kính yêu.
Tại gia hay Sa-môn,
Ngài được người kính mến,
Như người đã cứu chữa,
Khổ sầu cho Ðại chúng.
SC 108PTS cs 13~45 Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm người là vị lãnh đạo Ðại chúng về các thiện pháp, là vị tiền phong Ðại chúng về thiện hành thuộc thân, khẩu, ý, phân phát bố thí, thủ hộ giới luật, tham dự các lễ Bố-tát, hiếu kính cha mẹ, lễ kính Sa-môn, cung kính bậc trưởng thượng trong gia đình và về các thiện pháp đặc biệt khác. Với sự tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này với tướng Ðại Trượng phu là có nhục kế trên đầu.
SC 109PTS cs 14~46 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua, Ngài được những gì? Ngài được sự trung thành của Ðại chúng, các Cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, các tài chính quan, tư chánh quan, vệ sĩ, thủ môn quan, đại thần, phó vương, phú gia, các vương tử đều trung thành với Ngài. Làm vua, ngài được như vậy. Làm Phật Ngài được những gì? Ngài được sự trung thành của Ðại chúng. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, các hàng A-tu-la, các loài Long xà, Càn-thát-bà đều trung thành với Ngài. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 110Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 111PTS cs 15~47 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 112Lãnh đạo các chánh hạnh,
Hoan hỷ trong pháp lành,
Ðược Ðại chúng trung thành,
Hưởng công đức chư Thiên.
Hưởng xong các thiện quả,
Sanh đây được nhục kế.
Chiêm tướng gia thiện xảo,
Ðồng tuyên bố về Ngài:
Ngài lãnh đạo Ðại chúng,
Ðược tiền của hiến dâng,
Quá khứ, nay cũng vậy,
Mọi người phục vụ Ngài.
Nếu là Sát-đế-ly,
Ngài trị vì quốc độ,
Ðược đa số quần chúng,
Thành tâm phục vụ Ngài.
Nếu Ngài sống xuất gia,
Thời vị Thượng nhân này,
Tinh thông và thiện xảo,
Ðối với các thiện pháp.
Ðược quần chúng trung thành,
Ðược mọi người phục vụ,
Vì đã quá hoan hỷ,
Công đức dạy của Ngài.
SC 113PTS cs 16~48 Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm Người từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói lời chân thật, y chỉ chơn thật, chắc chắn đáng tin cậy, không thất hứa một ai. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: mỗi lỗ chân lông là mỗi một sợi lông mọc lên và giữa hai lông mày có tướng bạch hào sanh, màu trắng, mềm mại giống như bông.
SC 114PTS cs 17~49 Ngài đầy đủ những tướng này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðại chúng tuân theo ý muốn của Ngài. Các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, các tài chánh quan, tư chánh quan, các vệ sĩ, thủ môn quan, đại thần, phó vương, phú gia, vương tử đều tuân theo ý muốn của Ngài. Làm vua, Ngài được như vậy. Làm Phật, Ngài được những gì? Ðại chúng đều tuân theo ý muốn của Ngài. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, Thiên, Nhân, A-tu-la, Long xà, Càn-thát-bà tuân theo ý muốn của Ngài. Làm Phật Ngài được như vậy.
SC 115Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 116PTS cs 18~50 Ở đây, lời này được nói lên:
SC 117Trong những đời quá khứ,
Ngài giữ hạnh chân thật,
Không nói lời hai lưỡi,
Tránh lời nói hư vọng.
Ðối với chung tất cả,
Không bội ước một ai,
Ngài sống trong hoan hỷ,
Chơn chánh và như thật.
Ngài có tướng bạch hào,
Mọc giữa hai chân mày,
Trắng, sáng và mịn màng,
Như bông Ðâu-la-miên.
Các lông của Ngài mọc,
Không hai lông một chỗ.
Khi nhiều vị chiêm tướng,
Hội họp chung với nhau.
Những vị tinh thông này,
Ðồng tuyên bố về ngài:
Mười bạch hào hảo tướng,
Và lông mày khéo mọc,
Nên Ngài được mọi người,
Vâng theo ý muốn Ngài.
Là Cư sĩ, Ðại chúng,
Tuân theo ý muốn Ngài,
Vì hành động quá khứ,
Quá rõ ràng cao thượng.
Bỏ tất cả, xuất gia,
Ngài được cả Ðại chúng,
Tuân theo bậc Giác Ngộ,
Tối vô thượng, tịch tịnh.
SC 118PTS cs 19~51 Này các Tỷ-kheo, Như Lai trong bất cứ đời trước nào … đời trước làm Người, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì chỗ này không đi nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Ngài sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói lời đưa đến hòa hợp. Do tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia sanh lại tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: có bốn mươi răng, và giữa răng không có kẻ hở.
SC 119PTS cs 20~52 Ngài đầy đủ các tướng này, nếu sống tại gia sẽ là vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua, được những gì? Chúng tùy tùng của Ngài không có chia rẽ. Các vị cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư chánh quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, phó vương, phú gia, các vương tử đều không chia rẽ. Làm vua, Ngài được như vậy … Làm Phật, được những gì? Các người tùy tùng không có chia rẽ. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, các vị A-tu-la, các Long xà, các Càn-thát-bà đều không chia rẽ. Làm Phật được như vậy.
SC 120Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 121PTS cs 21~53 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 122Không nói lời hai lưỡi,
Khiến chia rẽ hòa hợp,
Khiến phát sanh đấu tranh,
Khiến tăng trưởng chia rẽ.
Không nói lời vô ích,
Làm tranh luận tăng trưởng,
Lời nói sinh chia rẽ
Giữa những người hòa hợp.
Ngài chỉ nói những lời,
Tăng hòa ái lâu ngày,
Lời phát sanh liên kết,
Giữa những người chia rẽ.
Những lời có khả năng,
Trừ tranh chấp mọi người,
Ngài hoan hỷ thoải mái,
Trong đoàn kết hòa hợp.
Do nghiệp báo dị thục,
Ðược sanh cõi thiện thú,
Ngài hoan hỷ thọ hưởng,
Phước báo cõi chư Thiên.
Ở đây răng của Ngài,
Ðều đặn, không kẻ hở,
Có bốn mươi tất cả,
Mọc trong miệng khéo bày.
Nếu sanh Sát-đế-ly,
Ngài trị vì quốc độ,
Dân chúng Ngài trị vì,
Là dân chúng thuần lương.
Sống làm bậc Sa-môn,
Thanh tịnh không cấu uế,
Dân chúng tháp tùng Ngài,
Kỷ cương, không dao động.
SC 123PTS cs 22~54 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn … trong đời trước làm Người, Ngài từ bỏ nói lời độc ác, tránh nói lời độc ác, nói những lời không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Ngài nói những lời như vậy. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này, Ngài được hai tướng Ðại Trượng phu: lưỡi dài và giọng nói dịu ngọt như tiếng chim Karavīka (Ca-lăng-tần-già).
SC 124PTS cs 23~55 Ngài đầy đủ các tướng ấy, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Lời nói được chấp nhận. Các vị cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư chánh quan, võ sĩ, thủ môn quan, đại thần, phó vương, phú gia, các vương tử đều chấp nhận lời nói của Ngài. Làm vua Ngài được như vậy … Làm Phật được những gì? Lời nói Ngài được chấp nhận. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long xà, Càn-thát-bà chấp nhận lời của Ngài. Làm Phật được như vậy.
SC 125Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 126PTS cs 24~56 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 127Không nói lời độc ác,
Gây tranh luận có hại,
Lời thô bạo cộc cằn,
Não hại, hiếp Ðại chúng.
Ngài nói lời ngọt ngào,
Hòa dịu cùng thân ái,
Lời nói đẹp ý lòng,
Ði sâu vào nội tâm.
Lời nói khiến tai nghe,
Cảm thấy lòng an lạc,
Ngài thọ hưởng quả báo,
Do khẩu hành tốt đẹp,
Hưởng công đức quả báo,
Tại cảnh giới chư Thiên.
Sau khi hưởng quả lành,
Do thiện hành đem lại,
Ngài tái sanh nơi đây,
Với phạm âm thù thắng,
Ðược tướng lưỡi tốt đẹp,
Vừa rộng lại vừa dài.
Lời nói Ngài phát ra,
Ðược mọi người chấp nhận.
Nếu làm vị cư sĩ,
Lời nói được thành công.
Nếu Ngài sống xuất gia,
Lời nói được chấp nhận,
Lời nói Ngài càng nhiều,
Càng nhiều người tin tưởng.
SC 128PTS cs 25~57 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, thiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này là hàm như hàm con sư tử.
SC 129PTS cs 26~58 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thì làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ngài không bao giờ bị ai chinh phục, kẻ thù hay kẻ địch, thuộc loại người nào. Làm vua, Ngài được như vậy. Làm Phật, được những gì? Ngài không bị ai chinh phục bởi nội địch hay ngoại địch, nội oán hay ngoại oán, bởi tham, sân hay si, bởi vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 130Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 131PTS cs 27~59 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 132Không nói lời ỷ ngữ,
Ngu độn và dao động,
Từ bỏ lời có hại,
Chỉ nói lời có lợi.
Những lời đem an lạc,
Cho tất cả Ðại chúng.
Làm vậy Ngài tạ thế,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Và hưởng thọ quả báo,
Do thiện hạnh đem lại.
Sau khi Ngài tạ thế,
Ðược sanh lại nơi đây,
Ngài được làm tối thắng,
Loại chúa muôn loài thú.
Làm vua, thành Ðế-thích,
Chinh phục cả nhân loại,
Thống lãnh khắp nhân gian,
Có nhiều đại uy lực,
Là Ðế-thích ngự trị,
Thành trì cõi chư Thiên,
Bậc siêu thăng tối thắng,
Trên cả các chư Thiên.
Nhiếp phục Càn-thát-bà,
A-tu-la, Ðế-thích,
Dạ-xoa và chư Thiên,
Không ai nhiếp thắng Ngài.
Nếu sống có gia đình,
Ngài sẽ là như vậy,
Cùng khắp cả bốn phương,
Bốn duy và thượng hạ.
SC 133PTS cs 28~60 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ tà mạng, nuôi sống theo chánh mạng, tránh xa các sự gian lận bằng cân tiền bạc đo lường, hối lộ, gian trá, lừa đảo, không làm tổn thương, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy … Sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này, được hai tướng Ðại Trượng phu này là các răng đều đặn và sáng chói.
SC 134PTS cs 29~61 Ngài đầy đủ những tướng này, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị pháp vương bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị ấy, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên, và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Làm vua được những gì? Tùy tùng của Ngài được tâm thanh tịnh. Các vị tài chánh quan, tư chánh quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, các phó vương, phú gia, các vương tử đều có tâm thanh tịnh. Làm vua Ngài được như vậy.
SC 135PTS cs 30~62 Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình, Ngài là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được những gì? Các tùy tùng của Ngài được tâm thanh tịnh. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, các A-tu-la, các Long xà, Càn-thát-bà được tâm thanh tịnh. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 136Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 137PTS cs 31~63 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 138Từ bỏ sống tà mạng,
Sống thanh tịnh đúng Pháp,
Từ bỏ hạnh có hại,
Chỉ làm hạnh có lợi.
Các hạnh đem an lạc,
Cho tất cả chúng sanh,
Làm Người Ngài hưởng quả,
An lạc ở Thiên giới.
Do vậy đời sống Ngài,
Hưởng hỷ lạc, hoan lạc,
Như vị chúa tối tôn,
Ở kinh thành chư Thiên.
Từ đó xuống làm Người,
Nhờ kết quả thiện hạnh,
Hàm răng Ngài đều đặn,
Thanh tịnh và trong sáng.
Nhiều vị chiêm tướng giỏi,
Ðến tụ họp tuyên bố:
Ngài thống lãnh loài Người,
Ðược kính trọng tối thắng,
Các tùy tùng đồ chúng,
Là những vị thanh tịnh.
Răng thanh tịnh trong sáng,
Trắng bạch đều như chim.
Làm vua, có quần chúng,
Tùy tùng đều thanh tịnh,
Trị vì mọi quốc độ.
Quần chúng sẽ không bị,
Áp bức bởi sức mạnh.
Họ sống đời mong cầu,
Hạnh phúc cho mọi người.
Nếu Ngài sống xuất gia,
Từ bỏ các ác pháp,
Ái nhiễm được gột sạch,
Vô mình được vén lên,
Lo âu cùng mệt mỏi,
Thảy đều được trừ diệt,
Thấy đời này, đời sau,
Nhiều cư sĩ, xuất gia,
Hành trì theo Ngài dạy,
Tránh xa đời bất tịnh,
Lỗi lầm và độc ác.
Tùy tùng đồ chúng Ngài,
Ðều là bậc thanh tịnh,
Trừ được mọi uế chướng,
Tội quá cùng phiền não.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhaddante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Dvattiṁsimāni, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā.
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti;
Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Katamāni ca tāni, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā?
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Idha, bhikkhave, mahāpuriso suppatiṭṭhitapādo hoti. Yampi, bhikkhave, mahāpuriso suppatiṭṭhitapādo hoti, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāpurisassa heṭṭhāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni. Yampi, bhikkhave, mahāpurisassa heṭṭhāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāpuriso āyatapaṇhi hoti …pe…
dīghaṅguli hoti …
mudutalunahatthapādo hoti …
jālahatthapādo hoti …
ussaṅkhapādo hoti …
eṇijaṅgho hoti …
ṭhitakova anonamanto ubhohi pāṇitalehi jaṇṇukāni parimasati parimajjati …
kosohitavatthaguyho hoti …
suvaṇṇavaṇṇo hoti kañcanasannibhattaco …
sukhumacchavi hoti, sukhumattā chaviyā rajojallaṁ kāye na upalimpati …
ekekalomo hoti, ekekāni lomāni lomakūpesu jātāni …
uddhaggalomo hoti, uddhaggāni lomāni jātāni nīlāni añjanavaṇṇāni kuṇḍalāvaṭṭāni dakkhiṇāvaṭṭakajātāni …
brahmujugatto hoti …
sattussado hoti …
sīhapubbaddhakāyo hoti …
citantaraṁso hoti …
nigrodhaparimaṇḍalo hoti, yāvatakvassa kāyo tāvatakvassa byāmo yāvatakvassa byāmo tāvatakvassa kāyo …
samavaṭṭakkhandho hoti …
rasaggasaggī hoti …
sīhahanu hoti …
cattālīsadanto hoti …
samadanto hoti …
aviraḷadanto hoti …
susukkadāṭho hoti …
pahūtajivho hoti …
brahmassaro hoti karavīkabhāṇī …
abhinīlanetto hoti …
gopakhumo hoti …
uṇṇā bhamukantare jātā hoti, odātā mudutūlasannibhā. Yampi, bhikkhave, mahāpurisassa uṇṇā bhamukantare jātā hoti, odātā mudutūlasannibhā, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāpuriso uṇhīsasīso hoti. Yampi, bhikkhave, mahāpuriso uṇhīsasīso hoti, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Imāni kho tāni, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā.
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Imāni kho, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni bāhirakāpi isayo dhārenti, no ca kho te jānanti:
‘imassa kammassa kaṭattā idaṁ lakkhaṇaṁ paṭilabhatī’ti.
1. Suppatiṭṭhitapādatālakkhaṇaṁ
Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno daḷhasamādāno ahosi kusalesu dhammesu, avatthitasamādāno kāyasucarite vacīsucarite manosucarite dānasaṁvibhāge sīlasamādāne uposathupavāse matteyyatāya petteyyatāya sāmaññatāya brahmaññatāya kule jeṭṭhāpacāyitāya aññataraññataresu ca adhikusalesu dhammesu.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
So tattha aññe deve dasahi ṭhānehi adhiggaṇhāti dibbena āyunā dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbena ādhipateyyena dibbehi rūpehi dibbehi saddehi dibbehi gandhehi dibbehi rasehi dibbehi phoṭṭhabbehi.
So tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Suppatiṭṭhitapādo hoti.
Samaṁ pādaṁ bhūmiyaṁ nikkhipati, samaṁ uddharati, samaṁ sabbāvantehi pādatalehi bhūmiṁ phusati.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti;
Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ akhilamanimittamakaṇṭakaṁ iddhaṁ phītaṁ khemaṁ sivaṁ nirabbudaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Rājā samāno kiṁ labhati?
Akkhambhiyo hoti kenaci manussabhūtena paccatthikena paccāmittena.
Rājā samāno idaṁ labhati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Buddho samāno kiṁ labhati?
Akkhambhiyo hoti abbhantarehi vā bāhirehi vā paccatthikehi paccāmittehi rāgena vā dosena vā mohena vā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Sacce ca dhamme ca dame ca saṁyame,
Soceyyasīlālayuposathesu ca;
Dāne ahiṁsāya asāhase rato,
Daḷhaṁ samādāya samattamācari.
So tena kammena divaṁ samakkami,
Sukhañca khiḍḍāratiyo ca anvabhi;
Tato cavitvā punarāgato idha,
Samehi pādehi phusī vasundharaṁ.
Byākaṁsu veyyañjanikā samāgatā,
Samappatiṭṭhassa na hoti khambhanā;
Gihissa vā pabbajitassa vā puna,
Taṁ lakkhaṇaṁ bhavati tadatthajotakaṁ.
Akkhambhiyo hoti agāramāvasaṁ,
Parābhibhū sattubhi nappamaddano;
Manussabhūtenidha hoti kenaci,
Akkhambhiyo tassa phalena kammuno.
Sace ca pabbajjamupeti tādiso,
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo;
Aggo na so gacchati jātu khambhanaṁ,
Naruttamo esa hi tassa dhammatā”ti.
2. Pādatalacakkalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
bahujanassa sukhāvaho ahosi, ubbegauttāsabhayaṁ apanuditā, dhammikañca rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidhātā, saparivārañca dānaṁ adāsi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Heṭṭhāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni suvibhattantarāni.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāparivāro hoti;
mahāssa honti parivārā brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāparivāro hoti;
mahāssa honti parivārā bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pure puratthā purimāsu jātisu,
Manussabhūto bahunaṁ sukhāvaho;
Ubbhegauttāsabhayāpanūdano,
Guttīsu rakkhāvaraṇesu ussuko.
So tena kammena divaṁ samakkami,
Sukhañca khiḍḍāratiyo ca anvabhi;
Tato cavitvā punarāgato idha,
Cakkāni pādesu duvesu vindati.
Samantanemīni sahassarāni ca,
Byākaṁsu veyyañjanikā samāgatā;
Disvā kumāraṁ satapuññalakkhaṇaṁ,
Parivāravā hessati sattumaddano.
Tathā hi cakkāni samantanemini,
Sace na pabbajjamupeti tādiso;
Vatteti cakkaṁ pathaviṁ pasāsati,
Tassānuyantādha bhavanti khattiyā.
Mahāyasaṁ samparivārayanti naṁ,
Sace ca pabbajjamupeti tādiso;
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo,
Devā manussāsurasakkarakkhasā.
Gandhabbanāgā vihagā catuppadā,
Anuttaraṁ devamanussapūjitaṁ;
Mahāyasaṁ samparivārayanti nan”ti.
3–5. Āyatapaṇhitāditilakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato ahosi nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī vihāsi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni tīṇi mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Āyatapaṇhi ca hoti, dīghaṅguli ca brahmujugatto ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Dīghāyuko hoti ciraṭṭhitiko, dīghamāyuṁ pāleti, na sakkā hoti antarā jīvitā voropetuṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena paccāmittena.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Dīghāyuko hoti ciraṭṭhitiko, dīghamāyuṁ pāleti, na sakkā hoti antarā jīvitā voropetuṁ paccatthikehi paccāmittehi samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Māraṇavadhabhayattano viditvā,
Paṭivirato paraṁ māraṇāyahosi;
Tena sucaritena saggamagamā,
Sukataphalavipākamanubhosi.
Caviya punaridhāgato samāno,
Paṭilabhati idha tīṇi lakkhaṇāni;
Bhavati vipuladīghapāsaṇhiko,
Brahmāva suju subho sujātagatto.
Subhujo susu susaṇṭhito sujāto,
Mudutalunaṅguliyassa honti;
Dīghā tībhi purisavaraggalakkhaṇehi,
Cirayapanāya kumāramādisanti.
Bhavati yadi gihī ciraṁ yapeti,
Cirataraṁ pabbajati yadi tato hi;
Yāpayati ca vasiddhibhāvanāya,
Iti dīghāyukatāya taṁ nimittan”ti.
6. Sattussadatālakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
dātā ahosi paṇītānaṁ rasitānaṁ khādanīyānaṁ bhojanīyānaṁ sāyanīyānaṁ lehanīyānaṁ pānānaṁ.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati, sattussado hoti, sattassa ussadā honti;
ubhosu hatthesu ussadā honti, ubhosu pādesu ussadā honti, ubhosu aṁsakūṭesu ussadā honti, khandhe ussado hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti paṇītānaṁ rasitānaṁ khādanīyānaṁ bhojanīyānaṁ sāyanīyānaṁ lehanīyānaṁ pānānaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti paṇītānaṁ rasitānaṁ khādanīyānaṁ bhojanīyānaṁ sāyanīyānaṁ lehanīyānaṁ pānānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Khajjabhojjamatha leyya sāyiyaṁ,
Uttamaggarasadāyako ahu;
Tena so sucaritena kammunā,
Nandane ciramabhippamodati.
Satta cussade idhādhigacchati,
Hatthapādamudutañca vindati;
Āhu byañjananimittakovidā,
Khajjabhojjarasalābhitāya naṁ.
Yaṁ gihissapi tadatthajotakaṁ,
Pabbajjampi ca tadādhigacchati;
Khajjabhojjarasalābhiruttamaṁ,
Āhu sabbagihibandhanacchidan”ti.
7–8. Karacaraṇamudujālatālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
catūhi saṅgahavatthūhi janaṁ saṅgāhako ahosi—
dānena peyyavajjena atthacariyāya samānattatāya.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Mudutalunahatthapādo ca hoti jālahatthapādo ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Susaṅgahitaparijano hoti, susaṅgahitāssa honti brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …
buddho samāno kiṁ labhati?
Susaṅgahitaparijano hoti, susaṅgahitāssa honti bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Dānampi catthacariyatañca,
Piyavāditañca samānattatañca;
Kariyacariyasusaṅgahaṁ bahūnaṁ,
Anavamatena guṇena yāti saggaṁ.
Caviya punaridhāgato samāno,
Karacaraṇamudutañca jālino ca;
Atirucirasuvaggudassaneyyaṁ,
Paṭilabhati daharo susu kumāro.
Bhavati parijanassavo vidheyyo,
Mahimaṁ āvasito susaṅgahito;
Piyavadū hitasukhataṁ jigīsamāno,
Abhirucitāni guṇāni ācarati.
Yadi ca jahati sabbakāmabhogaṁ,
Kathayati dhammakathaṁ jino janassa;
Vacanapaṭikarassābhippasannā,
Sutvāna dhammānudhammamācarantī”ti.
9–10. Ussaṅkhapāda-uddhaggalomatālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
atthūpasaṁhitaṁ dhammūpasaṁhitaṁ vācaṁ bhāsitā ahosi, bahujanaṁ nidaṁsesi, pāṇīnaṁ hitasukhāvaho dhammayāgī.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Ussaṅkhapādo ca hoti, uddhaggalomo ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato, sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Aggo ca hoti seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca kāmabhogīnaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Aggo ca hoti seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca sabbasattānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Atthadhammasahitaṁ pure giraṁ,
Erayaṁ bahujanaṁ nidaṁsayi;
Pāṇinaṁ hitasukhāvaho ahu,
Dhammayāgamayajī amaccharī.
Tena so sucaritena kammunā,
Suggatiṁ vajati tattha modati;
Lakkhaṇāni ca duve idhāgato,
Uttamappamukhatāya vindati.
Ubbhamuppatitalomavā saso,
Pādagaṇṭhirahu sādhusaṇṭhitā;
Maṁsalohitācitā tacotthatā,
Uparicaraṇasobhanā ahu.
Gehamāvasati ce tathāvidho,
Aggataṁ vajati kāmabhoginaṁ;
Tena uttaritaro na vijjati,
Jambudīpamabhibhuyya iriyati.
Pabbajampi ca anomanikkamo,
Aggataṁ vajati sabbapāṇinaṁ;
Tena uttaritaro na vijjati,
Sabbalokamabhibhuyya viharatī”ti.
11. Eṇijaṅghalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
sakkaccaṁ vācetā ahosi sippaṁ vā vijjaṁ vā caraṇaṁ vā kammaṁ vā:
‘kintime khippaṁ vijāneyyuṁ, khippaṁ paṭipajjeyyuṁ, na ciraṁ kilisseyyun’”ti.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Eṇijaṅgho hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Yāni tāni rājārahāni rājaṅgāni rājūpabhogāni rājānucchavikāni tāni khippaṁ paṭilabhati.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Yāni tāni samaṇārahāni samaṇaṅgāni samaṇūpabhogāni samaṇānucchavikāni, tāni khippaṁ paṭilabhati.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Sippesu vijjācaraṇesu kammesu,
Kathaṁ vijāneyyuṁ lahunti icchati;
Yadūpaghātāya na hoti kassaci,
Vāceti khippaṁ na ciraṁ kilissati.
Taṁ kammaṁ katvā kusalaṁ sukhudrayaṁ,
Jaṅghā manuññā labhate susaṇṭhitā;
Vaṭṭā sujātā anupubbamuggatā,
Uddhaggalomā sukhumattacotthatā.
Eṇeyyajaṅghoti tamāhu puggalaṁ,
Sampattiyā khippamidhāhu lakkhaṇaṁ;
Gehānulomāni yadābhikaṅkhati,
Apabbajaṁ khippamidhādhigacchati.
Sace ca pabbajjamupeti tādiso,
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo;
Anucchavikassa yadānulomikaṁ,
Taṁ vindati khippamanomavikkamo”ti.
12. Sukhumacchavilakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā upasaṅkamitvā paripucchitā ahosi:
‘kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ, kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ, kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ, kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya assa, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya assā’ti.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Sukhumacchavi hoti, sukhumattā chaviyā rajojallaṁ kāye na upalimpati.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāpañño hoti, nāssa hoti koci paññāya sadiso vā seṭṭho vā kāmabhogīnaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāpañño hoti puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño, nāssa hoti koci paññāya sadiso vā seṭṭho vā sabbasattānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pure puratthā purimāsu jātisu,
Aññātukāmo paripucchitā ahu;
Sussūsitā pabbajitaṁ upāsitā,
Atthantaro atthakathaṁ nisāmayi.
Paññāpaṭilābhagatena kammunā,
Manussabhūto sukhumacchavī ahu;
Byākaṁsu uppādanimittakovidā,
Sukhumāni atthāni avecca dakkhiti.
Sace na pabbajjamupeti tādiso,
Vatteti cakkaṁ pathaviṁ pasāsati;
Atthānusiṭṭhīsu pariggahesu ca,
Na tena seyyo sadiso ca vijjati.
Sace ca pabbajjamupeti tādiso,
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo;
Paññāvisiṭṭhaṁ labhate anuttaraṁ,
Pappoti bodhiṁ varabhūrimedhaso”ti.
13. Suvaṇṇavaṇṇalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
akkodhano ahosi anupāyāsabahulo,
bahumpi vutto samāno nābhisajji na kuppi na byāpajji na patitthīyi, na kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi.
Dātā ca ahosi sukhumānaṁ mudukānaṁ attharaṇānaṁ pāvuraṇānaṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Suvaṇṇavaṇṇo hoti kañcanasannibhattaco.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti sukhumānaṁ mudukānaṁ attharaṇānaṁ pāvuraṇānaṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti sukhumānaṁ mudukānaṁ attharaṇānaṁ pāvuraṇānaṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Akkodhañca adhiṭṭhahi adāsi,
Dānañca vatthāni sukhumāni succhavīni;
Purimatarabhave ṭhito abhivissaji,
Mahimiva suro abhivassaṁ.
Taṁ katvāna ito cuto dibbaṁ,
Upapajji sukataphalavipākamanubhutvā;
Kanakatanusannibho idhābhibhavati,
Suravarataroriva indo.
Gehañcāvasati naro apabbajja,
Micchaṁ mahatimahiṁ anusāsati;
Pasayha sahidha sattaratanaṁ,
Paṭilabhati vimalasukhumacchaviṁ suciñca.
Lābhī acchādanavatthamokkhapāvuraṇānaṁ,
Bhavati yadi anāgāriyataṁ upeti;
Sahito purimakataphalaṁ anubhavati,
Na bhavati katassa panāso”ti.
14. Kosohitavatthaguyhalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
cirappanaṭṭhe sucirappavāsino ñātimitte suhajje sakhino samānetā ahosi.
Mātarampi puttena samānetā ahosi, puttampi mātarā samānetā ahosi, pitarampi puttena samānetā ahosi, puttampi pitarā samānetā ahosi, bhātarampi bhātarā samānetā ahosi, bhātarampi bhaginiyā samānetā ahosi, bhaginimpi bhātarā samānetā ahosi, bhaginimpi bhaginiyā samānetā ahosi, samaṅgīkatvā ca abbhanumoditā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati—
kosohitavatthaguyho hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Pahūtaputto hoti, parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Pahūtaputto hoti, anekasahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pure puratthā purimāsu jātisu,
Cirappanaṭṭhe sucirappavāsino;
Ñātī suhajje sakhino samānayi,
Samaṅgikatvā anumoditā ahu.
So tena kammena divaṁ samakkami,
Sukhañca khiḍḍāratiyo ca anvabhi;
Tato cavitvā punarāgato idha,
Kosohitaṁ vindati vatthachādiyaṁ.
Pahūtaputto bhavatī tathāvidho,
Parosahassañca bhavanti atrajā;
Sūrā ca vīrā ca amittatāpanā,
Gihissa pītiṁ jananā piyaṁvadā.
Bahūtarā pabbajitassa iriyato,
Bhavanti puttā vacanānusārino;
Gihissa vā pabbajitassa vā puna,
Taṁ lakkhaṇaṁ jāyati tadatthajotakan”ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
15–16. Parimaṇḍalaanonamajaṇṇuparimasanalakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
mahājanasaṅgahaṁ samekkhamāno samaṁ jānāti sāmaṁ jānāti, purisaṁ jānāti purisavisesaṁ jānāti:
‘ayamidamarahati ayamidamarahatī’ti tattha tattha purisavisesakaro ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Nigrodhaparimaṇḍalo ca hoti, ṭhitakoyeva ca anonamanto ubhohi pāṇitalehi jaṇṇukāni parimasati parimajjati.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo.
Tassimāni dhanāni honti, seyyathidaṁ—
saddhādhanaṁ sīladhanaṁ hiridhanaṁ ottappadhanaṁ sutadhanaṁ cāgadhanaṁ paññādhanaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Tuliya paṭivicaya cintayitvā,
Mahājanasaṅgahanaṁ samekkhamāno;
Ayamidamarahati tattha tattha,
Purisavisesakaro pure ahosi.
Mahiñca pana ṭhito anonamanto,
Phusati karehi ubhohi jaṇṇukāni;
Mahiruhaparimaṇḍalo ahosi,
Sucaritakammavipākasesakena.
Bahuvividhanimittalakkhaṇaññū,
Atinipuṇā manujā byākariṁsu;
Bahuvividhā gihīnaṁ arahāni,
Paṭilabhati daharo susu kumāro.
Idha ca mahīpatissa kāmabhogī,
Gihipatirūpakā bahū bhavanti;
Yadi ca jahati sabbakāmabhogaṁ,
Labhati anuttaraṁ uttamadhanaggan”ti.
17–19. Sīhapubbaddhakāyāditilakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
bahujanassa atthakāmo ahosi hitakāmo phāsukāmo yogakkhemakāmo:
‘kintime saddhāya vaḍḍheyyuṁ, sīlena vaḍḍheyyuṁ, sutena vaḍḍheyyuṁ, cāgena vaḍḍheyyuṁ, dhammena vaḍḍheyyuṁ, paññāya vaḍḍheyyuṁ, dhanadhaññena vaḍḍheyyuṁ, khettavatthunā vaḍḍheyyuṁ, dvipadacatuppadehi vaḍḍheyyuṁ, puttadārehi vaḍḍheyyuṁ, dāsakammakaraporisehi vaḍḍheyyuṁ, ñātīhi vaḍḍheyyuṁ, mittehi vaḍḍheyyuṁ, bandhavehi vaḍḍheyyun’ti.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni tīṇi mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Sīhapubbaddhakāyo ca hoti citantaraṁso ca samavaṭṭakkhandho ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Aparihānadhammo hoti, na parihāyati dhanadhaññena khettavatthunā dvipadacatuppadehi puttadārehi dāsakammakaraporisehi ñātīhi mittehi bandhavehi, na parihāyati sabbasampattiyā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Aparihānadhammo hoti, na parihāyati saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya, na parihāyati sabbasampattiyā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Saddhāya sīlena sutena buddhiyā,
Cāgena dhammena bahūhi sādhuhi;
Dhanena dhaññena ca khettavatthunā,
Puttehi dārehi catuppadehi ca.
Ñātīhi mittehi ca bandhavehi ca,
Balena vaṇṇena sukhena cūbhayaṁ;
Kathaṁ na hāyeyyuṁ pareti icchati,
Atthassa middhī ca panābhikaṅkhati.
Sa sīhapubbaddhasusaṇṭhito ahu,
Samavaṭṭakhandho ca citantaraṁso;
Pubbe suciṇṇena katena kammunā,
Ahāniyaṁ pubbanimittamassa taṁ.
Gihīpi dhaññena dhanena vaḍḍhati,
Puttehi dārehi catuppadehi ca;
Akiñcano pabbajito anuttaraṁ,
Pappoti bodhiṁ asahānadhammatan”ti.
20. Rasaggasaggitālakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosi pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati, rasaggasaggī hoti, uddhaggāssa rasaharaṇīyo gīvāya jātā honti samābhivāhiniyo.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Appābādho hoti appātaṅko, samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Na pāṇidaṇḍehi panātha leḍḍunā,
Satthena vā maraṇavadhena vā pana;
Ubbādhanāya paritajjanāya vā,
Na heṭhayī janatamaheṭhako ahu.
Teneva so sugatimupecca modati,
Sukhapphalaṁ kariya sukhāni vindati;
Samojasā rasaharaṇī susaṇṭhitā,
Idhāgato labhati rasaggasaggitaṁ.
Tenāhu naṁ atinipuṇā vicakkhaṇā,
Ayaṁ naro sukhabahulo bhavissati;
Gihissa vā pabbajitassa vā puna,
Taṁ lakkhaṇaṁ bhavati tadatthajotakan”ti.
21–22. Abhinīlanettagopakhumalakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
na ca visaṭaṁ, na ca visāci, na ca pana viceyya pekkhitā, ujuṁ tathā pasaṭamujumano, piyacakkhunā bahujanaṁ udikkhitā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Abhinīlanetto ca hoti gopakhumo ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato, sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Piyadassano hoti bahuno janassa, piyo hoti manāpo brāhmaṇagahapatikānaṁ negamajānapadānaṁ gaṇakamahāmattānaṁ anīkaṭṭhānaṁ dovārikānaṁ amaccānaṁ pārisajjānaṁ rājūnaṁ bhogiyānaṁ kumārānaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Piyadassano hoti bahuno janassa, piyo hoti manāpo bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ devānaṁ manussānaṁ asurānaṁ nāgānaṁ gandhabbānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Na ca visaṭaṁ na ca visāci,
Na ca pana viceyyapekkhitā;
Ujuṁ tathā pasaṭamujumano,
Piyacakkhunā bahujanaṁ udikkhitā.
Sugatīsu so phalavipākaṁ,
Anubhavati tattha modati;
Idha ca pana bhavati gopakhumo,
Abhinīlanettanayano sudassano.
Abhiyogino ca nipuṇā,
Bahū pana nimittakovidā;
Sukhumanayanakusalā manujā,
Piyadassanoti abhiniddisanti naṁ.
Piyadassano gihīpi santo ca,
Bhavati bahujanapiyāyito;
Yadi ca na bhavati gihī samaṇo hoti,
Piyo bahūnaṁ sokanāsano”ti.
23. Uṇhīsasīsalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
bahujanapubbaṅgamo ahosi kusalesu dhammesu bahujanapāmokkho kāyasucarite vacīsucarite manosucarite dānasaṁvibhāge sīlasamādāne uposathupavāse matteyyatāya petteyyatāya sāmaññatāya brahmaññatāya kule jeṭṭhāpacāyitāya aññataraññataresu ca adhikusalesu dhammesu.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati—
uṇhīsasīso hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano anvāyiko hoti, brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano anvāyiko hoti, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pubbaṅgamo sucaritesu ahu,
Dhammesu dhammacariyābhirato;
Anvāyiko bahujanassa ahu,
Saggesu vedayittha puññaphalaṁ.
Veditvā so sucaritassa phalaṁ,
Uṇhīsasīsattamidhajjhagamā;
Byākaṁsu byañjananimittadharā,
Pubbaṅgamo bahujanaṁ hessati.
Paṭibhogiyā manujesu idha,
Pubbeva tassa abhiharanti tadā;
Yadi khattiyo bhavati bhūmipati,
Paṭihārakaṁ bahujane labhati.
Atha cepi pabbajati so manujo,
Dhammesu hoti paguṇo visavī;
Tassānusāsaniguṇābhirato,
Anvāyiko bahujano bhavatī”ti.
24–25. Ekekalomatāuṇṇālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato ahosi, saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Ekekalomo ca hoti, uṇṇā ca bhamukantare jātā hoti odātā mudutūlasannibhā.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato, sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano upavattati, brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano upavattati, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Saccappaṭiñño purimāsu jātisu,
Advejjhavāco alikaṁ vivajjayi;
Na so visaṁvādayitāpi kassaci,
Bhūtena tacchena tathena bhāsayi.
Setā susukkā mudutūlasannibhā,
Uṇṇā sujātā bhamukantare ahu;
Na lomakūpesu duve ajāyisuṁ,
Ekekalomūpacitaṅgavā ahu.
Taṁ lakkhaṇaññū bahavo samāgatā,
Byākaṁsu uppādanimittakovidā;
Uṇṇā ca lomā ca yathā susaṇṭhitā,
Upavattatī īdisakaṁ bahujjano.
Gihimpi santaṁ upavattatī jano,
Bahu puratthāpakatena kammunā;
Akiñcanaṁ pabbajitaṁ anuttaraṁ,
Buddhampi santaṁ upavattati jano”ti.
26–27. Cattālīsaaviraḷadantalakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato ahosi. Ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya, iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Cattālīsadanto ca hoti aviraḷadanto ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Abhejjapariso hoti, abhejjāssa honti parisā, brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …
buddho samāno kiṁ labhati?
Abhejjapariso hoti, abhejjāssa honti parisā, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Vebhūtiyaṁ sahitabhedakāriṁ,
Bhedappavaḍḍhanavivādakāriṁ;
Kalahappavaḍḍhanaākiccakāriṁ,
Sahitānaṁ bhedajananiṁ na bhaṇi.
Avivādavaḍḍhanakariṁ sugiraṁ,
Bhinnānusandhijananiṁ abhaṇi;
Kalahaṁ janassa panudī samaṅgī,
Sahitehi nandati pamodati ca.
Sugatīsu so phalavipākaṁ,
Anubhavati tattha modati;
Dantā idha honti aviraḷā sahitā,
Caturo dasassa mukhajā susaṇṭhitā.
Yadi khattiyo bhavati bhūmipati,
Avibhediyāssa parisā bhavati;
Samaṇo ca hoti virajo vimalo,
Parisāssa hoti anugatā acalā”ti.
28–29. Pahūtajivhābrahmassaralakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato ahosi. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Pahūtajivho ca hoti brahmassaro ca karavīkabhāṇī.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Ādeyyavāco hoti, ādiyantissa vacanaṁ brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Ādeyyavāco hoti, ādiyantissa vacanaṁ bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Akkosabhaṇḍanavihesakāriṁ,
Ubbādhikaṁ bahujanappamaddanaṁ;
Abāḷhaṁ giraṁ so na bhaṇi pharusaṁ,
Madhuraṁ bhaṇi susaṁhitaṁ sakhilaṁ.
Manaso piyā hadayagāminiyo,
Vācā so erayati kaṇṇasukhā;
Vācāsuciṇṇaphalamanubhavi,
Saggesu vedayatha puññaphalaṁ.
Veditvā so sucaritassa phalaṁ,
Brahmassarattamidhamajjhagamā;
Jivhāssa hoti vipulā puthulā,
Ādeyyavākyavacano bhavati.
Gihinopi ijjhati yathā bhaṇato,
Atha ce pabbajati so manujo;
Ādiyantissa vacanaṁ janatā,
Bahuno bahuṁ subhaṇitaṁ bhaṇato”ti.
30. Sīhahanulakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato ahosi kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati,
sīhahanu hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Appadhaṁsiyo hoti kenaci manussabhūtena paccatthikena paccāmittena.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Appadhaṁsiyo hoti abbhantarehi vā bāhirehi vā paccatthikehi paccāmittehi, rāgena vā dosena vā mohena vā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Na samphappalāpaṁ na muddhataṁ,
Avikiṇṇavacanabyappatho ahosi;
Ahitamapi ca apanudi,
Hitamapi ca bahujanasukhañca abhaṇi.
Taṁ katvā ito cuto divamupapajji,
Sukataphalavipākamanubhosi;
Caviya punaridhāgato samāno,
Dvidugamavaratarahanuttamalattha.
Rājā hoti suduppadhaṁsiyo,
Manujindo manujādhipati mahānubhāvo;
Tidivapuravarasamo bhavati,
Suravarataroriva indo.
Gandhabbāsurayakkharakkhasebhi,
Surehi na hi bhavati suppadhaṁsiyo;
Tathatto yadi bhavati tathāvidho,
Idha disā ca paṭidisā ca vidisā cā”ti.
31–32. Samadantasusukkadāṭhālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
micchājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvikaṁ kappesi, tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭaukkoṭanavañcananikatisāciyogachedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
So tattha aññe deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti dibbena āyunā dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbena ādhipateyyena dibbehi rūpehi dibbehi saddehi dibbehi gandhehi dibbehi rasehi dibbehi phoṭṭhabbehi.
So tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati, samadanto ca hoti susukkadāṭho ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti, seyyathidaṁ—
cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ akhilamanimittamakaṇṭakaṁ iddhaṁ phītaṁ khemaṁ sivaṁ nirabbudaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Rājā samāno kiṁ labhati?
Suciparivāro hoti sucissa honti parivārā brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Buddho samāno kiṁ labhati?
Suciparivāro hoti, sucissa honti parivārā, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Micchājīvañca avassaji samena vuttiṁ,
Sucinā so janayittha dhammikena;
Ahitamapi ca apanudi,
Hitamapi ca bahujanasukhañca acari.
Sagge vedayati naro sukhapphalāni,
Karitvā nipuṇebhi vidūhi sabbhi;
Vaṇṇitāni tidivapuravarasamo,
Abhiramati ratikhiḍḍāsamaṅgī.
Laddhāna mānusakaṁ bhavaṁ tato,
Cavitvāna sukataphalavipākaṁ;
Sesakena paṭilabhati lapanajaṁ,
Samamapi sucisusukkaṁ.
Taṁ veyyañjanikā samāgatā bahavo,
Byākaṁsu nipuṇasammatā manujā;
Sucijanaparivāragaṇo bhavati,
Dijasamasukkasucisobhanadanto.
Rañño hoti bahujano,
Suciparivāro mahatiṁ mahiṁ anusāsato;
Pasayha na ca janapadatudanaṁ,
Hitamapi ca bahujanasukhañca caranti.
Atha ce pabbajati bhavati vipāpo,
Samaṇo samitarajo vivaṭṭacchado;
Vigatadarathakilamatho,
Imamapi ca paramapi ca passati lokaṁ.
Tassovādakarā bahugihī ca pabbajitā ca,
Asuciṁ garahitaṁ dhunanti pāpaṁ;
Sa hi sucibhi parivuto bhavati,
Malakhilakalikilese panudehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Lakkhaṇasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Chapter 1
Thus have I heard. The Exalted One was once staying near Sāvatthī, in Anāthapiṇḍika’s Park, the Jeta-Vana.
And there the Exalted One addressed the Brethren, saying: Bhikkhus!
Yes, lord! They responded.
And he said: —
There are thirty-two special marks of the Super-man, brethren, and for the Superman possessing them two careers lie open, and none other. If he live the life of the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel, a righteous Lord of the Right, Ruler of the four quarters, Conqueror, Guardian of the people’s good, Owner of the Seven Treasures. His do those seven treasures become, to wit, the Wheel treasure, the Elephant treasure, the Horse treasure, the Gem treasure, the Woman treasure, the Housefather treasure, the Adviser treasure making the seventh. More than a thousand sons will be his, heroes, champions, vigorous of frame, crushers of the hosts of the enemy. He, when he has conquered this earth to its ocean bounds, is established not by the scourge, not by the sword, but by righteousness. But if such a boy go forth from the life of the House into the Homeless State, he becomes Arahant, a Buddha Supreme, rolling back the veil from the world.
And what, brethren, are the Thirty-two Marks of the Superman, wherewith endowed two careers lie open to him and none other:—that of a Monarch, Turner of the Wheel … that of Buddha Supreme?
(1) He hath feet with level tread. That this is so counts to him as one of the marks of the Superman.
(2) Moreover beneath, on the soles of his feet, wheels appear thousand-spoked, with tyre and hub, in every way complete and well divided. That this is so counts to him as one of the marks of the Superman.
(3) He has projecting heels. That this is so, etc.
(4) He is long in the fingers and toes. …
(5) Soft and tender in hands and feet. …
(6) With hands and feet like a net. …
(7) His ankles are like rounded shells. …
(8) His legs are like an antelope’s. …
(9) Standing and without bending he can touch and rub his knees with either hand. …
(10) His male organs are concealed in a sheath. …
(11) His complexion is like bronze, the colour of gold. …
(12) His skin is so delicately smooth that no dust cleaves to his body. …
(13) The down on it grows in single hairs one to each pore. …
(14) The down on his body turns upward, every hair of it, blue black in colour like eye-paint, in little curling rings, curling to the right. …
(15) He has a frame divinely straight. …
(16) He has the seven convex surfaces. …
(17) The front half of his body is like a lion’s. …
(18) There is no furrow between his shoulders. …
(19) His proportions have the symmetry of the banyan-tree: the length of his body is equal to the compass of his arms, and the compass of his arms is equal to his height. …
(20) His bust is equally rounded. …
(21) His taste is supremely acute. …
(22) His jaws are as a lion’s. …
(23) He has forty teeth. …
(24) Regular teeth. …
(25) Continuous teeth. …
(26) The eyeteeth are very lustrous. …
(27) His tongue is long. …
(28) He has a divine voice like the karavika bird’s. …
(29) His eyes are intensely blue. …
(30) He has eyelashes like a cow’s. …
(31) Between the eyebrows appears a hairy mole white and like soft cotton down. …
(32) His head is like a royal turban. …
These, brethren, are the Thirty-two Marks of the Superman, wherewith endowed he has two careers that lie open to him and none other: that of the Lord of the Wheel and that of Buddha Supreme. … And seers not of our communion, brethren, are acquainted with these Marks, but they know not for what deeds done any one of the Marks is acquired.
Whereas in whatsoever former birth, former state of becoming, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, took on mighty enterprise in all good things, took on unfaltering enterprise in seemly course of deed and word and thought:—in dispensing gifts, in virtuous undertakings, in keeping of festivals, in filial duties to mother and to father, in pious duties to recluse and brahmin, in honour to the head of the house and in other such things of lofty merit—by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, he when the body perished was after death reborn in a bright and blessed world. There was he endowed with a larger measure than other devas in ten matters, to wit in celestial years, beauty, happiness, glory, dominion, sights, sounds, odours, tastes and touches. Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquires this Mark of the Superman, to wit: feet with level tread, evenly placing his foot upon earth, evenly drawing it up, evenly touching earth with the entire surface of the foot.
He, endowed with this mark, if he dwell in the House, becomes Monarch, Turner of the Wheel. … Conquering not by the scourge, not by the sword, but by righteousness, he doth preside over this earth to its ocean-bounds, an earth void of barrenness, pitfalls or jungle, mighty, prosperous, secure and fortunate and without blemish. As Monarch, what doth he get? He is not liable to obstruction from any human foe with hostile intent. As Monarch this doth he get. If he leave the House for the Homeless State, he becomes Arahant, Buddha Supreme, rolling back the veil of the world. As Buddha what doth he get? He is not liable to obstruction from any foe or adversary within or without, out of lust or hate or illusion, whether recluse or brahmin or deva or Māra or Brahmā or anyone in all the world. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
With heart intent on speaking truth,
On righteous ways and self-restraint,
Curbing of sense and conduct pure,
On virtue’s hearth and holy feast,
On open hand and gentle life,
Harming no creature, shunning force:—
So fared he ever and a day,
And high resolve upon him took.
He by that karma passed to heaven
To share in bliss and ravishment;
Thence when he fell, reborn as man,
Lo! ‘twas with even-treading feet
He came and touched the lap of earth.
Interpreters together met
Declared: No obstacle can rise
For him who treads with level foot.
Dwell he among the laity,
Or leave the world as Wanderer,
This doth that sign betoken clear.
If of the House a dweller he,
Unhindered shall he hold his way,
By foemen; he shall overcome
All others, he shall rout the foe.
No human power can bid him stay,
So works in him his Karma’s fruit.
Or if, so treading, he doth fare
Forth from the world as Wanderer,
With vision clear and wholly fain
Worldly ambitions to forswear,
Chief among men, and peerless he
Never i’ faith comes back to birth.
This is for him the natural law.
Whereas in whatsoever former births, former state of becoming, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, lived for the weal of the great multitudes, dispeller of dread and of panic, purveyor of just protection and wardenship and giver of supplies, he, by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquires this mark of the Superman, to wit: beneath on the soles of his feet wheels appear, thousand-spoked, with tyre and hub, in every way complete and well divided.
Endowed with this Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? He hath a great retinue; many are they that surround him:—brahmin householders, townsmen and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatories in chief and youths of high degree. As Monarch this doth he get. If he leave the House for the Homeless State, he becomes … Buddha Supreme. … As Buddha what doth he get? He hath a great retinue; many are they that surround him: bhikkhus and bhikkhunīs, lay-brethren and lay-sisters, devas and men, Asuūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
In bygone years, in earlier births,
As man, to many bringing weal,
Dispelling dread and quaking fear,
Zealous to ward, to shield, to fend,
He by that Karma passed to heaven
To share in bliss and ravishment.
Thence when he fell, reborn as man,
Wheels upon his two feet are found,
With tyre complete and thousand spokes.
Interpreters together met
Declared when they beheld the boy
With marks of merit, hundredfold:
Ever surrounded will he be
By liegemen, foe-subduer he;
For lo! The wheels with tyres complete.
If, bearing these, he fare not forth
As Wanderer, he turns the Wheel
And rules the earth, where princes all
And nobles yield him fealty,
Attending him, the mighty one.
And if, so marked, he forth do fare
Leaving the world as Wanderer
With vision clear and wholly fain
Worldly ambitions to forswear,
Devas and men and demons all,
Asūras, Sakkas, Rakkhasas,
Nāgas, Gandhabbas. Garudas,
Four-footed beasts, all on him wait:—
Peerless, by devas and by men
Revered, so great and glorious he.
Whereas in former birth, former state of be- coming, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, putting away the taking of life, refrained therefrom and laying the scourge and sword aside, dwelt gentle and compassionate, merciful and friendly to all living creatures, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquires these three marks of the Superman, to wit: he has projecting heels, has long fingers and toes, and as to his limbs is divinely straight.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch, what doth he get? long-lived is he, long doth he last, for many years doth he preserve his life; no enemy whatever born of man is able in that interval to take his life away. As Monarch this doth he get. If he … become Buddha Supreme, … as Buddha what doth he get? long-lived is he, long doth he last, for many years doth he preserve his life; no enemy whatever, no foe, be he recluse or brahmin, or deva or Māra or Brahmā or anyone in the whole world is able in that interval to take his life. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Death’s dreadful havoc well he felt
And fellow creatures shunned to slay.
Through such good ways to heaven he came,
Of things well done enjoyed the fruit.
Deceased, and hither come once more,
As man these Marks are on him seen: —
Full long of heel is he reborn,
And like Brahma divinely straight,
Lovely to see, fair shaped of limb.
Of shapely arms and tender skin,
Goodly to see, proportioned well,
Tender and soft his finger’s touch.
By those three marks of man supreme
They tell the boy long-lived will be.
If a layman he grow to be,
Long years his life will be maintained,
And longer yet if from the world
He goeth forth as Wanderer,
Lord over self, life he maintains
To practise saintly gifts and power.
Wherefore ’Tis said those three marks be
The token of longevity.
Whereas in whatsoever former birth, former state of becoming, former sojourning, brethren, the Tathāgata then being human, became a giver of choice, well-flavoured, tasty, dainty foods, both hard and soft, and drinks, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquires this Mark of the Superman, to wit: he has the seven convexes. Seven are these: on both hands, on both feet, on both shoulders and on the trunk.
Endowed with this mark, if he dwell in the House he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? Choice well-flavoured food, tasty dainty drinks. As Monarch, this doth he get. If he … become Buddha … being Buddha what doth he get? Choice well-flavoured food, tasty dainty drinks. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said:—
Giver was he of divers foods,
And essences peerless in taste.
Through seemly act, in Nandana
Celestial grove, he revelled long.
On earth arrived, the sevenfold swell
He bore, on softly rounded limbs.
And skilled diviners then declared,
Fine food and drink would be his lot.
Nor for the layman’s life alone
Was clearly there the token shown,
Even if he as Wanderer
The world forsook, they said, that he,
Cleaving all layman’s bonds, e’en then
Foremost in gifts of food would be.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, became popular to the people by the four bases of popularity, to wit, by giving, by kindly speech, by sagacious conduct and by impartiality, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and by the abundance thereof, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these two marks of the Superman, to wit, soft and tender hands and feet, and the hands and feet (reticulated) like a net.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? He hath well affected attendants, well affected to him are brahmin house-fathers, towns-folk and country-folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch this doth he get. If he become … Buddha, … as Buddha what doth he get? Well affected are his attendants, well affected to him are bhikkhus and bhikkhunīs, lay-brethren and lay-sisters, devas and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
By fourfold act and exercise: —
By liberal hand, by conduct wise,
By kindly speech, by just intent —
Winning the hearts of many folk,
Holding such parts in honour high,
He went to bright and blessed worlds.
Deceased again and hither come,
Exceeding soft his hands and feet,
And bearing net-like meshes fine;
And passing loveliness is his,
Pleasant to see:—such gifts he hath,
This wondrous youth while yet a babe.
Disposer of the obedient crowd
Around him, lo! On earth he dwells
Of kindly speech, and ever fain
For others’ weal and happiness: —
Thus doth he practise virtues fair.
And if all wealth of worldly joys
He doth renounce, then Conqueror
Of self to common folk he talks
Of righteousness. And when they hear
With joyful hearts, responsive to
His word, they follow righteousness —
The greater duties and the less.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, became one who spoke to the multitude on their good, on righteousness, explaining to the multitude, became a bearer of welfare and happiness to living creatures, a celebrant of righteousness, he, by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these two marks of the Superman, to wit, ankles like rounded shells and down on the body turning upward.
Endowed with these marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? He becomes Chief, Best, Foremost, Supreme, Paramount among those who have worldly possessions. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? He becomes Chief, Best, Foremost, Supreme, Paramount over all beings. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Of yore he lifted up his voice,
Speaking anent the Good, the Right,
Declared it to the multitude,
And to all living things became
Bearer of weal and happiness,
And offered up unstintingly
The sacrifice of Right, of Truth.
Through seemly act to heaven he fared,
And in the bright world found delight.
On earth reborn, upon him showed
Two marks of highest happiness: —
Upright the down upon him stood;
Goodly to see his ankles were
Built up beneath the flesh, and skin
Above right shapely, beautiful.
If with these signs house-life he lead,
The height of this worlds wealth he wins;
Greater than he nowhere is found;
Of Jambudīpa lord he rules.
If he sublimely leave the world,
The greatest of all creatures he.
Greater than he is nowhere found.
The whole wide world itself is his;
He lives the Conqueror over all.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, became a zealous learner in craft, trade or science, in conduct or action, saying: What can I quickly learn, quickly understand, quickly acquire, nor long suffer toil? He, by the doing and by the accumulating of that karma … was reborn in a bright and blessed world. Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired this mark of the Superman, to wit: legs like an antelope’s.
Endowed with that Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. As Monarch what doth he get? Whatsoever things are worthy of a Monarch, the appanage, the treasures, the belongings of a Monarch, these doth he quickly acquire. As Monarch this doth he get. As Buddha what doth he get? Whatsoever things are worthy of a recluse, the appanage, the treasures, the belongings of a recluse, these doth he quickly acquire. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said:
In arts and crafts, in life, in deed,
How he may learn to know with ease:—
This was his wish; where none was harmed.
Swiftly he learnt, nor laboured long.
That karma wrought, with happy fruit,
Shapely and fair the limbs he gets,
And sweetly set in spiral curl
On delicate skin the down goes up.
Antelope-legged is such a man,
’Tis said, and further: ‘tis the sign
Of swiftly won prosperity.
As by each several downy tip,
Swiftly he comes by heart’s desire,
If from the world he go not forth.
But if, so marked, he forth do fare
Leaving the world as Wanderer,
With vision clear and wholly fain
Worldly ambitions to forswear,
All that his fit belongings are,
That doth he find accordingly.
And quick, when on his course sublime.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata then being human, drew nigh and questioned recluse or brahmin, saying: What, sir, is good? What is bad? What is right, what wrong? What ought I to do, or not to do? What when I have done it will long be for my unhappiness … or for my happiness? He, by the doing and by the accumulation of that karma … was reborn in a bright and blessed world. Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired this Mark of the Superman, to wit, his skin is so delicately smooth that no dust cleaves to his body.
Endowed with that Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch, what doth he get? Great wisdom will be his, nor is anyone therein equal to him, nor superior to him amongst those who have worldly wealth. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? Great wisdom will be his, and wisdom in many fields, and the wisdom of a glad heart, and the wisdom of swift thought, and the wisdom of discrimination and the wisdom of revulsion. Nor is anyone equal to him or superior in wisdom among all beings. As Buddha this doth he get.
This is the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
In days gone by, in former births,
All fain to know, a questioner,
He waited oft on saintly men,
Eager to listen and to learn.
And with a heart intent on good
Heeded discourse anent the good.
By deeds thus done in wisdom’s quest,
Fine skin is his, as man reborn.
Diviners of the signs at birth
Declared: ’Tis he will know and see
Full subtle meanings and mystery.
If one so marked leave not the world,
The Wheel he’ll turn and rule the earth.
And in such meanings as are taught
And among them that grasp them none
Will equal, none will him excel.
But if so marked he forth do fare,
Leaving the world as Wanderer,
With vision clear and wholly fain
Worldly ambitions to forswear,
He may attain the height supreme
Of wisdom, yea, Enlightenment
’Tis his to win, with powers of mind
So boundless and so excellent.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, lived without wrath, full of serenity,’ and even when much had been said, fell not foul of anyone, was neither angry, nor malign, nor enraged, manifesting neither anger nor hate nor melancholy, but was a giver of fine and soft coverlets, and cloaks, and fine linen, fine cotton, fine silken, fine woollen stuffs, he by the doing and by the accumulating of that karma … was reborn in a bright and blessed world. Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquires this Mark of the Superman, to wit, his complexion is like bronze, and his skin like gold.
Endowed with that Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. As Monarch what doth he get? Receiver is he of fine and soft coverlets and cloaks and fine linen, fine cotton, fine silken, fine woollen stuffs. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? Receiver is he of those same things. As Buddha this doth he get.
This is the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Good will he practised and he gave
Raiment and coverings fleecy, fine.
Thus he dispensed in former life,
As god pours rain upon the earth.
So doing fared he hence to heaven,
Reborn to fruit of deeds well done.
Those pleasures o’er, here takes he shape
With body as ‘twere wrought of gold.
Than gods more fine, like Indra's self.
Dwells he at home, a man not fain
To leave the world as Wanderer,
The mighty earth he governeth,
And for past effort he obtains
Choicest of robes and coverings
Abundant, delicate, textured fine.
Raiment and drapery superfine
Doth he receive no less, should he
Go forth into the homeless life.
Victor he wins the past-earned fruit,
What’s done can never come to naught.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, reunited long-lost with long-bereaved relatives, friends and comrades, reunited mother with child and child with mother, father with child and child with father, brother with brother, brother with sister and sister with brother, making them as one, causing them to rejoice, he, by the doing and by the accumulation of that karma, … was reborn in a bright and blessed world. Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired this Mark of the Superman, to wit, his male organs were concealed in a sheath.
Endowed with this Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. As Monarch what doth he get? Abundant children will be his, more than a thousand sons, heroes, victors vigorous of frame, crushers of the host of the enemy. As Monarch this doth he get. … As Buddha, what doth he get? Abundant children will be his, for thousands of children will he have, heroes, champions, vigorous of frame, crushers of the hosts of the enemy. As Buddha this doth he get.
This is the matter that was spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
In bygone days, in former births
Lost ones to those who long had sought,
Kinsfolk and friends to friends he brought,
Made them at one and made than glad.
By such deeds he to heaven fared
To share in bliss and ravishment.
Thence falling, born once more on earth.
His organs in a sheath were veiled.
Abundant offspring such will have,
More than a thousand sons are his,
Heroes and champions, quelling foes,
Greeting with words of filial love,
They are the layman’s joy and pride.
But if he fare as Wanderer,
Yet greater will his offspring be,
Children obedient to his word.
So be he layman or Wanderer
This mark such benefit portends.
Chapter 2
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, was sincerely desirous of contemplating the good will of the folk, knew what each man was like, himself recognized each, and knew his reputation and how he differed from others, and thus distinguishing, he judged ‘This one deserves that, and this one again deserves that,’—he, by the doing and by the accumulation of that karma … was reborn in a bright and blessed world. Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these two Marks of the Superman, to wit, his proportions have the symmetry of the banyan-tree; and standing without bending, he can touch and rub his knees with both hands.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? Rich is he, of great fortune, of great wealth, full is the treasure-house of much gold and silver, of many goods, of coin and corn. As Monarch, this doth he get. … As Buddha, what doth he get? Rich is he, of great fortune, of great wealth. And this is his plenteous currency:—faith, morality, modesty, discretion, learning, renunciation, wisdom. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said:
Seeking always the folk’s good will
Once did he wisely men appraise,
Weighed them in judgment, criticized,
Each by himself: He’s worthy that,
Detecting where each one excelled.
Hence can he now unbending stand,
And touch the knees with both his hands.
And as a tree for girth and height,
The fruit of other well-wrought deeds.
Experts in divers signs and marks,
Versed in such lore did thus declare:
Things fit for laymen of all kinds
As quite a little boy he gets.
Much worldly wealth for this world’s lord
And fit for laymen shall be his.
And if all wealth of worldly joys
He shall renounce, then doth he win
Of riches highest utmost crown.
Whereas, in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, grew desirous for the good of the many, for their welfare, their comfort, their safety, considering how they might increase in confidence, in morality, in education, in charity, in righteousness, and in wisdom, might increase in money and corn, in land, in animals two-footed and four-footed, in wife and children, in servants and slaves, in kinsfolk and friends and connections, he by the doing, and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these three Marks of the Superman, to wit, the front half of his body is like a lion’s; there is no furrow between his shoulders; his bust is equally rounded.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. As Monarch, what doth he get? He is incapable of failure and loss, he suffers no loss in money or corn, in fields or fallow, in two or four-footed beasts, in wife or children, in servants or slaves, in kinsfolk, friends or connections, he forfeits nothing wherein he succeeds. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? He is incapable of failure or loss, he suffers no loss in faith, in morals, in learning, in renunciation, in wisdom; he does not fail of success in anything. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this is said: —
In faith, in morals, teaching, wisdom, right,
And charity and other goodly things;
In coin and corn, fallow and field, in wife
And children and four-footed things; kinsfolk
And friends, connections, strength and comeliness
And happiness:—how shall my neighbour lose
Nowise in these? This was his wish, and thus
Their profit to achieve, his strong desire.
Handsome with lion-fronted body born,
No furrow in his back, and rounded front,
By karma wrought in bygone days, well stored,
Lo! For him now the birth-sign this shall be
Of fortune blest, immunity from loss.
As layman he shall thrive in corn and coin,
In family, and in four-footed beasts;
As Wanderer possessing naught, he wins
Enlightenment supreme and unsurpassed,
That perfect sphere where failure entereth not.
Whereas, in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, acquired the habit of harming no creatures, either by hand or clod or scourge or sword, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, was reborn in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining this world as ye know it, he acquired this Mark of the Superman, to wit, his taste is supremely acute; of anything on the tip [of the tongue] sensations of taste are produced in the throat and are diffused everywhere.
Endowed with that Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. As Monarch what doth he get? He experiences little of illness or suffering, he is possessed of good digestion, of an equable temperature, neither too hot nor too cold. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? He experiences little of illness or suffering, he is possessed of good digestion, of an equable temperature, neither too hot nor too cold, equable, of patience in exertion. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
No living thing he harmed, by hand, by scourge,
By clod, by sword, by any murderous death,
By bonds or threats, no injury he wrought.
Therefore in blissful bourne he reaped the fruit
Of happiness, found happy things for deeds.
Reborn on earth, he gets most delicate sense,
Erect taste-bearers planted well [in throat.]
And so the seers expert declared of him:
This man shall plenteously happy be.
Live he as layman or as Wanderer,
This is the thing betokened by the mark.
Whereas in whatsoever former birth … brethren, the Tathāgata, then being human, acquired the habit of looking not askance nor obliquely nor furtively, but with upright candid and lofty mind contemplating people with affectionate eyes, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof, when the body perished was reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these two Marks of the Superman, to wit, his eyes are intensely blue and he has eyelashes like a cow.
Endowed with these marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? The people love to see him; he is popular among, and beloved by brahmin householders, town and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? The people love to see him; he is popular among, and beloved by bhikkhus and bhikkhunīs, lay-brethren and lay-sisters, devas and men, Asūras, Nāgas and Gandhabbas. As Buddha, this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
With glance not furtive nor askance
Nor downward casting, but as one
Whose upright, candid lofty mind
Looked on the people lovingly,
Resulting fruit in blessed worlds
’Twas his t’ experience and enjoy.
Here born again, his lashes long
As cow’s, and eyes of deep dark blue,
Most fair to see, wise augurs said, —
Expert such signs t’ interpret well -
A babe with eyes so rare and fine
Betokens popularity.
Dear to the eyes of many folk,
As layman will he live beloved;
And if not lay, but Wanderer,
Loved as the healer of their griefs.
Whereas, in whatsoever former birth … brethren, the Tathāgata, then being human, became leader among men in goodness, foremost in virtuous deed and word and thought, in dispensing gifts, in conformity to morals, in attending religious festivals, in filial duties, in honouring recluses and brahmins, in deferring to the head of the family, and in other and sundry righteous observances, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired this Mark of the Superman, to wit, a head like a turban.
Endowed with this Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. As Monarch what doth he get? The loyalty of the multitude, of brahmin householders, town and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch this doth he get. As Buddha what doth he get? The loyalty of the multitude, of bhikkhus and bhikkhunīs, of lay-brethren and lay-sisters, devas and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Foremost among good livers once
He lived, and all his love was given
To walk in ways of righteousness,
Loyal to help the multitude.
He reaped in heaven his due reward.
Fruit of good life thus having plucked,
He came to earth with crested head.
And they who knew what signs should mean
Declared: This one will lead the folk.
As in the past so now all men
Will render services to him.
So they reported thus of him:—
If he be born of noble clan,
As lord of lands ‘tis his to win
The faithful service of the folk.
But if he leave the world, this man,
So versed and practised in good deeds,
Will draw the people after him,
For all their love will given be
To keep what he so well doth teach.
Whereas in whatsoever former birth … brethren, the Tathāgata, then being human, put away lying, felt revulsion at lies, became truth-speaker, bound to truth, trustworthy, consistent, breaking his word to no one, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance thereof … was reborn in a bright and blessed world. Deceasing thence, and attaining this life as ye know it, he acquired these two Marks of the Superman, to wit, down growing in separate hairs, all over his body; and between the eyebrows a hairy mole, white and like soft cotton-down.
Endowed with these. Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? The people conform to his wishes, brahmin householders, town and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch, this doth he get. As Buddha, what doth he get? The people conform to his wishes, bhikkhus and bhikkhunīs, lay-brethren and lay-sisters, devas and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha, this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
True was his promise in past births;
Sincere his word, he shunned the false;
A breaker of his troth to none,
He pleased by truth, consistency.
White, lustrous, soft as cotton-down
A mole was seen betwixt his brows;
And from each pore but one hair grew
About his skin:—so was he made.
When many versed in signs were met,
They saw the marks and thus declared:
With mole and hairs well-placed like these,
Him will the people all obey,
As layman they will look to him,
So far above by past wrought deeds.
As Buddha they will look to him,
Naught owning, Wanderer supreme.
Whereas, in whatsoever former birth … brethren, the Tathāgata, then being human, put away abusive speech, revolted against abusive speech, what he heard here not repeating elsewhere, to raise a quarrel against people here; and what he heard elsewhere not repeating here, to raise a quarrel against people there:—thus becoming a binder together of those who are divided, or fostering those who are friends, a peacemaker, lover of concord, impassioned for peace, a speaker of words that make for peace, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance of it, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these two Marks of the Superman, to wit, he had forty teeth, and they were in unbroken rows.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? Those about him are not to be divided against themselves, among brahmin householders, town and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch this doth he get. As Buddha what doth he get? A following that may not be divided against itself, either of bhikkhus and bhikkhunīs, lay-brethren and lay-sisters, gods and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha this doth he get.
This is the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
No speaker he of slanderous words,
Provoking breach of friendship, growth
Of breach, and fostering strife,
Embittering unseemly brawls,
Parent of rupture ‘twixt good friends.
That which he uttered made for peace,
Engendered binding what was broke,
With power to scatter people’s brawls,
In folk at one he found delight.
Resulting fruit in blessed worlds
’Twas his t’ experience and enjoy.
Back on this earth, his teeth grew close,
Two score, in even rank unbroke.
If trained to arms he will become
Lord of the soil, and those he rules
Will be a gentle, peaceful folk.
But if from lusts and blemish free,
He shall become a Wanderer,
Ranged and firm his band shall be.
Whereas in whatsoever former birth … brethren, the Tathāgata, then being human, put away rough language, revolted from rough language, and became an habitual speaker of whatsoever words are blameless, pleasant to the ear, lovely, reaching to the heart, urbane, pleasing to the people, beloved of the people, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance of it, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining life as ye know it, he acquired these two Marks of the Superman, to wit, his tongue is very long, and he has an exquisite voice like that of the karavīka-bird.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? A voice that commands attention; all take his words to heart, brahmin householders, town and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get?
A voice that commands attention; all take his voice to heart, bhikkhus, bhikkhunīs, lay-brethren, lay-sisters, devas and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Not his to lift abusive voice,
Contentious, hurtful, harsh and rude,
Afflicting, crushing many folk;
Gentle his voice and sweet to hear,
Well-pitched and kind, lovely in sense
His words, appealing to the heart.
Thus to his listeners giving ease,
Fruit of good deed was his t’ enjoy,
In heavens he tasted due reward.
Thereon again reborn on earth,
Gifted he grew with voice divine,
And bounteous was his length of tongue.
Weighty the words of him will be,
Crowned with success, if layman he.
But if this man do leave the world,
People will take his words to heart,
And lay great store on all he saith.
Whereas in whatsoever former birth … brethren, the Tathāgata, then being human, put away idle talk, revolted from idle talk, and became one who spoke in due season, in accordance with the facts, words full of meaning, who spoke of religion and of discipline, words worthy to be laid up in the heart, fitly illustrated, clearly divided and to the point, he by the doing and by the accumulating of that karma, by the mass and the abundance of it, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence, and attaining this life as ye know it, he acquired this Mark of the Superman, to wit, his jaws were as a lion’s.
Endowed with this Mark, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel. … As Monarch what doth he get? He cannot be overthrown by any human foe or adversary whatever. As Monarch this doth he get. … As Buddha what doth he get? He cannot be overthrown by any foes or things inimical within or without, out of lust or hate or illusion, by recluse or brahmin, by deva or Māra or Brahmā or anyone in the world. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Not idle talk nor foolishness
Framed by confused thought was his.
Things mischievous he brushed away;
For all men’s good and weal he spoke,
So doing, hence deceased in heaven
He reaped the fruit of deeds well done.
Once more deceased, reborn on earth,
His was a jaw resembling that
Of chief of twice-tway-footed things.
He, as a monarchy sure will be
Lord over men impregnable,
A sovereign over sons of men,
Of mighty power, like unto head
Of devas city, Indra’s self,
The leader of celestial hosts.
Heroes demonic or divine
Will find him hard to overthrow.
Such will he be, so will he prove
In layman’s life, throughout the earth.
Whereas in whatsoever former birth, former state of being, former sojourning, brethren, the Tathāgata, then being human, put away wrong livelihood, maintained himself by right livelihood, revolted from cheating with scales, bronzes or measures, from deceiving by bribery, cheating and fraud, from maiming, murder, putting in bonds, highway-robbery, dacoity and violence ; he by the doing and by the accumulation of that karma, by the mass and the abundance of it, was when the body perished reborn after death in a bright and blessed world. … Deceasing thence and attaining this life as ye know it, he acquired these two Marks of the Superman, to wit, even and very lustrous teeth.
Endowed with these Marks, if he dwell in the House, he becomes Monarch, Turner of the Wheel, a righteous Lord of the Right, ruler of the four quarters, Conqueror, Guardian of the people’s good, Owner of the Seven Treasures. His do those seven treasures become, to wit, the Wheel-treasure, the Elephant-treasure, the Horse-treasure, the Gem-treasure, the Woman-treasure, the Steward-treasure, the Adviser-treasure making the seventh. More than a thousand sons will be his, heroes, champions, vigorous of frame, crushers of the hosts of the enemy. He, when he has conquered this earth to its ocean-bounds, an earth void of barrenness, pitfalls or jungle, mighty, prosperous, secure, fortunate, without blemish, is established not by the scourge, not by the sword, but by righteousness. As Monarch what doth he get? Pure in heart are his attendants, pure-hearted are his brahmin, householders, town and country folk, treasury officials, bodyguards, warders, ministers, courtiers, tributary kings, feudatory chiefs and youths of high degree. As Monarch this doth he get.
But if he go forth from the life of the House into the Homeless State, he becomes Arahant, a Buddha Supreme, rolling back the veil from the world. As Buddha what doth he get? Pure in heart are his attendants, pure-hearted are bhikkhus and bhikkhunīs, lay-brethren and lay-sisters, devas and men, Asūras, Nāgas, Gandhabbas. As Buddha this doth he get.
This was the matter spoken of by the Exalted One.
Concerning it this was said: —
Wrong livelihood he laid aside:
And shaped a course just, pure and right.
Things mischievous he brushed away;
For all men’s good and weal he worked.
Happy rewards he learnt in heaven,
Works had he wrought the skilled and wise
Praise ever highly; hence his lot
To share in bliss and ravishment,
In devas city like the chief.
Thence falling, gaining man’s estate,
By fruit residual of good
He thus wins evenness of teeth,
Fine lustre too and purity.
Then the assembled augurs said,
Chief among men in wisdom’s lore:
Pure will the folk around him be
Whose teeth so even, bright and pure
And lustrous as bird’s plumage shine.
To him, as prince and governor
Of the great earth, all men shall be
Pure-hearted, waiting upon him.
The people shall not be oppressed
By violence, for they shall seek
The general good and happiness.
But if as Wanderer he lives,
Then free from evil, lusts all quenched,
And rolling back the [murky] Veil,
And pain gone by and weariness.
He sees both this world and the next.
Laymen and Wanderers galore
Heeding his teaching, cast aside
Ways bad, impure, that he doth blame.
For pure are they who on him wait.
[From hearts of men] he casteth out
The stains that mar, the barren soil,
The vice that preys, the hapless fate.
Như vầy tôi nghe.
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthi, rừng thái tử Jeta, vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
SC 3PTS cs 2~2 Này các Tỷ-kheo, ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này là gì mà những ai đầy đủ những tướng Ðại Trượng phu này sẽ chọn đi hai con đường, không còn con đường nào khác? Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương … Nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, vị ấy sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời?
SC 4Này các Tỷ-kheo, vị này có lòng bàn chân bằng phẳng. Tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân.
SC 5Này các Tỷ-kheo, dưới hai bàn chân của vị này có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xem với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ …
SC 6Này các Tỷ-kheo, vị này có gót chân thon dài …
SC 7Vị này có ngón tay, ngón chân dài …
SC 8Vị này có tay chân mềm mại …
SC 9Vị này tay chân có màn da lưới …
SC 10Vị này có mắt cá tròn như con sò …
SC 11Vị này có ống chân như con dê rừng …
SC 12Vị này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể sờ đầu gối với hai bàn tay …
SC 13Vị này có tướng mã âm tàng …
SC 14Vị này có màu da đồng, màu sắc như vàng …
SC 15Vị này có da trơn mướt, khiến bụi không thể bám dính vào …
SC 16Vị này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông …
SC 17Vị này có lông mọc xoáy trong thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt …
SC 18Vị này có thân hình cao thẳng …
SC 19Vị nầy có thân với các góc cạnh tròn đầy, đều đặn …
SC 20Vị này có nửa thân trước như thân con sư tử …
SC 21Vị này không có lõm khuyết xuống giữa hai vai …
SC 22Vị này có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân …
SC 23Vị này có bán thân trên vuông tròn …
SC 24Vị này có vị giác rất nhạy bén …
SC 25Vị này có quai hàm như con sư tử …
SC 26Vị này có bốn mươi cái răng …
SC 27Vị này có răng đều đặn …
SC 28Vị này có răng không khuyết hở …
SC 29Vị này có răng cửa trơn láng …
SC 30Vị này có tướng lưỡi rộng dài …
SC 31Vị này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim Ca-lăng-tần-già …
SC 32Vị này có hai mắt màu xanh đậm …
SC 33Vị này có lông mi con bò cái …
SC 34Vị này có hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ …
SC 35Vị này có nhục kế trên đầu …
SC 36PTS cs 3~3 Này các Tỷ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị Pháp vương, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình xuất gia, sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Này các Tỷ-kheo, những vị ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này nhưng không biết là do tạo nghiệp nào mà được những tướng này.
SC 37PTS cs 4~4 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp, thiện hành về thân, thiện hành về miệng, thiện hành về ý, phân định bố thí, thủ hộ giới luật, tuân giữ các lễ Bồ tát, hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, cúng dường Sa-môn, cúng dường Bà-la-môn, tôn kính các bậc đàn anh trong gia đình, và tất cả những vị tối thắng khác. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, cõi Trời hay đời này. Ở đây, Ngài có mười điểm thắng hơn chư Thiên khác, thiên giới thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên giới danh xưng, thiên giới uy lực, thiên giới sắc tướng, thiên giới âm thanh, thiên hương, thiên vị, thiên xúc. Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này, nghĩa là lòng bàn chân bằng phẳng, đặt chân trên đất một cách bằng phẳng, bàn chân chạm đất với toàn thể bàn chân một lần.
SC 38PTS cs 5~5 Ngài đầy đủ tướng này, nếu ở tại gia sẽ làm vị Chuyển Luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị Pháp vương, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị ấy là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân.
SC 39Vị này chinh phục và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao, trị vì đất này cho đến hải biên, một cõi đất không hoang vu, không có tướng nguy hiểm, không có gai góc, phồn vinh, phong phú, an ổn, may mắn, không có nguy hiểm. Làm vua được những gì? Làm vua không bị người thù hay kẻ địch làm trở ngại. Làm vua được lợi như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, Ngài thành bậc A-La-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được lợi những gì? Ngài không bị người thù hay kẻ địch ở trong cũng như ở ngoài, không bị tham, sân, si, không bị Sa—môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở ngoài đời làm trở ngại. Làm Phật được lợi như vậy.
SC 40Thế Tôn thuyết nghĩa như vậy.
SC 41PTS cs 6~6 Ở đây lời nói này được nói lên:
SC 42Sống chân thực đúng Pháp,
Ðiều phục và tự chế,
Sống với hạnh thanh tịnh,
Ngày trai giới, Bố tát.
Bố thí, không bạo động,
Không làm hại một ai,
Tâm kiên cố hành trì,
Sống thật sự toàn diện.
Với hạnh nghiệp như vậy,
Ngài được sanh cõi Trời,
Sống trong niềm hoan hỷ,
An lạc vô cùng tận.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Với bàn chân bằng phẳng,
Chạm đất thật đều đặn.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Không ai làm trở ngại,
Vị bàn chân bằng phẳng.
Dầu tại gia, xuất gia.
Nghĩa tướng thật rõ ràng,
Nếu sống tại gia đình,
Không bị trở ngại gì,
Chiến thắng mọi quân thù.
Ðại phá cả quân địch,
Không ai ngăn chặn được,
Vị nghiệp báo như vậy.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt,
Là bậc Thánh siêu phàm,
Không còn phải thai sanh,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Pháp nhĩ là như vậy.
SC 43PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, sống vì hạnh phúc cho chúng sanh, trừ diệt mọi sợ hãi kinh hoàng, sắp đặt sự che chở, hộ trì, bảo vệ đúng Pháp, bố thí cho các người tùy tùng. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của sự nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cõi thiện thú, thiên giới hay đời này … Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này: Dưới bàn chân, có hình bánh xe hiện ra, với một ngàn tăm xe, với bánh xe, trục xe, các bộ phận hoàn toàn đầy đủ.
SC 44PTS cs 8~8 Ngài đầy đủ tướng này, nếu ở tại gia thành vị Chuyển Luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Có nhiều kẻ hầu cận. Số hầu cận rất đông, có cư sĩ, Bà la môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ngài thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được những gì? Ngài có đại chúng hầu cận, số đại chúng rất đông, gồm có Tỷ-kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, các loài Thần rắn, Càn thát bà. Làm Phật được như vậy.
SC 45Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 46PTS cs 9~9 Ở đây lời nói này được nói lên:
SC 47Trong những năm đã qua,
Trong những đời quá khứ,
Khi Ngài được làm Người,
Khiến nhiều người hạnh phúc.
Ngài trừ diệt kinh hoàng,
Hộ trì và bảo vệ,
Nhờ nghiệp ấy, sanh Thiên,
Hưởng an lạc hạnh phúc.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Dưới hai bàn chân Ngài,
Có bánh xe hiện ra,
Với bánh xe đầy đủ,
Ðủ một ngàn căm xe.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Khi thấy trăm đức này:
Ðược quần chúng bao vây,
Ðịch quân được nhiếp phục,
Như bánh xe quay tròn,
Với vành xe đầy đủ.
Nếu Ngài không xuất gia,
Sống đời sống như vậy,
Ngài chuyển vận bánh xe,
Trị vì khắp cõi đất.
Ở đây Sát đế lỵ,
Ðều chịu thần phục Ngài,
Hầu hạ chung quanh Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát dục, sáng suốt,
chư Thiên và loài Người,
Ðế thích và Dạ xoa,
Càn thát bà, Long xà,
Phi điểu, loài bốn chân,
Tất cả đoanh vây Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Ðược Thiên, Nhơn cung kính.
SC 48PTS cs 10~10 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ sát sanh, chế ngự sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này … Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu này: gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân dài và tay chân mềm mại.
SC 49PTS cs 11~11 Ngài đầy đủ ba tướng này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân thánh vương … Làm vua được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một người nào dưới hình thức kẻ thù hay kẻ nghịch có thể hại mạng sống Ngài. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một kẻ thù, kẻ nghịch nào có thể hại được mạng sống Ngài, dưới hình thức Sa môn, Bà la môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trong đời. Làm Phật được như vậy.
SC 50Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 51PTS cs 12~12 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 52Tự biết mình sợ hãi,
Sợ chết sợ tàn hại,
Ngài từ bỏ giết hại,
Hết mọi loài chúng sanh.
Nhờ sống hành thiện pháp,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Tự hưởng quả dị thục,
Do thiện báo đem lại.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Ðược hưởng tại nơi đây,
Ba Ðại trượng phu tướng:
Gót chân đầy và dài,
Thân thẳng như Phạm thiên.
Khả ái, hình vóc đẹp,
Khéo cân xứng, khéo sanh,
Các ngón tay, ngón chân,
Ðều mềm mại trẻ đẹp.
Với ba tướng Trượng phu,
Sống lâu luôn luôn trẻ.
Nếu sống tại gia đình,
Thọ mạng sẽ lâu dài.
Nếu sống đời xuất gia,
Tuổi thọ được dài thêm,
Như vậy tướng hảo này,
Là tướng tuổi trường thọ.
SC 53PTS cs 13~13 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, là vị bố thí các món ăn loại cứng loại mềm, các loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này … Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này là bảy chỗ tròn đầy. Bảy chỗ tròn đầy là hai tay tròn đầy, hai chân tròn đầy, hai vai tròn đầy và thân hình tròn đầy.
SC 54PTS cs 14~14 Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Ðược các món ăn, loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Ðược các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm Phật được như vậy.
SC 55Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 56PTS cs 15~15 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 57Bố thí các món ăn,
Thượng vị hợp sở thích
Loại cứng vị hợp sở thích
Loại cứng và loại mềm,
Loại liếm cả loại nếm.
Nhờ hành thiện tốt đẹp,
Sống lâu thiên hỷ lạc.
Ðược sanh tại chỗ này,
Với bảy chỗ tròn đầy.
Với tay chân mềm mại,
Nhà chiêm tướng thiện xảo,
Tuyên bố Ngài đầy đủ,
Món ăn thật ngon lành,
Loại cứng và loại mềm.
Không riêng gì tại gia,
Ðược tướng hảo như vậy,
Nếu sống hạnh xuất gia,
Cũng được hảo tướng ấy.
Món ăn thật thượng vị
Loại cứng và loại mềm,
Chặt đứt các trói buộc
Tất cả hàng cư sĩ.
SC 58PTS cs 16~16 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, được đầy đủ Bốn Nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới, hay đời này. Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: Tay chân mềm mại, và có lưới da giữa ngón tay, ngón chân.
SC 59PTS cs 17~17 Ngài đầy đủ hai tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng. Ðược khéo thâu nhiếp các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng, được khéo thâu nhiếp các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long thần, Càn-thát-bà. Làm Phật được như vậy.
SC 60Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 61PTS cs 18~18 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 62Bố thí và lợi hành,
Ái ngữ và đồng sự,
Nhiếp phục nhiều tùy tùng.
Do hành thiện pháp này,
Nhờ vô lượng công đức,
Ðược sanh lên cõi Trời.
Tạ thế tại chỗ kia,
Tái sanh tại chỗ này,
Do hạnh ấy tay chân,
Mềm mại và có lưới.
Ðược sắc tướng đoan nghiêm,
Mỹ lệ và khả ái
Dầu còn là niên thiếu,
Trẻ thơ măng sữa vậy,
Quần chúng chịu tùy thuận,
Nhiếp phục cõi đất này.
Luôn luôn dùng ái ngữ,
Cầu hạnh phúc quần sanh.
Như vậy sống thanh tịnh,
Với công đức thù thắng.
Nếu Ngài sống từ bỏ,
Mọi dục lạc tài sản,
Tuyên thuyết vi diệu pháp,
Vị chiến thắng quần sanh,
Họ nghe tâm hoan hỷ,
Vâng hành lời Ngài dạy.
Họ sống thiện hành trì,
Theo Chánh pháp, Tùy pháp.
SC 63PTS cs 19~19 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp … Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây với hai tướng Ðại Trượng phu: mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên.
SC 64PTS cs 20~20 Ngài đầy đủ với những tướng như vậy, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì. Tài vật dục lạc đều tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Ngài trở thành bậc tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất cho toàn thể chúng sanh. Làm Phật được như vậy.
SC 65Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 66PTS cs 21~21 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 67Thuở xưa lời Ngài nói,
Thuyết giảng cho Ðại chúng,
Liên hệ đến mục đích,
Liên hệ đến Chánh pháp.
Ngài là người đem lại,
Hạnh phúc cho chúng sanh,
Không xan lẫn hối tiếc,
Lễ đàn pháp và chơn.
Nhờ hành trì thiện nghiệp,
Sống hoan hỷ cõi Trời.
Tái sanh tại nơi đây,
Ngài được hai hảo tướng,
Hưởng hạnh phúc tối thượng.
Lông mọc xoay thẳng lên,
Mắt cá tròn khéo gọn,
Dưới có thịt, có da
Trên hình dáng đẹp đẽ.
Nếu Ngài sống tại gia,
Tài dục đều tối thượng.
Không ai thắng hơn Ngài.
Chinh phục Diêm-phù-đề.
Nếu hạnh Ngài xuất gia,
Tinh tấn hơn mọi người,
Ngài là bậc tối thắng,
Trong tất cả chúng sanh.
Do vậy không tìm được,
Kẻ tối thắng hơn Ngài.
Ngài sống và ngự trị,
Cùng khắp mọi thế giới.
SC 68PTS cs 22~22 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai trước làm Người, ngài siêng năng học hỏi, nghề nghiệp, mọi kỹ thuật, học thuật, oai nghi hay hành động: “Làm thế nào để tôi mau học được, làm thế nào để tôi mau biết, làm thế nào để tôi mau thâu hoạch được, khỏi phải mệt nhọc lâu ngày?”. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy … Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây, với tướng Ðại Trượng phu, có ống chân giống như con dê rừng.
SC 69PTS cs 23~23 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Tất cả sự vật xứng đáng nhà vua, đặc tướng nhà vua, tài sản nhà vua, sở hữu nhà vua, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Tất cả sự vật gì xứng đáng vị Sa-môn, đặc tướng Sa-môn, tài sản Sa-môn, sở hữu Sa-môn, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm Phật được như vậy.
SC 70Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 71PTS cs 24~24 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 72Trong các nghề, kỹ thuật
Trong cử chỉ, hành động,
Ngài muốn làm thế nào,
Ðể học biết mau chóng.
Không ai bị thương hại,
Học mau, không mệt mỏi,
Do hành thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện tốt đẹp.
Cân đối xoay nhẹ nhàng,
Trên da trơn mềm mại,
Lông được mọc đứng lên.
Người như vậy được gọi,
Người có chân dê rừng.
Tướng này, người ta đồn,
Khiến học hỏi mau chóng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt.
Mọi sự vật hợp pháp,
Ngài tuần tự chứng đắc,
Sống tinh tấn cao thượng,
Quả chứng thật mau chóng.
SC 73PTS cs 25~25 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, đi đến các vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi đến liền hỏi: “Bạch Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội? Thế nào là không có tội? Ðiều nào nên làm? Ðiều nào không nên làm? Ðiều nào làm sẽ đưa đến cho ta bất hạnh và đau khổ lâu dài? Ðiều nào nếu làm sẽ đưa đến cho ta hạnh phúc và an lạc lâu dài? Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp này … ” Ngài sau khi từ trần từ chỗ kia được tái sanh lại đây với tướng Ðại Trượng phu này: Da của Ngài trơn mịn khiến bụi bặm không thể bám dính vào thân.
SC 74PTS cs 26~26 Ngài đầy đủ với các tướng này, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua, được những gì? Ðại trí tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ. Hay không ai hơn Ngài về tài sản thế tục. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược đại trí tuệ, quảng trí tuệ, hỷ tâm trí tuệ, mẫn tiệp trí tuệ, thông nhuệ trí tuệ, yểm ly trí tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ hay không có chúng sanh nào hơn Ngài. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 75Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 76PTS cs 27~27 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 77Trong những ngày quá khứ,
Ngài tha thiết muốn biết,
Ngài tha thiết muốn hỏi,
Yết kiến vị xuất gia,
Khéo nghe và học hỏi.
Chính nhờ hạnh nghiệp ấy,
Ngài chứng được trí tuệ.
Và sanh vào loài Người,
Ngài được da mịn màng.
Các vị chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Vị này biết và thấy,
Mọi ý nghĩa tế nhị.
Nếu hạnh không xuất gia,
Sống hành trì như vậy,
Ngài là vị Chuyển luân,
Ngự trị cõi đất này.
Những vị nắm được nghĩa,
Không ai hơn bằng Ngài.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát tục sáng suốt;
Chứng được đạo Bồ-đề,
Tuệ tối hảo vô thượng.
SC 78PTS cs 28~28 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, không sân hận, hoàn toàn không ảo não, dầu có bị nói nhiều cũng không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận phiền muộn. Trái lại, Ngài bố thí các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Với tác động … Ngài từ trần từ chỗ kia, thác sanh tại chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này: sắc hoàng kim, da màu đồng, sáng bóng.
SC 79PTS cs 29~29 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 80Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 81PTS cs 30~30 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 82Cương quyết không sân hận,
Ngài sẵn sàng bố thí,
Các loại vải mềm mại,
Các đồ đắp mềm mại.
Trong những đời sống trước,
Ngài cương quyết phân phát,
Như thần mưa tung vải,
Mây móc trên đất liền.
Nhờ hạnh nghiệp như vậy,
Từ trần tại chỗ kia,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Hưởng quả báo thiện hạnh.
Tận hưởng thiện báo xong,
Ngài sanh tại nơi đây,
Với thân màu hoàng kim,
Sáng chói như vàng ròng,
Mỹ lệ hùng tráng hơn,
Chẳng khác gì Ðế-thích.
Nếu không muốn xuất gia,
Ngài trị vì đất này,
Nhờ sức mạnh quá khứ,
Ngài được thật đầy đủ,
Mềm mại và tế nhị,
Ðồ che đắp mang mặc.
Nếu Ngài sống đời sống,
Xuất gia, không gia đình,
Kiên trì Ngài tận hưởng,
Quả báo nghiệp quá khứ,
Những điều Ngài đã làm,
Không bao giờ vô hiệu.
SC 83PTS cs 31~31 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Ngài làm cho sum họp lại những bà con bạn bè thân tín không gặp nhau lâu ngày, bị đau khổ lâu ngày, làm cho sum họp lại mẹ với con, con với mẹ, làm cho sum họp lại cha với con, con với cha, làm cho sum họp lại giữa anh em với nhau, làm cho sum họp lại giữa anh và chị, giữa chị và em, làm cho hòa hợp lại, sống vui vẻ với nhau. Với tác động … Ngài từ trần tại chỗ kia, thác sanh tại chỗ này với tướng Ðại Trượng phu này là tướng mã âm tàng.
SC 84PTS cs 32~32 Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược nhiều con, hơn một ngàn người con đều là bậc anh hùng, bậc chiến thắng, dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Làm vua, vị ấy được như vậy … Làm Phật được những gì? Ðược nhiều con, sẽ có hàng ngàn người con (xuất gia và tại gia) đều là bậc anh hùng, các bậc vô song, các bậc dõng kiện, nhiếp phục các địch quân. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 85Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 86PTS cs 33~33 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 87Thuở xưa trong quá khứ,
Trong nhiều đời tiền thân,
Ngài khiến cho sum họp,
Bà con, bạn, thân tín.
Ðã đau khổ lâu ngày,
Ðã phiêu bạt lâu ngày,
Ngài khiến họ hòa hợp,
Sống hoan hỷ với nhau.
Hạnh này Ngài sanh Thiên,
Hưởng hạnh phúc hỷ lạc,
Chết kia, sanh chỗ này,
Ngài được mã âm tàng.
Ngài có rất nhiều con,
Hơn đến số ngàn vị,
Là những bậc anh hùng,
Chiến thắng nhiếp địch quân,
Ðón chào lời hiếu kính,
Khiến tại gia hoan hỷ.
Nếu xuất gia tu đạo,
Uy lực thắng hơn nhiều.
Số con có nhiều hơn,
Biết vâng lời chỉ giáo.
Dầu tại gia, xuất gia,
Hảo tướng thật rõ ràng.
Tụng phẩm II
SC 88PTS cs 1~34 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người quán sát và hiểu biết rõ ràng toàn thể Ðại chúng, biết mình, biết người, biết sự sai biệt giữa mọi người: “Người này xứng đáng như thế này, người này xứng đáng như thế này”, và Ngài hành động tùy theo sự sai biệt giữa mọi người ấy. Do tác động … Ngài từ trần từ chỗ kia tái sanh tại đây với hai tướng Ðại Trượng phu: thân hình tròn như cây Nigrodha (cây bàng) và đứng thẳng không cong lưng, Ngài có thể sờ và thoa đầu gối với hai lòng bàn tay.
SC 89PTS cs 2~35 Ngài đầy đủ những tướng như vậy, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương … Làm vua được những gì? Làm vị triệu phú, đại triệu phú, với kho tàng đầy vàng bạc, đầy tài vật, đầy tiền lúa, kho tàng tràn đầy. Làm vua được như vậy … Làm Phật được những gì? Làm vị triệu phú, đại triệu phú. Tài vật của Ngài là tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, đa văn tài, thí tài, trí tuệ tài. Làm Phật được như vậy.
SC 90Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 91PTS cs 3~36 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 92Cân nhắc, tìm, suy tư,
Ngài quán sát Ðại chúng,
Ở chỗ này chỗ kia,
Người này xứng thế này.
Hành động Ngài tương xứng,
Sự sai biệt loài Người.
Ðứng thẳng không cong lưng,
Hai tay sờ đầu gối,
Thân như cây tròn cao,
Là thiện báo đặc biệt.
Bậc thiện xảo siêu nhân,
Ðều tuyên bố như sau:
Ðứa trẻ được tất cả,
Những gì xứng cư sĩ,
Là cư sĩ, Ngài được,
Mọi dục lạc tài sản,
Phong phú và thích hợp,
Với vua cõi đất này.
Nếu phát tâm từ bỏ,
Mọi dục lạc tài sản,
Ngài sẽ được tài vật,
Vô thượng và tối thiện.
SC 93PTS cs 4~37 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, tha thiết với sự lợi ích của Ðại chúng, tha thiết với hạnh phúc, tha thiết với sự thoải mái, tha thiết với sự an ủi của Ðại chúng: “Làm thế nào cho họ tăng trưởng lòng tin, tăng trưởng giới, tăng trưởng đa văn, tăng trưởng bố thí, tăng trưởng pháp, tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng tài vật và lúa gạo, tăng trưởng đất ruộng, tăng trưởng các loài hai chân và bốn chân, tăng trưởng vợ con, tăng trưởng đầy tớ và lao công, tăng trưởng bà con, tăng trưởng bạn bè, tăng trưởng quyến thuộc”. Với tác động, chất chứa, tích tụ, và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này. Ngài tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu: nửa thân trên như thân con sư tử, hai vai không có lõm khuyết xuống, và thân hình tròn đều.
SC 94PTS cs 5~38 Ngài với những tướng như thế này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ngài không bị thất bại và mất mát. Ngài không mất tài sản lúa gạo, ruộng đất, các loài hai chân bốn chân, vợ con, đầy tớ lao công, bạn bè, quyến thuộc. Ngài thành tựu tất cả, không thất bại một điều gì … Làm Phật, Ngài được những gì? Ngài không bị thất bại và mất mát. Ngài không mất tín, giới, văn, thí xả và tuệ. Ngài thành tựu tất cả, không bị thất bại một điều gì.
SC 95Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 96PTS cs 6~39 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 97Tín, giới, văn, trí tuệ,
Thí, pháp, nhiều thiện sự.
Tài sản, lúa, ruộng đất,
Vợ con, loài bốn chân.
Quyến thuộc, bạn, bà con,
Lúa, sắc và hạnh phúc.
Ngài ao ước mong cầu,
Không một ai tổn hại.
Thân trên như sư tử,
Vai vuông tròn đều đặn.
Nhờ hạnh xưa, không hư,
Tại gia được tăng trưởng,
Gạo, tài sản, vợ con,
Cùng với loài bốn chân.
Xuất gia không vật gì,
Chứng Bồ-đề vô thượng,
Không bao giờ tiêu diệt,
Pháp nhĩ là như vậy.
SC 98PTS cs 7~40 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, không làm điều gì hại đến các loài hữu tình, hoặc bằng tay, bằng đá, bằng gậy, hay bằng đao. Với tác động chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này: cảm vị hết sức nhạy bén, khi vật gì chạm đầu ngọn lưỡi, những cảm giác được khởi lên tại cổ họng và truyền đi khắp nơi.
SC 99Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thì làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Thiểu bệnh, thiểu não, tiêu hóa tốt đẹp, nhiệt độ thăng bằng, không lạnh quá, không nóng quá. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Thiểu bệnh, thiểu não, tiêu hóa tốt đẹp, nhiệt độ thăng bằng, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, có thể kham nhẫn, siêng năng. Làm Phật được như vậy.
SC 100Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 101PTS cs 9~41 Ở đây, lời này được nói lên:
SC 102Ngài không hại một ai,
Với tay, gậy, đá, gươm,
Không trói, không dọa dạt,
Không sát sanh hại mạng.
Do vậy Ngài sanh thiên,
Hưởng quả báo an lạc,
Tái sanh tại nơi đây,
Cảm vị rất nhạy bén,
Cổ họng khéo an trú,
Thượng vị nhạy truyền đi.
Thiện xảo chiêm tướng gia,
Tuyên bố về Ngài rằng:
Người này sẽ được hưởng,
Nhiều hạnh phúc an lạc,
Dầu tại gia xuất gia,
Hảo tướng thật rõ ràng.
SC 103PTS cs 10~42 Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm Người, có thói quen không ngó liếc, không ngó xiên, không ngó trộm, nhưng với tâm chánh trực mở rộng, cao thượng, Ngài nhìn Ðại chúng với tâm từ bi. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Sau khi tạ thế từ chỗ kia, Ngài sanh lại tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: cặp mắt hết sức xanh và lông mi như con bò cái.
SC 104PTS cs 11~43 Ngài đầy đủ với những tướng này, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðại chúng ưa nhìn Ngài. Các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, vệ sĩ, các thủ môn quan, các đại thần, chư hầu, phú gia, vương tử đều hoan nghênh, tương kính Ngài. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðại chúng ưa Ngài. Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long xà, Càn-thát-bà hoan nghênh và thương kính Ngài. Làm Phật được như vậy.
SC 105Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 106PTS cs 12~44 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 107Không ngó liếc, ngó xiên,
Và cũng không ngó trộm,
Nhưng với tâm chánh trực,
Rộng mở và cao thượng,
Ngài nhìn khắp Ðại chúng,
Với từ tâm của Ngài.
Ở đây Ngài tận hưởng,
Quả an lạc chư Thiên,
Ở đây lông mi Ngài,
Như mi con bò cái,
Cặp mắt hết sức xanh,
Ðẹp đẽ thật ưa nhìn.
Chiêm tướng gia lão luyện,
Tinh thông về hảo tướng,
Ngài thành bậc Thiện nhân.
Với cặp mắt tế nhị,
Ðược mọi người hoan nghênh,
Ưa thích ngắm nhìn Ngài.
Cư sĩ ưa nhìn Ngài,
Ðược mọi người kính yêu.
Tại gia hay Sa-môn,
Ngài được người kính mến,
Như người đã cứu chữa,
Khổ sầu cho Ðại chúng.
SC 108PTS cs 13~45 Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm người là vị lãnh đạo Ðại chúng về các thiện pháp, là vị tiền phong Ðại chúng về thiện hành thuộc thân, khẩu, ý, phân phát bố thí, thủ hộ giới luật, tham dự các lễ Bố-tát, hiếu kính cha mẹ, lễ kính Sa-môn, cung kính bậc trưởng thượng trong gia đình và về các thiện pháp đặc biệt khác. Với sự tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này với tướng Ðại Trượng phu là có nhục kế trên đầu.
SC 109PTS cs 14~46 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua, Ngài được những gì? Ngài được sự trung thành của Ðại chúng, các Cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, các tài chính quan, tư chánh quan, vệ sĩ, thủ môn quan, đại thần, phó vương, phú gia, các vương tử đều trung thành với Ngài. Làm vua, ngài được như vậy. Làm Phật Ngài được những gì? Ngài được sự trung thành của Ðại chúng. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, các hàng A-tu-la, các loài Long xà, Càn-thát-bà đều trung thành với Ngài. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 110Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 111PTS cs 15~47 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 112Lãnh đạo các chánh hạnh,
Hoan hỷ trong pháp lành,
Ðược Ðại chúng trung thành,
Hưởng công đức chư Thiên.
Hưởng xong các thiện quả,
Sanh đây được nhục kế.
Chiêm tướng gia thiện xảo,
Ðồng tuyên bố về Ngài:
Ngài lãnh đạo Ðại chúng,
Ðược tiền của hiến dâng,
Quá khứ, nay cũng vậy,
Mọi người phục vụ Ngài.
Nếu là Sát-đế-ly,
Ngài trị vì quốc độ,
Ðược đa số quần chúng,
Thành tâm phục vụ Ngài.
Nếu Ngài sống xuất gia,
Thời vị Thượng nhân này,
Tinh thông và thiện xảo,
Ðối với các thiện pháp.
Ðược quần chúng trung thành,
Ðược mọi người phục vụ,
Vì đã quá hoan hỷ,
Công đức dạy của Ngài.
SC 113PTS cs 16~48 Này các Tỷ-kheo, Như Lai … lúc xưa làm Người từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói lời chân thật, y chỉ chơn thật, chắc chắn đáng tin cậy, không thất hứa một ai. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: mỗi lỗ chân lông là mỗi một sợi lông mọc lên và giữa hai lông mày có tướng bạch hào sanh, màu trắng, mềm mại giống như bông.
SC 114PTS cs 17~49 Ngài đầy đủ những tướng này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðại chúng tuân theo ý muốn của Ngài. Các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, các tài chánh quan, tư chánh quan, các vệ sĩ, thủ môn quan, đại thần, phó vương, phú gia, vương tử đều tuân theo ý muốn của Ngài. Làm vua, Ngài được như vậy. Làm Phật, Ngài được những gì? Ðại chúng đều tuân theo ý muốn của Ngài. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, Thiên, Nhân, A-tu-la, Long xà, Càn-thát-bà tuân theo ý muốn của Ngài. Làm Phật Ngài được như vậy.
SC 115Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 116PTS cs 18~50 Ở đây, lời này được nói lên:
SC 117Trong những đời quá khứ,
Ngài giữ hạnh chân thật,
Không nói lời hai lưỡi,
Tránh lời nói hư vọng.
Ðối với chung tất cả,
Không bội ước một ai,
Ngài sống trong hoan hỷ,
Chơn chánh và như thật.
Ngài có tướng bạch hào,
Mọc giữa hai chân mày,
Trắng, sáng và mịn màng,
Như bông Ðâu-la-miên.
Các lông của Ngài mọc,
Không hai lông một chỗ.
Khi nhiều vị chiêm tướng,
Hội họp chung với nhau.
Những vị tinh thông này,
Ðồng tuyên bố về ngài:
Mười bạch hào hảo tướng,
Và lông mày khéo mọc,
Nên Ngài được mọi người,
Vâng theo ý muốn Ngài.
Là Cư sĩ, Ðại chúng,
Tuân theo ý muốn Ngài,
Vì hành động quá khứ,
Quá rõ ràng cao thượng.
Bỏ tất cả, xuất gia,
Ngài được cả Ðại chúng,
Tuân theo bậc Giác Ngộ,
Tối vô thượng, tịch tịnh.
SC 118PTS cs 19~51 Này các Tỷ-kheo, Như Lai trong bất cứ đời trước nào … đời trước làm Người, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì chỗ này không đi nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Ngài sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói lời đưa đến hòa hợp. Do tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia sanh lại tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: có bốn mươi răng, và giữa răng không có kẻ hở.
SC 119PTS cs 20~52 Ngài đầy đủ các tướng này, nếu sống tại gia sẽ là vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua, được những gì? Chúng tùy tùng của Ngài không có chia rẽ. Các vị cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư chánh quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, phó vương, phú gia, các vương tử đều không chia rẽ. Làm vua, Ngài được như vậy … Làm Phật, được những gì? Các người tùy tùng không có chia rẽ. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, các vị A-tu-la, các Long xà, các Càn-thát-bà đều không chia rẽ. Làm Phật được như vậy.
SC 120Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 121PTS cs 21~53 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 122Không nói lời hai lưỡi,
Khiến chia rẽ hòa hợp,
Khiến phát sanh đấu tranh,
Khiến tăng trưởng chia rẽ.
Không nói lời vô ích,
Làm tranh luận tăng trưởng,
Lời nói sinh chia rẽ
Giữa những người hòa hợp.
Ngài chỉ nói những lời,
Tăng hòa ái lâu ngày,
Lời phát sanh liên kết,
Giữa những người chia rẽ.
Những lời có khả năng,
Trừ tranh chấp mọi người,
Ngài hoan hỷ thoải mái,
Trong đoàn kết hòa hợp.
Do nghiệp báo dị thục,
Ðược sanh cõi thiện thú,
Ngài hoan hỷ thọ hưởng,
Phước báo cõi chư Thiên.
Ở đây răng của Ngài,
Ðều đặn, không kẻ hở,
Có bốn mươi tất cả,
Mọc trong miệng khéo bày.
Nếu sanh Sát-đế-ly,
Ngài trị vì quốc độ,
Dân chúng Ngài trị vì,
Là dân chúng thuần lương.
Sống làm bậc Sa-môn,
Thanh tịnh không cấu uế,
Dân chúng tháp tùng Ngài,
Kỷ cương, không dao động.
SC 123PTS cs 22~54 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn … trong đời trước làm Người, Ngài từ bỏ nói lời độc ác, tránh nói lời độc ác, nói những lời không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Ngài nói những lời như vậy. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này, Ngài được hai tướng Ðại Trượng phu: lưỡi dài và giọng nói dịu ngọt như tiếng chim Karavīka (Ca-lăng-tần-già).
SC 124PTS cs 23~55 Ngài đầy đủ các tướng ấy, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Lời nói được chấp nhận. Các vị cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư chánh quan, võ sĩ, thủ môn quan, đại thần, phó vương, phú gia, các vương tử đều chấp nhận lời nói của Ngài. Làm vua Ngài được như vậy … Làm Phật được những gì? Lời nói Ngài được chấp nhận. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long xà, Càn-thát-bà chấp nhận lời của Ngài. Làm Phật được như vậy.
SC 125Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 126PTS cs 24~56 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 127Không nói lời độc ác,
Gây tranh luận có hại,
Lời thô bạo cộc cằn,
Não hại, hiếp Ðại chúng.
Ngài nói lời ngọt ngào,
Hòa dịu cùng thân ái,
Lời nói đẹp ý lòng,
Ði sâu vào nội tâm.
Lời nói khiến tai nghe,
Cảm thấy lòng an lạc,
Ngài thọ hưởng quả báo,
Do khẩu hành tốt đẹp,
Hưởng công đức quả báo,
Tại cảnh giới chư Thiên.
Sau khi hưởng quả lành,
Do thiện hành đem lại,
Ngài tái sanh nơi đây,
Với phạm âm thù thắng,
Ðược tướng lưỡi tốt đẹp,
Vừa rộng lại vừa dài.
Lời nói Ngài phát ra,
Ðược mọi người chấp nhận.
Nếu làm vị cư sĩ,
Lời nói được thành công.
Nếu Ngài sống xuất gia,
Lời nói được chấp nhận,
Lời nói Ngài càng nhiều,
Càng nhiều người tin tưởng.
SC 128PTS cs 25~57 Này các Tỷ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, thiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này … Ngài sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này là hàm như hàm con sư tử.
SC 129PTS cs 26~58 Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thì làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ngài không bao giờ bị ai chinh phục, kẻ thù hay kẻ địch, thuộc loại người nào. Làm vua, Ngài được như vậy. Làm Phật, được những gì? Ngài không bị ai chinh phục bởi nội địch hay ngoại địch, nội oán hay ngoại oán, bởi tham, sân hay si, bởi vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 130Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 131PTS cs 27~59 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 132Không nói lời ỷ ngữ,
Ngu độn và dao động,
Từ bỏ lời có hại,
Chỉ nói lời có lợi.
Những lời đem an lạc,
Cho tất cả Ðại chúng.
Làm vậy Ngài tạ thế,
Ðược sanh lên Thiên giới,
Và hưởng thọ quả báo,
Do thiện hạnh đem lại.
Sau khi Ngài tạ thế,
Ðược sanh lại nơi đây,
Ngài được làm tối thắng,
Loại chúa muôn loài thú.
Làm vua, thành Ðế-thích,
Chinh phục cả nhân loại,
Thống lãnh khắp nhân gian,
Có nhiều đại uy lực,
Là Ðế-thích ngự trị,
Thành trì cõi chư Thiên,
Bậc siêu thăng tối thắng,
Trên cả các chư Thiên.
Nhiếp phục Càn-thát-bà,
A-tu-la, Ðế-thích,
Dạ-xoa và chư Thiên,
Không ai nhiếp thắng Ngài.
Nếu sống có gia đình,
Ngài sẽ là như vậy,
Cùng khắp cả bốn phương,
Bốn duy và thượng hạ.
SC 133PTS cs 28~60 Này các Tỷ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ tà mạng, nuôi sống theo chánh mạng, tránh xa các sự gian lận bằng cân tiền bạc đo lường, hối lộ, gian trá, lừa đảo, không làm tổn thương, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy … Sau khi tạ thế từ chỗ kia, sanh lại tại chỗ này, được hai tướng Ðại Trượng phu này là các răng đều đặn và sáng chói.
SC 134PTS cs 29~61 Ngài đầy đủ những tướng này, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị pháp vương bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị ấy, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên, và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Làm vua được những gì? Tùy tùng của Ngài được tâm thanh tịnh. Các vị tài chánh quan, tư chánh quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, các phó vương, phú gia, các vương tử đều có tâm thanh tịnh. Làm vua Ngài được như vậy.
SC 135PTS cs 30~62 Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình, Ngài là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được những gì? Các tùy tùng của Ngài được tâm thanh tịnh. Các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, các A-tu-la, các Long xà, Càn-thát-bà được tâm thanh tịnh. Làm Phật, Ngài được như vậy.
SC 136Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 137PTS cs 31~63 Ở đây, lời nói này được nói lên:
SC 138Từ bỏ sống tà mạng,
Sống thanh tịnh đúng Pháp,
Từ bỏ hạnh có hại,
Chỉ làm hạnh có lợi.
Các hạnh đem an lạc,
Cho tất cả chúng sanh,
Làm Người Ngài hưởng quả,
An lạc ở Thiên giới.
Do vậy đời sống Ngài,
Hưởng hỷ lạc, hoan lạc,
Như vị chúa tối tôn,
Ở kinh thành chư Thiên.
Từ đó xuống làm Người,
Nhờ kết quả thiện hạnh,
Hàm răng Ngài đều đặn,
Thanh tịnh và trong sáng.
Nhiều vị chiêm tướng giỏi,
Ðến tụ họp tuyên bố:
Ngài thống lãnh loài Người,
Ðược kính trọng tối thắng,
Các tùy tùng đồ chúng,
Là những vị thanh tịnh.
Răng thanh tịnh trong sáng,
Trắng bạch đều như chim.
Làm vua, có quần chúng,
Tùy tùng đều thanh tịnh,
Trị vì mọi quốc độ.
Quần chúng sẽ không bị,
Áp bức bởi sức mạnh.
Họ sống đời mong cầu,
Hạnh phúc cho mọi người.
Nếu Ngài sống xuất gia,
Từ bỏ các ác pháp,
Ái nhiễm được gột sạch,
Vô mình được vén lên,
Lo âu cùng mệt mỏi,
Thảy đều được trừ diệt,
Thấy đời này, đời sau,
Nhiều cư sĩ, xuất gia,
Hành trì theo Ngài dạy,
Tránh xa đời bất tịnh,
Lỗi lầm và độc ác.
Tùy tùng đồ chúng Ngài,
Ðều là bậc thanh tịnh,
Trừ được mọi uế chướng,
Tội quá cùng phiền não.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhaddante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Dvattiṁsimāni, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā.
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti;
Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Katamāni ca tāni, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā?
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Idha, bhikkhave, mahāpuriso suppatiṭṭhitapādo hoti. Yampi, bhikkhave, mahāpuriso suppatiṭṭhitapādo hoti, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāpurisassa heṭṭhāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni. Yampi, bhikkhave, mahāpurisassa heṭṭhāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāpuriso āyatapaṇhi hoti …pe…
dīghaṅguli hoti …
mudutalunahatthapādo hoti …
jālahatthapādo hoti …
ussaṅkhapādo hoti …
eṇijaṅgho hoti …
ṭhitakova anonamanto ubhohi pāṇitalehi jaṇṇukāni parimasati parimajjati …
kosohitavatthaguyho hoti …
suvaṇṇavaṇṇo hoti kañcanasannibhattaco …
sukhumacchavi hoti, sukhumattā chaviyā rajojallaṁ kāye na upalimpati …
ekekalomo hoti, ekekāni lomāni lomakūpesu jātāni …
uddhaggalomo hoti, uddhaggāni lomāni jātāni nīlāni añjanavaṇṇāni kuṇḍalāvaṭṭāni dakkhiṇāvaṭṭakajātāni …
brahmujugatto hoti …
sattussado hoti …
sīhapubbaddhakāyo hoti …
citantaraṁso hoti …
nigrodhaparimaṇḍalo hoti, yāvatakvassa kāyo tāvatakvassa byāmo yāvatakvassa byāmo tāvatakvassa kāyo …
samavaṭṭakkhandho hoti …
rasaggasaggī hoti …
sīhahanu hoti …
cattālīsadanto hoti …
samadanto hoti …
aviraḷadanto hoti …
susukkadāṭho hoti …
pahūtajivho hoti …
brahmassaro hoti karavīkabhāṇī …
abhinīlanetto hoti …
gopakhumo hoti …
uṇṇā bhamukantare jātā hoti, odātā mudutūlasannibhā. Yampi, bhikkhave, mahāpurisassa uṇṇā bhamukantare jātā hoti, odātā mudutūlasannibhā, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāpuriso uṇhīsasīso hoti. Yampi, bhikkhave, mahāpuriso uṇhīsasīso hoti, idampi, bhikkhave, mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Imāni kho tāni, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā.
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Imāni kho, bhikkhave, dvattiṁsa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇāni bāhirakāpi isayo dhārenti, no ca kho te jānanti:
‘imassa kammassa kaṭattā idaṁ lakkhaṇaṁ paṭilabhatī’ti.
1. Suppatiṭṭhitapādatālakkhaṇaṁ
Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno daḷhasamādāno ahosi kusalesu dhammesu, avatthitasamādāno kāyasucarite vacīsucarite manosucarite dānasaṁvibhāge sīlasamādāne uposathupavāse matteyyatāya petteyyatāya sāmaññatāya brahmaññatāya kule jeṭṭhāpacāyitāya aññataraññataresu ca adhikusalesu dhammesu.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
So tattha aññe deve dasahi ṭhānehi adhiggaṇhāti dibbena āyunā dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbena ādhipateyyena dibbehi rūpehi dibbehi saddehi dibbehi gandhehi dibbehi rasehi dibbehi phoṭṭhabbehi.
So tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Suppatiṭṭhitapādo hoti.
Samaṁ pādaṁ bhūmiyaṁ nikkhipati, samaṁ uddharati, samaṁ sabbāvantehi pādatalehi bhūmiṁ phusati.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti;
Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ akhilamanimittamakaṇṭakaṁ iddhaṁ phītaṁ khemaṁ sivaṁ nirabbudaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Rājā samāno kiṁ labhati?
Akkhambhiyo hoti kenaci manussabhūtena paccatthikena paccāmittena.
Rājā samāno idaṁ labhati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Buddho samāno kiṁ labhati?
Akkhambhiyo hoti abbhantarehi vā bāhirehi vā paccatthikehi paccāmittehi rāgena vā dosena vā mohena vā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Sacce ca dhamme ca dame ca saṁyame,
Soceyyasīlālayuposathesu ca;
Dāne ahiṁsāya asāhase rato,
Daḷhaṁ samādāya samattamācari.
So tena kammena divaṁ samakkami,
Sukhañca khiḍḍāratiyo ca anvabhi;
Tato cavitvā punarāgato idha,
Samehi pādehi phusī vasundharaṁ.
Byākaṁsu veyyañjanikā samāgatā,
Samappatiṭṭhassa na hoti khambhanā;
Gihissa vā pabbajitassa vā puna,
Taṁ lakkhaṇaṁ bhavati tadatthajotakaṁ.
Akkhambhiyo hoti agāramāvasaṁ,
Parābhibhū sattubhi nappamaddano;
Manussabhūtenidha hoti kenaci,
Akkhambhiyo tassa phalena kammuno.
Sace ca pabbajjamupeti tādiso,
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo;
Aggo na so gacchati jātu khambhanaṁ,
Naruttamo esa hi tassa dhammatā”ti.
2. Pādatalacakkalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
bahujanassa sukhāvaho ahosi, ubbegauttāsabhayaṁ apanuditā, dhammikañca rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidhātā, saparivārañca dānaṁ adāsi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Heṭṭhāpādatalesu cakkāni jātāni honti sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni suvibhattantarāni.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāparivāro hoti;
mahāssa honti parivārā brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāparivāro hoti;
mahāssa honti parivārā bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pure puratthā purimāsu jātisu,
Manussabhūto bahunaṁ sukhāvaho;
Ubbhegauttāsabhayāpanūdano,
Guttīsu rakkhāvaraṇesu ussuko.
So tena kammena divaṁ samakkami,
Sukhañca khiḍḍāratiyo ca anvabhi;
Tato cavitvā punarāgato idha,
Cakkāni pādesu duvesu vindati.
Samantanemīni sahassarāni ca,
Byākaṁsu veyyañjanikā samāgatā;
Disvā kumāraṁ satapuññalakkhaṇaṁ,
Parivāravā hessati sattumaddano.
Tathā hi cakkāni samantanemini,
Sace na pabbajjamupeti tādiso;
Vatteti cakkaṁ pathaviṁ pasāsati,
Tassānuyantādha bhavanti khattiyā.
Mahāyasaṁ samparivārayanti naṁ,
Sace ca pabbajjamupeti tādiso;
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo,
Devā manussāsurasakkarakkhasā.
Gandhabbanāgā vihagā catuppadā,
Anuttaraṁ devamanussapūjitaṁ;
Mahāyasaṁ samparivārayanti nan”ti.
3–5. Āyatapaṇhitāditilakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato ahosi nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī vihāsi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni tīṇi mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Āyatapaṇhi ca hoti, dīghaṅguli ca brahmujugatto ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Dīghāyuko hoti ciraṭṭhitiko, dīghamāyuṁ pāleti, na sakkā hoti antarā jīvitā voropetuṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena paccāmittena.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Dīghāyuko hoti ciraṭṭhitiko, dīghamāyuṁ pāleti, na sakkā hoti antarā jīvitā voropetuṁ paccatthikehi paccāmittehi samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Māraṇavadhabhayattano viditvā,
Paṭivirato paraṁ māraṇāyahosi;
Tena sucaritena saggamagamā,
Sukataphalavipākamanubhosi.
Caviya punaridhāgato samāno,
Paṭilabhati idha tīṇi lakkhaṇāni;
Bhavati vipuladīghapāsaṇhiko,
Brahmāva suju subho sujātagatto.
Subhujo susu susaṇṭhito sujāto,
Mudutalunaṅguliyassa honti;
Dīghā tībhi purisavaraggalakkhaṇehi,
Cirayapanāya kumāramādisanti.
Bhavati yadi gihī ciraṁ yapeti,
Cirataraṁ pabbajati yadi tato hi;
Yāpayati ca vasiddhibhāvanāya,
Iti dīghāyukatāya taṁ nimittan”ti.
6. Sattussadatālakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
dātā ahosi paṇītānaṁ rasitānaṁ khādanīyānaṁ bhojanīyānaṁ sāyanīyānaṁ lehanīyānaṁ pānānaṁ.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati, sattussado hoti, sattassa ussadā honti;
ubhosu hatthesu ussadā honti, ubhosu pādesu ussadā honti, ubhosu aṁsakūṭesu ussadā honti, khandhe ussado hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti paṇītānaṁ rasitānaṁ khādanīyānaṁ bhojanīyānaṁ sāyanīyānaṁ lehanīyānaṁ pānānaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti paṇītānaṁ rasitānaṁ khādanīyānaṁ bhojanīyānaṁ sāyanīyānaṁ lehanīyānaṁ pānānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Khajjabhojjamatha leyya sāyiyaṁ,
Uttamaggarasadāyako ahu;
Tena so sucaritena kammunā,
Nandane ciramabhippamodati.
Satta cussade idhādhigacchati,
Hatthapādamudutañca vindati;
Āhu byañjananimittakovidā,
Khajjabhojjarasalābhitāya naṁ.
Yaṁ gihissapi tadatthajotakaṁ,
Pabbajjampi ca tadādhigacchati;
Khajjabhojjarasalābhiruttamaṁ,
Āhu sabbagihibandhanacchidan”ti.
7–8. Karacaraṇamudujālatālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
catūhi saṅgahavatthūhi janaṁ saṅgāhako ahosi—
dānena peyyavajjena atthacariyāya samānattatāya.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Mudutalunahatthapādo ca hoti jālahatthapādo ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Susaṅgahitaparijano hoti, susaṅgahitāssa honti brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …
buddho samāno kiṁ labhati?
Susaṅgahitaparijano hoti, susaṅgahitāssa honti bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Dānampi catthacariyatañca,
Piyavāditañca samānattatañca;
Kariyacariyasusaṅgahaṁ bahūnaṁ,
Anavamatena guṇena yāti saggaṁ.
Caviya punaridhāgato samāno,
Karacaraṇamudutañca jālino ca;
Atirucirasuvaggudassaneyyaṁ,
Paṭilabhati daharo susu kumāro.
Bhavati parijanassavo vidheyyo,
Mahimaṁ āvasito susaṅgahito;
Piyavadū hitasukhataṁ jigīsamāno,
Abhirucitāni guṇāni ācarati.
Yadi ca jahati sabbakāmabhogaṁ,
Kathayati dhammakathaṁ jino janassa;
Vacanapaṭikarassābhippasannā,
Sutvāna dhammānudhammamācarantī”ti.
9–10. Ussaṅkhapāda-uddhaggalomatālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
atthūpasaṁhitaṁ dhammūpasaṁhitaṁ vācaṁ bhāsitā ahosi, bahujanaṁ nidaṁsesi, pāṇīnaṁ hitasukhāvaho dhammayāgī.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Ussaṅkhapādo ca hoti, uddhaggalomo ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato, sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Aggo ca hoti seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca kāmabhogīnaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Aggo ca hoti seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca sabbasattānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Atthadhammasahitaṁ pure giraṁ,
Erayaṁ bahujanaṁ nidaṁsayi;
Pāṇinaṁ hitasukhāvaho ahu,
Dhammayāgamayajī amaccharī.
Tena so sucaritena kammunā,
Suggatiṁ vajati tattha modati;
Lakkhaṇāni ca duve idhāgato,
Uttamappamukhatāya vindati.
Ubbhamuppatitalomavā saso,
Pādagaṇṭhirahu sādhusaṇṭhitā;
Maṁsalohitācitā tacotthatā,
Uparicaraṇasobhanā ahu.
Gehamāvasati ce tathāvidho,
Aggataṁ vajati kāmabhoginaṁ;
Tena uttaritaro na vijjati,
Jambudīpamabhibhuyya iriyati.
Pabbajampi ca anomanikkamo,
Aggataṁ vajati sabbapāṇinaṁ;
Tena uttaritaro na vijjati,
Sabbalokamabhibhuyya viharatī”ti.
11. Eṇijaṅghalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
sakkaccaṁ vācetā ahosi sippaṁ vā vijjaṁ vā caraṇaṁ vā kammaṁ vā:
‘kintime khippaṁ vijāneyyuṁ, khippaṁ paṭipajjeyyuṁ, na ciraṁ kilisseyyun’”ti.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Eṇijaṅgho hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Yāni tāni rājārahāni rājaṅgāni rājūpabhogāni rājānucchavikāni tāni khippaṁ paṭilabhati.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Yāni tāni samaṇārahāni samaṇaṅgāni samaṇūpabhogāni samaṇānucchavikāni, tāni khippaṁ paṭilabhati.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Sippesu vijjācaraṇesu kammesu,
Kathaṁ vijāneyyuṁ lahunti icchati;
Yadūpaghātāya na hoti kassaci,
Vāceti khippaṁ na ciraṁ kilissati.
Taṁ kammaṁ katvā kusalaṁ sukhudrayaṁ,
Jaṅghā manuññā labhate susaṇṭhitā;
Vaṭṭā sujātā anupubbamuggatā,
Uddhaggalomā sukhumattacotthatā.
Eṇeyyajaṅghoti tamāhu puggalaṁ,
Sampattiyā khippamidhāhu lakkhaṇaṁ;
Gehānulomāni yadābhikaṅkhati,
Apabbajaṁ khippamidhādhigacchati.
Sace ca pabbajjamupeti tādiso,
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo;
Anucchavikassa yadānulomikaṁ,
Taṁ vindati khippamanomavikkamo”ti.
12. Sukhumacchavilakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā upasaṅkamitvā paripucchitā ahosi:
‘kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ, kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ, kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ, kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya assa, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya assā’ti.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Sukhumacchavi hoti, sukhumattā chaviyā rajojallaṁ kāye na upalimpati.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāpañño hoti, nāssa hoti koci paññāya sadiso vā seṭṭho vā kāmabhogīnaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāpañño hoti puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño, nāssa hoti koci paññāya sadiso vā seṭṭho vā sabbasattānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pure puratthā purimāsu jātisu,
Aññātukāmo paripucchitā ahu;
Sussūsitā pabbajitaṁ upāsitā,
Atthantaro atthakathaṁ nisāmayi.
Paññāpaṭilābhagatena kammunā,
Manussabhūto sukhumacchavī ahu;
Byākaṁsu uppādanimittakovidā,
Sukhumāni atthāni avecca dakkhiti.
Sace na pabbajjamupeti tādiso,
Vatteti cakkaṁ pathaviṁ pasāsati;
Atthānusiṭṭhīsu pariggahesu ca,
Na tena seyyo sadiso ca vijjati.
Sace ca pabbajjamupeti tādiso,
Nekkhammachandābhirato vicakkhaṇo;
Paññāvisiṭṭhaṁ labhate anuttaraṁ,
Pappoti bodhiṁ varabhūrimedhaso”ti.
13. Suvaṇṇavaṇṇalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
akkodhano ahosi anupāyāsabahulo,
bahumpi vutto samāno nābhisajji na kuppi na byāpajji na patitthīyi, na kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi.
Dātā ca ahosi sukhumānaṁ mudukānaṁ attharaṇānaṁ pāvuraṇānaṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati.
Suvaṇṇavaṇṇo hoti kañcanasannibhattaco.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti sukhumānaṁ mudukānaṁ attharaṇānaṁ pāvuraṇānaṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Lābhī hoti sukhumānaṁ mudukānaṁ attharaṇānaṁ pāvuraṇānaṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Akkodhañca adhiṭṭhahi adāsi,
Dānañca vatthāni sukhumāni succhavīni;
Purimatarabhave ṭhito abhivissaji,
Mahimiva suro abhivassaṁ.
Taṁ katvāna ito cuto dibbaṁ,
Upapajji sukataphalavipākamanubhutvā;
Kanakatanusannibho idhābhibhavati,
Suravarataroriva indo.
Gehañcāvasati naro apabbajja,
Micchaṁ mahatimahiṁ anusāsati;
Pasayha sahidha sattaratanaṁ,
Paṭilabhati vimalasukhumacchaviṁ suciñca.
Lābhī acchādanavatthamokkhapāvuraṇānaṁ,
Bhavati yadi anāgāriyataṁ upeti;
Sahito purimakataphalaṁ anubhavati,
Na bhavati katassa panāso”ti.
14. Kosohitavatthaguyhalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
cirappanaṭṭhe sucirappavāsino ñātimitte suhajje sakhino samānetā ahosi.
Mātarampi puttena samānetā ahosi, puttampi mātarā samānetā ahosi, pitarampi puttena samānetā ahosi, puttampi pitarā samānetā ahosi, bhātarampi bhātarā samānetā ahosi, bhātarampi bhaginiyā samānetā ahosi, bhaginimpi bhātarā samānetā ahosi, bhaginimpi bhaginiyā samānetā ahosi, samaṅgīkatvā ca abbhanumoditā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati—
kosohitavatthaguyho hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Pahūtaputto hoti, parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Pahūtaputto hoti, anekasahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pure puratthā purimāsu jātisu,
Cirappanaṭṭhe sucirappavāsino;
Ñātī suhajje sakhino samānayi,
Samaṅgikatvā anumoditā ahu.
So tena kammena divaṁ samakkami,
Sukhañca khiḍḍāratiyo ca anvabhi;
Tato cavitvā punarāgato idha,
Kosohitaṁ vindati vatthachādiyaṁ.
Pahūtaputto bhavatī tathāvidho,
Parosahassañca bhavanti atrajā;
Sūrā ca vīrā ca amittatāpanā,
Gihissa pītiṁ jananā piyaṁvadā.
Bahūtarā pabbajitassa iriyato,
Bhavanti puttā vacanānusārino;
Gihissa vā pabbajitassa vā puna,
Taṁ lakkhaṇaṁ jāyati tadatthajotakan”ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
15–16. Parimaṇḍalaanonamajaṇṇuparimasanalakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
mahājanasaṅgahaṁ samekkhamāno samaṁ jānāti sāmaṁ jānāti, purisaṁ jānāti purisavisesaṁ jānāti:
‘ayamidamarahati ayamidamarahatī’ti tattha tattha purisavisesakaro ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Nigrodhaparimaṇḍalo ca hoti, ṭhitakoyeva ca anonamanto ubhohi pāṇitalehi jaṇṇukāni parimasati parimajjati.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo.
Tassimāni dhanāni honti, seyyathidaṁ—
saddhādhanaṁ sīladhanaṁ hiridhanaṁ ottappadhanaṁ sutadhanaṁ cāgadhanaṁ paññādhanaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Tuliya paṭivicaya cintayitvā,
Mahājanasaṅgahanaṁ samekkhamāno;
Ayamidamarahati tattha tattha,
Purisavisesakaro pure ahosi.
Mahiñca pana ṭhito anonamanto,
Phusati karehi ubhohi jaṇṇukāni;
Mahiruhaparimaṇḍalo ahosi,
Sucaritakammavipākasesakena.
Bahuvividhanimittalakkhaṇaññū,
Atinipuṇā manujā byākariṁsu;
Bahuvividhā gihīnaṁ arahāni,
Paṭilabhati daharo susu kumāro.
Idha ca mahīpatissa kāmabhogī,
Gihipatirūpakā bahū bhavanti;
Yadi ca jahati sabbakāmabhogaṁ,
Labhati anuttaraṁ uttamadhanaggan”ti.
17–19. Sīhapubbaddhakāyāditilakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
bahujanassa atthakāmo ahosi hitakāmo phāsukāmo yogakkhemakāmo:
‘kintime saddhāya vaḍḍheyyuṁ, sīlena vaḍḍheyyuṁ, sutena vaḍḍheyyuṁ, cāgena vaḍḍheyyuṁ, dhammena vaḍḍheyyuṁ, paññāya vaḍḍheyyuṁ, dhanadhaññena vaḍḍheyyuṁ, khettavatthunā vaḍḍheyyuṁ, dvipadacatuppadehi vaḍḍheyyuṁ, puttadārehi vaḍḍheyyuṁ, dāsakammakaraporisehi vaḍḍheyyuṁ, ñātīhi vaḍḍheyyuṁ, mittehi vaḍḍheyyuṁ, bandhavehi vaḍḍheyyun’ti.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni tīṇi mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Sīhapubbaddhakāyo ca hoti citantaraṁso ca samavaṭṭakkhandho ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Aparihānadhammo hoti, na parihāyati dhanadhaññena khettavatthunā dvipadacatuppadehi puttadārehi dāsakammakaraporisehi ñātīhi mittehi bandhavehi, na parihāyati sabbasampattiyā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Aparihānadhammo hoti, na parihāyati saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya, na parihāyati sabbasampattiyā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Saddhāya sīlena sutena buddhiyā,
Cāgena dhammena bahūhi sādhuhi;
Dhanena dhaññena ca khettavatthunā,
Puttehi dārehi catuppadehi ca.
Ñātīhi mittehi ca bandhavehi ca,
Balena vaṇṇena sukhena cūbhayaṁ;
Kathaṁ na hāyeyyuṁ pareti icchati,
Atthassa middhī ca panābhikaṅkhati.
Sa sīhapubbaddhasusaṇṭhito ahu,
Samavaṭṭakhandho ca citantaraṁso;
Pubbe suciṇṇena katena kammunā,
Ahāniyaṁ pubbanimittamassa taṁ.
Gihīpi dhaññena dhanena vaḍḍhati,
Puttehi dārehi catuppadehi ca;
Akiñcano pabbajito anuttaraṁ,
Pappoti bodhiṁ asahānadhammatan”ti.
20. Rasaggasaggitālakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosi pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati, rasaggasaggī hoti, uddhaggāssa rasaharaṇīyo gīvāya jātā honti samābhivāhiniyo.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Appābādho hoti appātaṅko, samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Na pāṇidaṇḍehi panātha leḍḍunā,
Satthena vā maraṇavadhena vā pana;
Ubbādhanāya paritajjanāya vā,
Na heṭhayī janatamaheṭhako ahu.
Teneva so sugatimupecca modati,
Sukhapphalaṁ kariya sukhāni vindati;
Samojasā rasaharaṇī susaṇṭhitā,
Idhāgato labhati rasaggasaggitaṁ.
Tenāhu naṁ atinipuṇā vicakkhaṇā,
Ayaṁ naro sukhabahulo bhavissati;
Gihissa vā pabbajitassa vā puna,
Taṁ lakkhaṇaṁ bhavati tadatthajotakan”ti.
21–22. Abhinīlanettagopakhumalakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
na ca visaṭaṁ, na ca visāci, na ca pana viceyya pekkhitā, ujuṁ tathā pasaṭamujumano, piyacakkhunā bahujanaṁ udikkhitā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Abhinīlanetto ca hoti gopakhumo ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato, sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Piyadassano hoti bahuno janassa, piyo hoti manāpo brāhmaṇagahapatikānaṁ negamajānapadānaṁ gaṇakamahāmattānaṁ anīkaṭṭhānaṁ dovārikānaṁ amaccānaṁ pārisajjānaṁ rājūnaṁ bhogiyānaṁ kumārānaṁ.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Piyadassano hoti bahuno janassa, piyo hoti manāpo bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ devānaṁ manussānaṁ asurānaṁ nāgānaṁ gandhabbānaṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Na ca visaṭaṁ na ca visāci,
Na ca pana viceyyapekkhitā;
Ujuṁ tathā pasaṭamujumano,
Piyacakkhunā bahujanaṁ udikkhitā.
Sugatīsu so phalavipākaṁ,
Anubhavati tattha modati;
Idha ca pana bhavati gopakhumo,
Abhinīlanettanayano sudassano.
Abhiyogino ca nipuṇā,
Bahū pana nimittakovidā;
Sukhumanayanakusalā manujā,
Piyadassanoti abhiniddisanti naṁ.
Piyadassano gihīpi santo ca,
Bhavati bahujanapiyāyito;
Yadi ca na bhavati gihī samaṇo hoti,
Piyo bahūnaṁ sokanāsano”ti.
23. Uṇhīsasīsalakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
bahujanapubbaṅgamo ahosi kusalesu dhammesu bahujanapāmokkho kāyasucarite vacīsucarite manosucarite dānasaṁvibhāge sīlasamādāne uposathupavāse matteyyatāya petteyyatāya sāmaññatāya brahmaññatāya kule jeṭṭhāpacāyitāya aññataraññataresu ca adhikusalesu dhammesu.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati—
uṇhīsasīso hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano anvāyiko hoti, brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano anvāyiko hoti, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Pubbaṅgamo sucaritesu ahu,
Dhammesu dhammacariyābhirato;
Anvāyiko bahujanassa ahu,
Saggesu vedayittha puññaphalaṁ.
Veditvā so sucaritassa phalaṁ,
Uṇhīsasīsattamidhajjhagamā;
Byākaṁsu byañjananimittadharā,
Pubbaṅgamo bahujanaṁ hessati.
Paṭibhogiyā manujesu idha,
Pubbeva tassa abhiharanti tadā;
Yadi khattiyo bhavati bhūmipati,
Paṭihārakaṁ bahujane labhati.
Atha cepi pabbajati so manujo,
Dhammesu hoti paguṇo visavī;
Tassānusāsaniguṇābhirato,
Anvāyiko bahujano bhavatī”ti.
24–25. Ekekalomatāuṇṇālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato ahosi, saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Ekekalomo ca hoti, uṇṇā ca bhamukantare jātā hoti odātā mudutūlasannibhā.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato, sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano upavattati, brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Mahāssa jano upavattati, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Saccappaṭiñño purimāsu jātisu,
Advejjhavāco alikaṁ vivajjayi;
Na so visaṁvādayitāpi kassaci,
Bhūtena tacchena tathena bhāsayi.
Setā susukkā mudutūlasannibhā,
Uṇṇā sujātā bhamukantare ahu;
Na lomakūpesu duve ajāyisuṁ,
Ekekalomūpacitaṅgavā ahu.
Taṁ lakkhaṇaññū bahavo samāgatā,
Byākaṁsu uppādanimittakovidā;
Uṇṇā ca lomā ca yathā susaṇṭhitā,
Upavattatī īdisakaṁ bahujjano.
Gihimpi santaṁ upavattatī jano,
Bahu puratthāpakatena kammunā;
Akiñcanaṁ pabbajitaṁ anuttaraṁ,
Buddhampi santaṁ upavattati jano”ti.
26–27. Cattālīsaaviraḷadantalakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato ahosi. Ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya, iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Cattālīsadanto ca hoti aviraḷadanto ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Abhejjapariso hoti, abhejjāssa honti parisā, brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …
buddho samāno kiṁ labhati?
Abhejjapariso hoti, abhejjāssa honti parisā, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Vebhūtiyaṁ sahitabhedakāriṁ,
Bhedappavaḍḍhanavivādakāriṁ;
Kalahappavaḍḍhanaākiccakāriṁ,
Sahitānaṁ bhedajananiṁ na bhaṇi.
Avivādavaḍḍhanakariṁ sugiraṁ,
Bhinnānusandhijananiṁ abhaṇi;
Kalahaṁ janassa panudī samaṅgī,
Sahitehi nandati pamodati ca.
Sugatīsu so phalavipākaṁ,
Anubhavati tattha modati;
Dantā idha honti aviraḷā sahitā,
Caturo dasassa mukhajā susaṇṭhitā.
Yadi khattiyo bhavati bhūmipati,
Avibhediyāssa parisā bhavati;
Samaṇo ca hoti virajo vimalo,
Parisāssa hoti anugatā acalā”ti.
28–29. Pahūtajivhābrahmassaralakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato ahosi. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati.
Pahūtajivho ca hoti brahmassaro ca karavīkabhāṇī.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Ādeyyavāco hoti, ādiyantissa vacanaṁ brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Ādeyyavāco hoti, ādiyantissa vacanaṁ bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Akkosabhaṇḍanavihesakāriṁ,
Ubbādhikaṁ bahujanappamaddanaṁ;
Abāḷhaṁ giraṁ so na bhaṇi pharusaṁ,
Madhuraṁ bhaṇi susaṁhitaṁ sakhilaṁ.
Manaso piyā hadayagāminiyo,
Vācā so erayati kaṇṇasukhā;
Vācāsuciṇṇaphalamanubhavi,
Saggesu vedayatha puññaphalaṁ.
Veditvā so sucaritassa phalaṁ,
Brahmassarattamidhamajjhagamā;
Jivhāssa hoti vipulā puthulā,
Ādeyyavākyavacano bhavati.
Gihinopi ijjhati yathā bhaṇato,
Atha ce pabbajati so manujo;
Ādiyantissa vacanaṁ janatā,
Bahuno bahuṁ subhaṇitaṁ bhaṇato”ti.
30. Sīhahanulakkhaṇaṁ
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato ahosi kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā ahosi kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
So tassa kammassa kaṭattā …pe…
so tato cuto itthattaṁ āgato samāno imaṁ mahāpurisalakkhaṇaṁ paṭilabhati,
sīhahanu hoti.
So tena lakkhaṇena samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī …pe…
rājā samāno kiṁ labhati?
Appadhaṁsiyo hoti kenaci manussabhūtena paccatthikena paccāmittena.
Rājā samāno idaṁ labhati …pe…
buddho samāno kiṁ labhati?
Appadhaṁsiyo hoti abbhantarehi vā bāhirehi vā paccatthikehi paccāmittehi, rāgena vā dosena vā mohena vā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Na samphappalāpaṁ na muddhataṁ,
Avikiṇṇavacanabyappatho ahosi;
Ahitamapi ca apanudi,
Hitamapi ca bahujanasukhañca abhaṇi.
Taṁ katvā ito cuto divamupapajji,
Sukataphalavipākamanubhosi;
Caviya punaridhāgato samāno,
Dvidugamavaratarahanuttamalattha.
Rājā hoti suduppadhaṁsiyo,
Manujindo manujādhipati mahānubhāvo;
Tidivapuravarasamo bhavati,
Suravarataroriva indo.
Gandhabbāsurayakkharakkhasebhi,
Surehi na hi bhavati suppadhaṁsiyo;
Tathatto yadi bhavati tathāvidho,
Idha disā ca paṭidisā ca vidisā cā”ti.
31–32. Samadantasusukkadāṭhālakkhaṇāni
“Yampi, bhikkhave, tathāgato purimaṁ jātiṁ purimaṁ bhavaṁ purimaṁ niketaṁ pubbe manussabhūto samāno
micchājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvikaṁ kappesi, tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭaukkoṭanavañcananikatisāciyogachedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato ahosi.
So tassa kammassa kaṭattā upacitattā ussannattā vipulattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
So tattha aññe deve dasahi ṭhānehi adhigaṇhāti dibbena āyunā dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbena ādhipateyyena dibbehi rūpehi dibbehi saddehi dibbehi gandhehi dibbehi rasehi dibbehi phoṭṭhabbehi.
So tato cuto itthattaṁ āgato samāno imāni dve mahāpurisalakkhaṇāni paṭilabhati, samadanto ca hoti susukkadāṭho ca.
So tehi lakkhaṇehi samannāgato sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti, seyyathidaṁ—
cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ akhilamanimittamakaṇṭakaṁ iddhaṁ phītaṁ khemaṁ sivaṁ nirabbudaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Rājā samāno kiṁ labhati?
Suciparivāro hoti sucissa honti parivārā brāhmaṇagahapatikā negamajānapadā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā amaccā pārisajjā rājāno bhogiyā kumārā.
Rājā samāno idaṁ labhati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Buddho samāno kiṁ labhati?
Suciparivāro hoti, sucissa honti parivārā, bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā asurā nāgā gandhabbā.
Buddho samāno idaṁ labhati”.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ vuccati:
“Micchājīvañca avassaji samena vuttiṁ,
Sucinā so janayittha dhammikena;
Ahitamapi ca apanudi,
Hitamapi ca bahujanasukhañca acari.
Sagge vedayati naro sukhapphalāni,
Karitvā nipuṇebhi vidūhi sabbhi;
Vaṇṇitāni tidivapuravarasamo,
Abhiramati ratikhiḍḍāsamaṅgī.
Laddhāna mānusakaṁ bhavaṁ tato,
Cavitvāna sukataphalavipākaṁ;
Sesakena paṭilabhati lapanajaṁ,
Samamapi sucisusukkaṁ.
Taṁ veyyañjanikā samāgatā bahavo,
Byākaṁsu nipuṇasammatā manujā;
Sucijanaparivāragaṇo bhavati,
Dijasamasukkasucisobhanadanto.
Rañño hoti bahujano,
Suciparivāro mahatiṁ mahiṁ anusāsato;
Pasayha na ca janapadatudanaṁ,
Hitamapi ca bahujanasukhañca caranti.
Atha ce pabbajati bhavati vipāpo,
Samaṇo samitarajo vivaṭṭacchado;
Vigatadarathakilamatho,
Imamapi ca paramapi ca passati lokaṁ.
Tassovādakarā bahugihī ca pabbajitā ca,
Asuciṁ garahitaṁ dhunanti pāpaṁ;
Sa hi sucibhi parivuto bhavati,
Malakhilakalikilese panudehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Lakkhaṇasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.