Như vầy tôi nghe:
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), Pubbārāma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vāsaṭṭha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.
SC 2PTS cs 2 Vāsaṭṭha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vāsaṭṭha nói với Bharadvāja
SC 3—Này bạn Bharadvāja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bharadvāja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.
- Thưa vâng, Hiền giả!
SC 4Bharadvāja vâng theo lời Vāsaṭṭha. Rồi cả Vāsaṭṭha và Bharadvāja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.
SC 5PTS cs 3 Rồi Thế Tôn nói với Vāsaṭṭha
SC 6—Này Vāsaṭṭha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vāsaṭṭha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?
SC 7- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
SC 8- Này Vāsaṭṭha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?
SC 9- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện—giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân”. Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
SC 10PTS cs 4 - Này Vāsaṭṭha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên”. Này Vāsaṭṭha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng … là con cháu thừa tự của Phạm thiên”.
SC 11PTS cs 5 Này Vāsaṭṭha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vāsaṭṭha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vāsaṭṭha có người Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha có người Phệ xá … Này Vāsaṭṭha, có người Thủ đà la sát sanh … có tà kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện … là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.
SC 12PTS cs 6 Này Vāsaṭṭha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vāsaṭṭha, có người Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, có người Phệ xá … Này Vāsaṭṭha, có người Thủ đà la không sát sanh … không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.
SC 13PTS cs 7 Này Vāsaṭṭha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn giai cấp này, nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên.” Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vāsaṭṭha, vì rằng nếu có ai trong bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp. Này Vāsaṭṭha, Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 14PTS cs 8 Này Vāsaṭṭha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 15Này Vāsaṭṭha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: “Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép. Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: “Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?” Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép. Này Vāsaṭṭha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 16PTS cs 9 Này Vāsaṭṭha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: “Các vị là ai?”, các Ngươi cần trả lời: “Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử”. Này Vāsaṭṭha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói: “Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp.” Vì sao vậy? Này Vāsaṭṭha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.
SC 17PTS cs 10 Này Vāsaṭṭha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Ābhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vāsaṭṭha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.
SC 18PTS cs 11 Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vāsaṭṭha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.
SC 19PTS cs 12 Này Vāsaṭṭha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: “Kìa xem, vật này là gì vậy?”, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vāsaṭṭha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vāsaṭṭha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.
SC 20PTS cs 13 Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!”, như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!” Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 21PTS cs 14 Này Vāsaṭṭha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta”. Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.
SC 22PTS cs 15 Này Vāsaṭṭha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì những hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!”; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!” Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 23PTS cs 16 Này Vāsaṭṭha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm. Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: “Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?”; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 24PTS cs 17 Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ. Này Vāsaṭṭha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: “Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?” Này Vāsaṭṭha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói
SC 25—Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
SC 26- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.
SC 27Này Vāsaṭṭha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.
SC 28- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 29Này Vāsaṭṭha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói
SC 30—Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.
SC 31- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.
SC 32Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.
SC 33- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 34Này Vāsaṭṭha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói
SC 35—Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
SC 36- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!
SC 37Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.
SC 38- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 39Này Vāsaṭṭha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.
SC 40PTS cs 18 Này Vāsaṭṭha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền
SC 41—Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
SC 42Này Vāsaṭṭha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
SC 43PTS cs 19 Này Vāsaṭṭha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói
SC 44—Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
- Thưa Bạn, vâng!
SC 45Này Vāsaṭṭha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vāsaṭṭha, một lần thứ hai … Này Vāsaṭṭha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói
SC 46—Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy … Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
SC 47Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vāsaṭṭha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.
SC 48PTS cs 20 Này Vāsaṭṭha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc
SC 49—Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.
SC 50- Xin vâng, các Tôn giả!
SC 51Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.
SC 52PTS cs 21 Này Vāsaṭṭha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, “Vị chủ của ruộng vườn” tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên” Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp”, tức là Rāja (vị vua). Rāja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 53PTS cs 22 Này Vāsaṭṭha, một số các vị hữu tình suy nghĩ
SC 54—Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.
SC 55Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau
SC 56—Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.
SC 57Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vāsaṭṭha, họ “Jhāyanti”, tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jhàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.
SC 58PTS cs 23 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:
SC 59“Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.
SC 60Này Vāsaṭṭha, “Na dàn ime Jhāyanti” tức là ajjhāyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vāsaṭṭha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 61PTS cs 24 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vāsaṭṭha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vāsaṭṭha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 62PTS cs 25 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vāsaṭṭha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddà được khởi lên. Như vậy, này Vāsaṭṭha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 63PTS cs 26 Này Vāsaṭṭha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Này Vāsaṭṭha, giai cấp Samaṇa (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 64PTS cs 27 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Vessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 65PTS cs 28 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Sessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.
SC 66PTS cs 29 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Vessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.
SC 67PTS cs 30 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … vị Vessà … Này Vāsaṭṭha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.
SC 68PTS cs 31 Này Vāsaṭṭha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.
SC 69PTS cs 32 Này Vāsaṭṭha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanankumāra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:
SC 70Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
SC 71Này Vāsaṭṭha, bài kệ này được Phạm thiên Sanankumāra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vāsaṭṭha, Ta cũng nói như sau:
SC 72Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
SC 73Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vāsaṭṭha và Bharadvāja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena vāseṭṭhabhāradvājā bhikkhūsu parivasanti bhikkhubhāvaṁ ākaṅkhamānā.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamati.
Addasā kho vāseṭṭho bhagavantaṁ sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhitaṁ pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamantaṁ.
Disvāna bhāradvājaṁ āmantesi:
“ayaṁ, āvuso bhāradvāja, bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamati.
Āyāmāvuso bhāradvāja, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma;
appeva nāma labheyyāma bhagavato santikā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho bhāradvājo vāseṭṭhassa paccassosi.
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavantaṁ caṅkamantaṁ anucaṅkamiṁsu.
Atha kho bhagavā vāseṭṭhaṁ āmantesi:
“tumhe khvattha, vāseṭṭha, brāhmaṇajaccā brāhmaṇakulīnā brāhmaṇakulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, kacci vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā na akkosanti na paribhāsantī”ti?
“Taggha no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti.
“Yathā kathaṁ pana vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti?
“Brāhmaṇā, bhante, evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā.
Brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā.
Brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā.
Brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā.
Te tumhe seṭṭhaṁ vaṇṇaṁ hitvā hīnamattha vaṇṇaṁ ajjhupagatā, yadidaṁ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce.
Tayidaṁ na sādhu, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yaṁ tumhe seṭṭhaṁ vaṇṇaṁ hitvā hīnamattha vaṇṇaṁ ajjhupagatā yadidaṁ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce’ti.
Evaṁ kho no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti.
“Taggha vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā porāṇaṁ assarantā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Dissanti kho pana, vāseṭṭha, brāhmaṇānaṁ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi.
Te ca brāhmaṇā yonijāva samānā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Te brahmānañceva abbhācikkhanti, musā ca bhāsanti, bahuñca apuññaṁ pasavanti.
1. Catuvaṇṇasuddhi
Cattārome, vāseṭṭha, vaṇṇā—
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā sāvajjā sāvajjasaṅkhātā asevitabbā asevitabbasaṅkhātā naalamariyā naalamariyasaṅkhātā kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā, khattiyepi te idhekacce sandissanti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …pe…
suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā …pe…
kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā;
suddepi te idhekacce sandissanti.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu abyāpannacitto, sammādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā, khattiyepi te idhekacce sandissanti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …pe…
suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe…
anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā;
suddepi te idhekacce sandissanti.
Imesu kho, vāseṭṭha, catūsu vaṇṇesu evaṁ ubhayavokiṇṇesu vattamānesu kaṇhasukkesu dhammesu viññugarahitesu ceva viññuppasatthesu ca yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Taṁ tesaṁ viññū nānujānanti.
Taṁ kissa hetu?
Imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṁ vaṇṇānaṁ yo hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so nesaṁ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Tadamināpetaṁ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṁ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Jānāti kho, vāseṭṭha, rājā pasenadi kosalo:
‘samaṇo gotamo anantarā sakyakulā pabbajito’ti.
Sakyā kho pana, vāseṭṭha, rañño pasenadissa kosalassa anuyuttā bhavanti.
Karonti kho, vāseṭṭha, sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, yaṁ karonti sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ, karoti taṁ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ, na naṁ ‘sujāto samaṇo gotamo, dujjātohamasmi.
Balavā samaṇo gotamo, dubbalohamasmi.
Pāsādiko samaṇo gotamo, dubbaṇṇohamasmi.
Mahesakkho samaṇo gotamo, appesakkhohamasmī’ti.
Atha kho naṁ dhammaṁyeva sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ mānento dhammaṁ pūjento dhammaṁ apacāyamāno evaṁ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṁ karoti, abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ.
Imināpi kho etaṁ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṁ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Tumhe khvattha, vāseṭṭha, nānājaccā nānānāmā nānāgottā nānākulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā.
‘Ke tumhe’ti—puṭṭhā samānā ‘samaṇā sakyaputtiyāmhā’ti—paṭijānātha.
Yassa kho panassa, vāseṭṭha, tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṁhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, tassetaṁ kallaṁ vacanāya:
‘bhagavatomhi putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo’ti.
Taṁ kissa hetu?
Tathāgatassa hetaṁ, vāseṭṭha, adhivacanaṁ ‘dhammakāyo’ itipi, ‘brahmakāyo’ itipi, ‘dhammabhūto’ itipi, ‘brahmabhūto’ itipi.
Hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati.
Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti.
Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati.
Vivaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarakāyā cavitvā itthattaṁ āgacchanti.
Tedha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
2. Rasapathavipātubhāva
Ekodakībhūtaṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti andhakāro andhakāratimisā.
Na candimasūriyā paññāyanti, na nakkhattāni tārakarūpāni paññāyanti, na rattindivā paññāyanti, na māsaḍḍhamāsā paññāyanti, na utusaṁvaccharā paññāyanti, na itthipumā paññāyanti, sattā sattātveva saṅkhyaṁ gacchanti.
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṁ samatani;
seyyathāpi nāma payaso tattassa nibbāyamānassa upari santānakaṁ hoti;
evameva pāturahosi.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇā ahosi.
Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ;
evamassādā ahosi.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko:
‘ambho, kimevidaṁ bhavissatī’ti rasapathaviṁ aṅguliyā sāyi.
Tassa rasapathaviṁ aṅguliyā sāyato acchādesi, taṇhā cassa okkami.
Aññepi kho, vāseṭṭha, sattā tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamānā rasapathaviṁ aṅguliyā sāyiṁsu.
Tesaṁ rasapathaviṁ aṅguliyā sāyataṁ acchādesi, taṇhā ca tesaṁ okkami.
3. Candimasūriyādipātubhāva
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Atha tesaṁ sattānaṁ sayaṁpabhā antaradhāyi.
Sayaṁpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṁ.
Candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṁ.
Nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṁsu.
Rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṁsu.
Māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṁvaccharā paññāyiṁsu.
Ettāvatā kho, vāseṭṭha, ayaṁ loko puna vivaṭṭo hoti.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ rasapathaviṁ paribhuñjantānaṁ kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha.
Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā.
Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti:
‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti.
Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ rasapathavī antaradhāyi.
Rasāya pathaviyā antarahitāya sannipatiṁsu.
Sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘aho rasaṁ, aho rasan’ti.
Tadetarahipi manussā kañcideva surasaṁ labhitvā evamāhaṁsu:
‘aho rasaṁ, aho rasan’ti.
Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
4. Bhūmipappaṭakapātubhāva
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ rasāya pathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi.
Seyyathāpi nāma ahicchattako; evameva pāturahosi.
So ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇo ahosi.
Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādo ahosi.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Te taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha.
Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā.
Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti:
‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti.
Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ bhūmipappaṭako antaradhāyi.
5. Padālatāpātubhāva
Bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi, seyyathāpi nāma kalambukā; evameva pāturahosi.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇā ahosi.
Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādā ahosi.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Te taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha.
Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā.
Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti:
‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti.
Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ padālatā antaradhāyi.
Padālatāya antarahitāya sannipatiṁsu. Sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘ahu vata no, ahāyi vata no padālatā’ti.
Tadetarahipi manussā kenaci dukkhadhammena phuṭṭhā evamāhaṁsu:
‘ahu vata no, ahāyi vata no’ti.
Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
6. Akaṭṭhapākasālipātubhāva
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo.
Yaṁ taṁ sāyaṁ sāyamāsāya āharanti, pāto taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ.
Yaṁ taṁ pāto pātarāsāya āharanti, sāyaṁ taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ;
nāpadānaṁ paññāyati.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
7. Itthipurisaliṅgapātubhāva
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha, itthiyā ca itthiliṅgaṁ pāturahosi purisassa ca purisaliṅgaṁ.
Itthī ca purisaṁ ativelaṁ upanijjhāyati puriso ca itthiṁ.
Tesaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyataṁ sārāgo udapādi, pariḷāho kāyasmiṁ okkami.
Te pariḷāhapaccayā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu.
Ye kho pana te, vāseṭṭha, tena samayena sattā passanti methunaṁ dhammaṁ paṭisevante, aññe paṁsuṁ khipanti, aññe seṭṭhiṁ khipanti, aññe gomayaṁ khipanti:
‘nassa asuci, nassa asucī’ti.
‘Kathañhi nāma satto sattassa evarūpaṁ karissatī’ti.
Tadetarahipi manussā ekaccesu janapadesu vadhuyā nibbuyhamānāya aññe paṁsuṁ khipanti, aññe seṭṭhiṁ khipanti, aññe gomayaṁ khipanti.
Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
8. Methunadhammasamācāra
Adhammasammataṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi dhammasammataṁ.
Ye kho pana, vāseṭṭha, tena samayena sattā methunaṁ dhammaṁ paṭisevanti, te māsampi dvemāsampi na labhanti gāmaṁ vā nigamaṁ vā pavisituṁ.
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā tasmiṁ asaddhamme ativelaṁ pātabyataṁ āpajjiṁsu.
Atha agārāni upakkamiṁsu kātuṁ tasseva asaddhammassa paṭicchādanatthaṁ.
Atha kho, vāseṭṭha, aññatarassa sattassa alasajātikassa etadahosi:
‘ambho, kimevāhaṁ vihaññāmi sāliṁ āharanto sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya.
Yannūnāhaṁ sāliṁ āhareyyaṁ sakideva sāyapātarāsāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto sāliṁ āhāsi sakideva sāyapātarāsāya.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca:
‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva sāyapātarāsāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva dvīhāya. ‘Evampi kira, bho, sādhū’ti.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca:
‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva dvīhāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva catūhāya, ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca:
‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva catūhāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva aṭṭhāhāya, ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā sannidhikārakaṁ sāliṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Atha kaṇopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṁ pariyonandhi;
lūnampi nappaṭivirūḷhaṁ, apadānaṁ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo aṭṭhaṁsu.
9. Sālivibhāga
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṁsu, sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā.
Mayañhi pubbe manomayā ahumhā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no amhākaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṁ samatani.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā.
Te mayaṁ rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamimha paribhuñjituṁ, tesaṁ no rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamataṁ paribhuñjituṁ sayaṁpabhā antaradhāyi.
Sayaṁpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṁ, candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṁ, nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṁsu, rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṁsu.
Māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṁvaccharā paññāyiṁsu.
Te mayaṁ rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā rasapathavī antaradhāyi.
Rasapathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi.
So ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno.
Te mayaṁ bhūmipappaṭakaṁ upakkamimha paribhuñjituṁ.
Te mayaṁ taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā bhūmipappaṭako antaradhāyi.
Bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā.
Te mayaṁ padālataṁ upakkamimha paribhuñjituṁ.
Te mayaṁ taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā padālatā antaradhāyi.
Padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo.
Yaṁ taṁ sāyaṁ sāyamāsāya āharāma, pāto taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ.
Yaṁ taṁ pāto pātarāsāya āharāma, sāyaṁ taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ.
Nāpadānaṁ paññāyittha.
Te mayaṁ akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā kaṇopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, lūnampi nappaṭivirūḷhaṁ, apadānaṁ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo ṭhitā.
Yannūna mayaṁ sāliṁ vibhajeyyāma, mariyādaṁ ṭhapeyyāmā’ti.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sāliṁ vibhajiṁsu, mariyādaṁ ṭhapesuṁ.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñji.
Tamenaṁ aggahesuṁ, gahetvā etadavocuṁ:
‘pāpakaṁ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñjasi.
Māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṁ sattānaṁ paccassosi.
Dutiyampi kho, vāseṭṭha, so satto …pe…
tatiyampi kho, vāseṭṭha, so satto sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñji.
Tamenaṁ aggahesuṁ, gahetvā etadavocuṁ:
‘pāpakaṁ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñjasi.
Māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti.
Aññe pāṇinā pahariṁsu, aññe leḍḍunā pahariṁsu, aññe daṇḍena pahariṁsu.
Tadagge kho, vāseṭṭha, adinnādānaṁ paññāyati, garahā paññāyati, musāvādo paññāyati, daṇḍādānaṁ paññāyati.
10. Mahāsammatarājā
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṁsu, sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘pāpakā vata bho dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṁ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṁ paññāyissati.
Yannūna mayaṁ ekaṁ sattaṁ sammanneyyāma, yo no sammā khīyitabbaṁ khīyeyya, sammā garahitabbaṁ garaheyya, sammā pabbājetabbaṁ pabbājeyya.
Mayaṁ panassa sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadassāmā’ti.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā yo nesaṁ satto abhirūpataro ca dassanīyataro ca pāsādikataro ca mahesakkhataro ca taṁ sattaṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘ehi, bho satta, sammā khīyitabbaṁ khīya, sammā garahitabbaṁ garaha, sammā pabbājetabbaṁ pabbājehi.
Mayaṁ pana te sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadassāmā’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṁ sattānaṁ paṭissuṇitvā sammā khīyitabbaṁ khīyi, sammā garahitabbaṁ garahi, sammā pabbājetabbaṁ pabbājesi.
Te panassa sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadaṁsu.
Mahājanasammatoti kho, vāseṭṭha, ‘mahāsammato, mahāsammato’ tveva paṭhamaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Khettānaṁ adhipatīti kho, vāseṭṭha, ‘khattiyo, khattiyo’ tveva dutiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Dhammena pare rañjetīti kho, vāseṭṭha, ‘rājā, rājā’ tveva tatiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa khattiyamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ, anaññesaṁ. Sadisānaṁyeva, no asadisānaṁ. Dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
11. Brāhmaṇamaṇḍala
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁyeva ekaccānaṁ etadahosi:
‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṁ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṁ paññāyissati, pabbājanaṁ paññāyissati.
Yannūna mayaṁ pāpake akusale dhamme vāheyyāmā’ti.
Te pāpake akusale dhamme vāhesuṁ.
Pāpake akusale dhamme vāhentīti kho, vāseṭṭha, ‘brāhmaṇā, brāhmaṇā’ tveva paṭhamaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Te araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā.
Te ghāsaṁ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu:
‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti, vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā.
Te ghāsaṁ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyantī’ti,
jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘jhāyakā, jhāyakā’ tveva dutiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Tesaṁyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ekacce sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṁ jhānaṁ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṁ nigamasāmantaṁ osaritvā ganthe karontā acchanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu:
‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṁ jhānaṁ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṁ nigamasāmantaṁ osaritvā ganthe karontā acchanti, na dānime jhāyantī’ti.
Na dānime jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā, ajjhāyakā’ tveva tatiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Hīnasammataṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi seṭṭhasammataṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa brāhmaṇamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ, anaññesaṁ sadisānaṁyeva no asadisānaṁ dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
12. Vessamaṇḍala
Tesaṁyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ekacce sattā methunaṁ dhammaṁ samādāya visukammante payojesuṁ.
Methunaṁ dhammaṁ samādāya visukammante payojentīti kho, vāseṭṭha, ‘vessā, vessā’ tveva akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa vessamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaññeva sattānaṁ anaññesaṁ sadisānaṁyeva, no asadisānaṁ, dhammeneva no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
13. Suddamaṇḍala
Tesaññeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ye te sattā avasesā te luddācārā khuddācārā ahesuṁ.
Luddācārā khuddācārāti kho, vāseṭṭha, ‘suddā, suddā’ tveva akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa suddamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ anaññesaṁ, sadisānaṁyeva no asadisānaṁ, dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Ahu kho so, vāseṭṭha, samayo, yaṁ khattiyopi sakaṁ dhammaṁ garahamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati:
‘samaṇo bhavissāmī’ti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …pe…
suddopi kho, vāseṭṭha, sakaṁ dhammaṁ garahamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati:
‘samaṇo bhavissāmī’ti.
Imehi kho, vāseṭṭha, catūhi maṇḍalehi samaṇamaṇḍalassa abhinibbatti ahosi, tesaṁyeva sattānaṁ anaññesaṁ, sadisānaṁyeva no asadisānaṁ, dhammeneva no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
14. Duccaritādikathā
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṁ caritvā vācāya sucaritaṁ caritvā manasā sucaritaṁ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṁ caritvā vācāya sucaritaṁ caritvā manasā sucaritaṁ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṁvedī hoti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṁvedī hoti.
15. Bodhipakkhiyabhāvanā
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto sattannaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto sattannaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati.
Imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṁ vaṇṇānaṁ yo hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so nesaṁ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Brahmunā pesā, vāseṭṭha, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse’ti.
Sā kho panesā, vāseṭṭha, brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā, no duggītā. Subhāsitā, no dubbhāsitā. Atthasaṁhitā, no anatthasaṁhitā. Anumatā mayā.
Ahampi, vāseṭṭha, evaṁ vadāmi—
Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā vāseṭṭhabhāradvājā bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Aggaññasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
PTS cs 1 Thus have I heard. The Exalted One was once staying near Sāvatthī, in the East Park, at the mansion of the Mother of Migāra. Now at that time Vāseṭṭha and Bhāradvāja were passing their probation among the brethren, desiring to become bhikkhus. Then at eventide the Exalted One, having arisen from his meditations, had come down from the house, and was walking to and fro in the open air, in the shade of the house.
PTS cs 2 Now Vāseṭṭha saw this, and on seeing it he told Bhāradvāja, adding: Let us go, friend Bhāradvāja, let us approach the Exalted One, for perchance we might have the good fortune to hear from the Exalted One a talk on matters of doctrine.
Even so, friend, Bhāradvāja made reply. So Vāseṭṭha and Bhāradvāja went and approached the Exalted One, and having saluted him, they walked after him as he walked to and fro.
PTS cs 3 Then the Exalted One said to Vāseṭṭha: PTS vp Pali 3.81 You, Vāseṭṭha, being brahmins by birth and family, have gone forth from a brahmin family, your home, PTS vp En 78 into the homeless life. Do not the brahmins blame and revile you?
Yea, verily, lord, the brahmins do blame and revile us with characteristic abuse, copious, not at all stinted.
But in what words, Vāseṭṭha, do they so blame you?
The brahmins, lord, say thus: “The brahmin class is the best.”
But in what terms, Vāseṭṭha, do the brahmins blame and censure you to this extent?
The brahmins, lord, say thus: Only a brahmin is of the best social grade; other grades are low. Only a brahmin is of a clear complexion; other complexions are swarthy. Only brahmins are of pure breed; not they that are not of the brahmins. Only brahmins are genuine children of Brahmā, born of his mouth, offspring of Brahmā, created by Brahmā, heirs of Brahmā. As for you, you have renounced the best rank, and have gone over to that low class—to shaven recluses, to the vulgar rich, to them of swarthy skins, to the footborn descendants. Such a course is not good, such a course is not proper, even this, that you, having forsaken that upper class, should associate with an inferior class, to wit, with shaveling friar-folk, menials, swarthy of skin, the offscouring of Our kinsman’s heels. In these terms, lord, do the brahmins blame and revile us with characteristic abuse, copious, not at all stinted.
PTS cs 4 Surely, Vāseṭṭha, the brahmins have quite forgotten the past (the ancient lore) when they say so? On the contrary, brahminees, the wives of brahmins, are known to be fertile, are seen to be with childPTS vp Pali 3.82 , bringing forth and nursing children. And yet it is these very womb-born brahmins who say that … brahmins are genuine children of Brahmā, born from his mouth; his offspring, his creation, and his heirs! By this they make a travesty of the nature of Brahmā. PTS vp En 79 It is false what they say, and great is the demerit that they thereby earn.
PTS cs 5 There are these four classes, Vāseṭṭha: nobles, brahmins, tradesfolk, workpeople. Now here and there a noble deprives a living being of life, is a thief, is unchaste, speaks lies, slanders, uses rough words, is a gossip, or greedy, or malevolent, or holds wrong views. Thus we see that qualities which are immoral and considered to be so, which are blameworthy and considered to be so, which ought not to be sought after and are so considered, which are unworthy of an Ariyan and are so considered, qualities sinister and of sinister effect, discountenanced by the wise, are to be found here and there in such a noble. And we may say as much concerning brahmins, tradesfolk and workpeople.
PTS cs 6 Again, here and there a noble abstains from murder, theft, inchastity, lying, slandering, gossiping, greed, malevolence and false opinions. Thus we see that qualities which are, and are considered, moral, inoffensive, unexceptional, truly Ariyan, benign and of benign effect, commended by the wise, are to be found here and there in a noble. And we may say as much concerning each of the others—brahmins, tradesfolk PTS vp Pali 3.83 and workpeople.
PTS cs 7 Now seeing, Vāseṭṭha, that both bad and good qualities, blamed and praised respectively by the wise, are thus distributed among each of the four classes, the wise do not admit those claims which the brahmins put forward. And why? Because, Vāseṭṭha, whoever among all these four classes becomes a bhikkhu, an Arahant, one who has destroyed the deadly taints, who has lived the life, has done that which was to be done, has laid down the burden, has attained his own salvation, has destroyed the fetter of rebirth, and has PTS vp En 80 become free because he has perfected knowledge—he is declared chief among them, and that in virtue of a norm (a standard), and not irrespective of a norm. For a norm, Vāseṭṭha, is the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 8 The following, Vāseṭṭha, is an illustration for understanding how a norm is the best among this folk both in this life and in the next. King Pasenadi of Kosala is aware that the Samaṇa Gotama has gone forth from the adjacent clan of the Sākyas. Now the Sākyas are become the vassals of King Pasenadi. They render to him homage and respectful salutation, they rise and do him obeisance, and treat him with ceremony. Now, just as the Sākyans treat King Pasenadi of Kosala, PTS vp Pali 3.84 so does the king treat the Tathāgata. For he thinks: Is not the Samaṇa Gotama well born? Then I am not well born. The Samaṇa Gotama is strong, I am weak. He is attractive, I am not comely; the Samaṇa Gotama has great influence, I have but little influence. Now it is because the king honours a norm, reveres a norm, regards a norm, does homage PTS vp En 81 to a norm, holds sacred a norm, that he renders homage and respectful salutation to the Tathāgata, rising and doing him obeisance, and treating him with ceremony. By this illustration may it be understood how a norm is the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 9 You, Vāseṭṭha, who, differing all of you in birth, in name, in clan and family, have gone forth from home into the homeless life, may be asked: Who are ye? Then do ye reply: We be Samaṇas who follow him of the sons of the Sākyans. He, Vāseṭṭha, whose faith in the Tathāgata is settled, rooted, established and firm, a faith not to be dragged down by recluse or brahmin, by deva or Mara or Brahmā or anyone in the world, well may he say: I am a veritable son of the Exalted One, born from his mouth, born of the Norm, created by the Norm, heir of the Norm. And why? Because, Vāseṭṭha, these are names tantamount to Tathāgata: Belonging to the Norm, and again, belonging to the highest, and again, one with the Norm, and again, one with the Highest.
PTS cs 10 There comes a time, Vāseṭṭha, when, sooner or later, after the lapse of a long, long period, this world PTS vp En 82 passes away. And when this happens, beings have mostly been reborn in the World of Radiance; and there they dwell, made of mind, feeding on rapture, self-luminous, traversing the air, continuing in glory; and thus they remain for a long, long period of time. There comes also a time, Vāseṭṭha, when sooner or later this world begins to re-evolve. When this happens, beings who had deceased from the World of Radiance, usually PTS vp Pali 3.85 come to life as humans. And they become made of mind, feeding on rapture, self-luminous, traversing the air, continuing in glory, and remain thus for a long, long period of time.
PTS cs 11 Now at that time, all had become one world of water, dark, and of darkness that maketh blind. No moon nor sun appeared, no stars were seen, nor constellations, neither was night manifest nor day, neither months nor half-months, neither years nor seasons, neither female nor male. Beings were reckoned just as beings only. And to those beings, Vāseṭṭha, sooner or later after a long time, earth with its savour was spread out in the waters. Even as a scum forms on the surface of boiled milky rice that is cooling, so did the earth appear. It became endowed with colour, with odour, and with taste. Even as well-made ghee or pure butter, so was its colour; even as the flawless honey of the bee, so sweet was it.
PTS cs 12 Then, Vāseṭṭha, some being of greedy disposition, said: Lo now! What will this be? and tasted the savoury earth with his finger. He thus, tasting, became suffused with the savour, and craving entered into him. And other beings, following his example, tasted the savoury earth with their finger. They thus, tasting, became suffused with the savour, a craving entered into them. Then those beings began to feast on the savoury earth, breaking off lumps of it with their hands. And PTS vp En 83 from PTS vp Pali 3.86 the doing thereof the self-luminance of those beings faded away. As their self-luminance faded away, the moon and the sun became manifest. Thereupon star-shapes and constellations became manifest. Thereupon night and day became manifest, months too and half-months, the seasons and the years. Thus far then, Vāseṭṭha, did the world evolve again.
PTS cs 13 Now those beings, Vāseṭṭha, feasting on the savoury earth, feeding on it, nourished by it, continued thus for a long long while. And in measure as they thus fed, did their bodies become solid, and did variety in their comeliness become manifest. Some beings were well favoured, some were ill favoured. And herein they that were well favoured despised them that were ill favoured, thinking: We are more comely than they; they are worse favoured than we. And while they through pride in their beauty thus became vain and conceited, the savoury earth disappeared. At the disappearance of the savoury earth, they gathered themselves together and bewailed it: Alas for the savour! Alas for the savour! Even so now when men having gotten a good savour say; Ah, the savour of it! Ah, the savour of it! They do but follow an ancient primordial saying, not recognizing the significance thereof.
PTS cs 14 Then, Vāseṭṭha, when the savoury earth PTS vp Pali 3.87 had vanished for those beings, outgrowths appeared in the soil. The manner of the rising up thereof was as the springing up of the mushroom, it had colour, odour and taste; even as well-formed ghee or fine butter so was the colour thereof, and even as flawless honeycomb so was the sweetness thereof. Then those beings began to feast on these outgrowths of the soil. And they, feasting on them, finding food and nourishment in them, continued for a long long while. And PTS vp En 84 in measure as they thus fed and were thus nourished, so did their bodies grow ever more solid, and the difference in their comeliness more manifest, some becoming well favoured, some ill favoured. Then they that were well favoured despised them that were ill favoured, thinking: We are more comely than they; they are worse favoured than we. And while they, through pride in their beauty, thus became vain and conceited, these outgrowths of the soil disappeared. Thereupon creeping plants appeared, and the manner of the growth thereof was as that of the bamboo, and they had colour, odour and taste. Even as well-made ghee or fine butter so was the colour thereof; even as flawless honeycomb so was the sweetness thereof.
PTS cs 15 Then, Vāseṭṭha, those beings began to feast on the creepers. And they, feasting on them, feeding on them, nourished by them, continued so for a long long while. And in measure as they thus fed and were nourished did their bodies wax more solid, and the divergence in their comeliness increase, PTS vp Pali 3.88 so that, as before, the better favoured despised the worst favoured. And while those, through pride in their beauty, became vain and conceited, the creepers disappeared. At the disappearance thereof they gathered themselves together and bewailed, saying: Verily it was ours, the creeper! Now it has vanished away! Alas and O me! We have lost! Even so now when men, being asked what is the matter, say: Alas and O me! What we had that have we lost! They do but follow an ancient primordial saying, not recognizing the significance thereof.
PTS cs 16 Then, Vāseṭṭha, when the creepers had vanished for those beings, rice appeared ripening in open spaces,
No powder had it and no husk. [Pure,] fragrant and clean grained.
PTS vp En 85 Where of an evening they gathered and carried away for supper, there next morning the rice stood ripe and grown again. Where in the morning they gathered and carried away for breakfast, there in the evening it stood ripe and grown again. No break was to be seen [where the husks had been broken off].
Then those beings feasting on this rice in the clearings, feeding on it, nourished by it, so continued for a long long while. And in measure as they, thus feeding, went on existing, so did the bodies of those beings become even more solid, and the divergence in their comeliness more pronounced. In the female appeared the distinctive features of the female, in the male those of the male. Then truly did woman contemplate man too closely, and man, woman. In them contemplating over much the one the other, passion arose and burning entered their body. They in consequence thereof followed their lusts. And beings seeing them so doing threw, some, sand, some, ashes, PTS vp Pali 3.89 some, cowdung, crying: Perish, foul one! Perish, foul one! How can a being treat a being so? Even so now when men, in certain districts, when a bride is led away, throw either sand, or ashes, or cowdung, they do but follow an ancient enduring primordial form, not recognizing the significance thereof.
PTS cs 17 That which was reckoned immoral at that time, Vāseṭṭha, is now reckoned to be moral. Those beings who at that time followed their lusts, were not allowed to enter village or town either for a whole month or even for two months. And inasmuch as those beings at that time quickly incurred blame for immorality, they set to work to make huts, to conceal just that immorality.
PTS vp En 86 Then Vāseṭṭha, this occurred to some being of a lazy disposition: Lo now! Why do I wear myself out fetching rice for supper in the evening, and in the morning for breakfast? What if I were to fetch enough rice for supper and breakfast together? So he gathered at one journey enough rice for the two meals together.
Then some being came to him and said: Come, good being, let us go rice-gathering. That’s not wanted, good being, I have fetched rice for the evening and morning meal. Then the former followed his example and fetched rice for two days at once, saying: So much, they say, will about do. Then some other being came PTS vp Pali 3.90 to this one and said: Come, good being, let us go rice-gathering. And he: Never mind, good being, I have fetched rice enough for two days. [And so, in like manner, they stored up rice enough for four, and then for eight days.]
Now from the time, Vāseṭṭha, that those beings began to feed on hoarded rice, powder enveloped the clean grain, and husk enveloped the grain, and the reaped or cut stems did not grow again; a break became manifest [where the reaper had cut]; the rice stubble stood in clumps.
PTS cs 18 Then those beings, Vāseṭṭha, gathered themselves and bewailed this, saying: Evil customs, sirs, have appeared among men. For in the past, we were made of mind, we fed on rapture, self-luminous, we traversed the air in abiding loveliness; long long the period we so remained. For us sooner or later, after a long long while the savoury earth had arisen over the waters. Colour it had, and odour and taste. We set to work to make the earth into lumps, and feast on it. As we did so our self-luminance vanished away. When it was gone, moon and sun became manifest, PTS vp Pali 3.91 star-shapes and constellations, night and day, the months and half-months, the seasons and the years. We enjoying the savoury earth, feeding on it, nourished by it, continued so for a long long while. But since evil and immoral customs became rife among us, PTS vp En 87 the savoury earth disappeared. When it had ceased outgrowths of the soil became manifest, clothed with colour, odour and taste. Them we began to enjoy; and fed and nourished thereby, we continued so for a long long while. But when evil and immoral customs arose among us, these outgrowths disappeared. When they had vanished, creepers appeared clothed with colour, odour and taste. Them we turned to enjoy; and fed and nourished thereby we continued so for a long long while. But since evil and immoral customs became prevalent among us, the creepers also disappeared. When they had ceased rice appeared, ripening in open spaces, without powder, without husk, pure, fragrant and clean grained. Where we plucked and took away for the evening meal every evening, there next morning it had grown ripe again. Where we plucked and took away for the morning meal, there in the evening it had grown ripe again. There was no break visible. Enjoying this rice, feeding on it, nourished by it, we have so continued a long long while. But from evil and immoral customs becoming manifest among us, powder has enveloped the clean grain, husk too has enveloped the clean grain, and where we have reaped is no re-growth; a break has come, and the rice-stubble stands in PTS vp Pali 3.92 clumps. Come now, let us divide off the rice fields and set boundaries thereto! And so they divided off the rice and set up boundaries round it.
PTS cs 19 Now some being, Vāseṭṭha, of greedy disposition, watching over his own plot, stole another plot and made use of it. They took him and holding him fast, said: Truly, good being, thou hast wrought evil in that, while watching thine own plot, thou hast stolen another plot and made use of it. See, good being, that thou do not such a thing again! Ay, sirs, he replied. And a second time he did so. And yet a third. And again they took him and admonished him. Some smote him with the hand, some with clods, some with sticks. With such a beginning, Vāseṭṭha, did stealing appear, and censure and lying and punishment became known.
PTS cs 20 PTS vp En 88 Now those beings, Vāseṭṭha, gathered themselves together, and bewailed these things, saying: From our evil deeds, sirs, becoming manifest, inasmuch as stealing, censure, lying, punishment have become known, what if we were to select a certain being, who should be wrathful when indignation is right, who should censure that which should rightly be censured and should banish him who deserves to be banished? But we will give him in return a proportion of the rice.
PTS vp Pali 3.93 Then, Vāseṭṭha, those beings went to the being among them who was the handsomest, the best favoured, the most attractive, the most capable and said to him: Come now, good being, be indignant at that whereat one should rightly be indignant, censure that which should rightly be censured, banish him who deserves to be banished. And we will contribute to thee a proportion of our rice.
And he consented, and did so, and they gave him a proportion of their rice.
PTS cs 21 Chosen by the whole people, Vāseṭṭha, is what is meant by Mahā Sammata; so Mahā Sammata (the Great Elect) was the first standing phrase to arise [for such a one]. Lord of the Fields is what is meant by Khattiya; so Khattiya (Noble) was the next expression to arise. He charms the others by the Norm—by what ought (to charm)—is what is meant by Raja; so this was the third standing phrase to arise.
Thus then, Vāseṭṭha, was the origin of this social circle of the Nobles, according to the ancient primordial phrases [by which they were known]. Their origin was from among those very beings, and no others; like unto themselves, not unlike; and it took PTS vp En 89 place according to the Norm [according to what ought to be, justly], not unfittingly.
For, Vāseṭṭha.
The norm’s the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 22 Now it occurred, Vāseṭṭha, to some of those beings, as follows: Evil deeds, sirs, have become manifest among us, inasmuch as stealing, censure, lying, punishment can be noticed, and banishment. Let us now put away from us evil and immoral customs. And they put away from them such customs. They put away (bāhenti) evil, immoral customs, Vāseṭṭha, is what is meant by Brahmins, and thus was it that Brahmins became the earliest standing phrase [for those who did so]. They, making leaf huts in woodland spots, meditated therein. Extinct for them the burning coal, vanished the smoke, fallen lies pestle and mortar; gathering of an evening for the evening meal, of a morning for the morning meal, they go down into village and town and royal city, seeking food. When they have gotten food, back again in their leafhuts they meditate. When men saw this, they said: PTS vp En 90 These good beings, having made unto themselves leaf-huts in the forest region, meditate therein. For them burning coal is extinct, smoke is known no more, pestle and mortar have fallen from their hands; they gather of an evening for the evening meal, of a morning for the morning meal, and go down into village and town and royal city seeking food. When they have gotten food, back again in their leaf-huts they meditate. They meditate (jhāyanti), Vāseṭṭha, is what is meant by the brooding one (jhāyakā). Thus was it that this was the second phrase that arose.
PTS cs 23 Now certain of those beings, Vāseṭṭha, being incapable of enduring this meditation in forest leaf-huts, went down and settled on the outskirts of villages and towns, making books. When men saw this, they said: These good beings, being incapable of enduring meditation in forest leaf-huts, have gone down and settled on the outskirts of villages and towns, and there they make books. But they cannot meditate. Now, these meditate not, Vāseṭṭha, is what is meant by Ajjhāyaka (repeaters, viz., of the Vedas).
Thus this third phrase for such people came into use.
At that time they were looked upon as the lowest; now they are thought the best.
Such then, Vāseṭṭha, according to the ancient, yea, primordial, expressions by which they were known, was the origin of this social circle of the Brahmins. PTS vp Pali 3.95 Their origin was from just those beings [above referred to]; beings like unto themselves, not unlike; [and it took place] according to the Norm [according to what ought to be, justly] not unfittingly.
For, Vāseṭṭha, The Norm’s the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 24 PTS vp En 91 Now, Vāseṭṭha, there were some others of those beings who, adopting the married state, set on foot various trades. That they, adopting the married state, set on foot various [vissa] trades is, Vāseṭṭha, the meaning of vessā (tradesfolk). So this word came into use as a standing expression for such people. The origin, Vāseṭṭha, of the social group called the Vessas was in accordance with this ancient, yea, primordial designation. It was from just those beings [above described] beings like unto themselves, not unlike. And it took place in accordance with the Norm [according to what ought to be, justly] not unfittingly.
For, Vāseṭṭha, The norm’s the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 25 Now, Vāseṭṭha, those of these beings that remained over took to hunting. But those that live on hunting, and suchlike trifling pursuits, is what is meant by Sudda (the lowest grade of folk). Thus then, according to the ancient, yea, primordial expression, is the origin of this social group called Suddas. Their origin was from just those beings (above described), beings like unto themselves, not unlike; [and it took place] according to the Norm, [according to what ought to be] not unfittingly, namely, from those who were not different from other beings, but like them, not unlike them, by a norm and not through lack of a norm.
For, Vāseṭṭha, The norm’s the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 26 PTS vp En 92 Now there came a time, Vāseṭṭha, when some Khattiya, misprizing his own norm, went forth from home into the homeless life, saying: I will become a recluse. Some Brahmin too did the same, likewise some Vessa PTS vp Pali 3.96 and some Sudda, each finding some fault in his particular norm. Out of these four groups or circles, Vāseṭṭha, the company of the recluses came into being. Their origin was from just these beings like unto themselves, not different. And it took place according to a norm [a fitness, justly], not unfittingly.
For, Vāseṭṭha, The norm’s the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 27 Now a khattiya, Vāseṭṭha, who has led a bad life, in deed, word and thought, whose views of life are wrong, will, in consequence of his views and deeds, when the body breaks up, be reborn after death in the Waste, the Woeful Way, the Downfall, Purgatory. And a Brahmin too … a Vessa too … a Sudda too, who has led a bad life, in deed, word and thought, whose views of life are wrong, will, in consequence of his views and deeds, when the body breaks up, be reborn after death in the Waste, the Woeful Way, the Downfall, Purgatory.
PTS cs 28 Again, Vāseṭṭha, a Khattiya … or Brahmin … or Vessa … or Sudda, who has led a good life, in deed, word and thought, whose views of life are as they should be, will, in consequence of his views and deeds, when the body breaks up, be reborn after death in a happy, bright world.
PTS cs 29 Again, Vāseṭṭha, a Khattiya … a Brahmin, too PTS vp Pali 3.97 … a Vessa, too … a Sudda, too, who has lived a life both good and bad, in deed, word and thought, PTS vp En 93 whose views of life are mixed, will, in consequence of his mixed views and deeds, when the body breaks up, be reborn after death suffering both happiness and unhappiness.
PTS cs 30 Again, Vāseṭṭha, a Khattiya … a Brahmin, too … a Vessa, too … a Sudda, too, who is self-restrained in deed, word and thought, and has followed after the practice of the seven principles which are the Wings of Wisdom, attains to complete extinction [of evil] in this present life.
PTS cs 31 For, Vāseṭṭha) whosoever of these Four classes becomes, as a bhikkhu, an arahant, who has destroyed the intoxicants, who has done that which it behoved him to do, who has laid down the burden, who has won his own salvation, who has wholly destroyed the fetter of re-becoming, who through knowledge made perfect is free,—he is declared chief among them, in virtue of a norm, not in the absence of a norm. For, Vāseṭṭha, The norm’s the best among this folk both in this life and in the next.
PTS cs 32 Now this verse, Vāseṭṭha, was spoken by Brahmā, the Eternal Youth:
The Khattiya is the best among this folk
Who put their trust in lineage.
But one in wisdom and in virtue clothed,
Is best of all ‘mong spirits and men.
Now this stanza, Vāseṭṭha, was well sung and not ill sung by Brahmā the Eternal Youth, well said and not ill said, full of meaning and not void thereof. I too, Vāseṭṭha, say:
PTS vp Pali 3.98 The Khattiya is the best among this folk
Who put their trust in lineage.
But one in wisdom and in virtue clothed,
Is best of all ‘mong spirits and men.
Thus spake the Exalted One. Pleased at heart Vāseṭṭha and Bhāradvāja rejoiced in what the Exalted One had said.
Here ends the Aggañña-Suttanta.
Như vầy tôi nghe:
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), Pubbārāma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vāsaṭṭha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.
SC 2PTS cs 2 Vāsaṭṭha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vāsaṭṭha nói với Bharadvāja
SC 3—Này bạn Bharadvāja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bharadvāja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.
- Thưa vâng, Hiền giả!
SC 4Bharadvāja vâng theo lời Vāsaṭṭha. Rồi cả Vāsaṭṭha và Bharadvāja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.
SC 5PTS cs 3 Rồi Thế Tôn nói với Vāsaṭṭha
SC 6—Này Vāsaṭṭha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vāsaṭṭha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?
SC 7- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
SC 8- Này Vāsaṭṭha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?
SC 9- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện—giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân”. Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
SC 10PTS cs 4 - Này Vāsaṭṭha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên”. Này Vāsaṭṭha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng … là con cháu thừa tự của Phạm thiên”.
SC 11PTS cs 5 Này Vāsaṭṭha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vāsaṭṭha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vāsaṭṭha có người Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha có người Phệ xá … Này Vāsaṭṭha, có người Thủ đà la sát sanh … có tà kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện … là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.
SC 12PTS cs 6 Này Vāsaṭṭha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vāsaṭṭha, có người Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, có người Phệ xá … Này Vāsaṭṭha, có người Thủ đà la không sát sanh … không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.
SC 13PTS cs 7 Này Vāsaṭṭha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn giai cấp này, nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên.” Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vāsaṭṭha, vì rằng nếu có ai trong bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp. Này Vāsaṭṭha, Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 14PTS cs 8 Này Vāsaṭṭha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 15Này Vāsaṭṭha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: “Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép. Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: “Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?” Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép. Này Vāsaṭṭha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 16PTS cs 9 Này Vāsaṭṭha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: “Các vị là ai?”, các Ngươi cần trả lời: “Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử”. Này Vāsaṭṭha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói: “Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp.” Vì sao vậy? Này Vāsaṭṭha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.
SC 17PTS cs 10 Này Vāsaṭṭha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Ābhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vāsaṭṭha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.
SC 18PTS cs 11 Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vāsaṭṭha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.
SC 19PTS cs 12 Này Vāsaṭṭha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: “Kìa xem, vật này là gì vậy?”, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vāsaṭṭha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vāsaṭṭha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.
SC 20PTS cs 13 Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!”, như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!” Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 21PTS cs 14 Này Vāsaṭṭha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta”. Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.
SC 22PTS cs 15 Này Vāsaṭṭha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì những hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!”; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!” Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 23PTS cs 16 Này Vāsaṭṭha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm. Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: “Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?”; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 24PTS cs 17 Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ. Này Vāsaṭṭha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: “Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?” Này Vāsaṭṭha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói
SC 25—Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
SC 26- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.
SC 27Này Vāsaṭṭha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.
SC 28- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 29Này Vāsaṭṭha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói
SC 30—Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.
SC 31- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.
SC 32Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.
SC 33- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 34Này Vāsaṭṭha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói
SC 35—Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
SC 36- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!
SC 37Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.
SC 38- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 39Này Vāsaṭṭha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.
SC 40PTS cs 18 Này Vāsaṭṭha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền
SC 41—Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
SC 42Này Vāsaṭṭha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
SC 43PTS cs 19 Này Vāsaṭṭha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói
SC 44—Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
- Thưa Bạn, vâng!
SC 45Này Vāsaṭṭha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vāsaṭṭha, một lần thứ hai … Này Vāsaṭṭha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói
SC 46—Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy … Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
SC 47Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vāsaṭṭha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.
SC 48PTS cs 20 Này Vāsaṭṭha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc
SC 49—Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.
SC 50- Xin vâng, các Tôn giả!
SC 51Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.
SC 52PTS cs 21 Này Vāsaṭṭha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, “Vị chủ của ruộng vườn” tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên” Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp”, tức là Rāja (vị vua). Rāja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 53PTS cs 22 Này Vāsaṭṭha, một số các vị hữu tình suy nghĩ
SC 54—Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.
SC 55Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau
SC 56—Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.
SC 57Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vāsaṭṭha, họ “Jhāyanti”, tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jhàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.
SC 58PTS cs 23 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:
SC 59“Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.
SC 60Này Vāsaṭṭha, “Na dàn ime Jhāyanti” tức là ajjhāyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vāsaṭṭha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 61PTS cs 24 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vāsaṭṭha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vāsaṭṭha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 62PTS cs 25 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vāsaṭṭha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddà được khởi lên. Như vậy, này Vāsaṭṭha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 63PTS cs 26 Này Vāsaṭṭha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Này Vāsaṭṭha, giai cấp Samaṇa (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 64PTS cs 27 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Vessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 65PTS cs 28 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Sessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.
SC 66PTS cs 29 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Vessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.
SC 67PTS cs 30 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … vị Vessà … Này Vāsaṭṭha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.
SC 68PTS cs 31 Này Vāsaṭṭha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.
SC 69PTS cs 32 Này Vāsaṭṭha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanankumāra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:
SC 70Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
SC 71Này Vāsaṭṭha, bài kệ này được Phạm thiên Sanankumāra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vāsaṭṭha, Ta cũng nói như sau:
SC 72Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
SC 73Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vāsaṭṭha và Bharadvāja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena vāseṭṭhabhāradvājā bhikkhūsu parivasanti bhikkhubhāvaṁ ākaṅkhamānā.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamati.
Addasā kho vāseṭṭho bhagavantaṁ sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhitaṁ pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamantaṁ.
Disvāna bhāradvājaṁ āmantesi:
“ayaṁ, āvuso bhāradvāja, bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamati.
Āyāmāvuso bhāradvāja, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma;
appeva nāma labheyyāma bhagavato santikā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho bhāradvājo vāseṭṭhassa paccassosi.
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavantaṁ caṅkamantaṁ anucaṅkamiṁsu.
Atha kho bhagavā vāseṭṭhaṁ āmantesi:
“tumhe khvattha, vāseṭṭha, brāhmaṇajaccā brāhmaṇakulīnā brāhmaṇakulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, kacci vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā na akkosanti na paribhāsantī”ti?
“Taggha no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti.
“Yathā kathaṁ pana vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti?
“Brāhmaṇā, bhante, evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā.
Brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā.
Brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā.
Brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā.
Te tumhe seṭṭhaṁ vaṇṇaṁ hitvā hīnamattha vaṇṇaṁ ajjhupagatā, yadidaṁ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce.
Tayidaṁ na sādhu, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yaṁ tumhe seṭṭhaṁ vaṇṇaṁ hitvā hīnamattha vaṇṇaṁ ajjhupagatā yadidaṁ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce’ti.
Evaṁ kho no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti.
“Taggha vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā porāṇaṁ assarantā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Dissanti kho pana, vāseṭṭha, brāhmaṇānaṁ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi.
Te ca brāhmaṇā yonijāva samānā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Te brahmānañceva abbhācikkhanti, musā ca bhāsanti, bahuñca apuññaṁ pasavanti.
1. Catuvaṇṇasuddhi
Cattārome, vāseṭṭha, vaṇṇā—
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā sāvajjā sāvajjasaṅkhātā asevitabbā asevitabbasaṅkhātā naalamariyā naalamariyasaṅkhātā kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā, khattiyepi te idhekacce sandissanti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …pe…
suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā …pe…
kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā;
suddepi te idhekacce sandissanti.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu abyāpannacitto, sammādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā, khattiyepi te idhekacce sandissanti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …pe…
suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe…
anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhī.
Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā;
suddepi te idhekacce sandissanti.
Imesu kho, vāseṭṭha, catūsu vaṇṇesu evaṁ ubhayavokiṇṇesu vattamānesu kaṇhasukkesu dhammesu viññugarahitesu ceva viññuppasatthesu ca yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Taṁ tesaṁ viññū nānujānanti.
Taṁ kissa hetu?
Imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṁ vaṇṇānaṁ yo hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so nesaṁ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Tadamināpetaṁ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṁ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Jānāti kho, vāseṭṭha, rājā pasenadi kosalo:
‘samaṇo gotamo anantarā sakyakulā pabbajito’ti.
Sakyā kho pana, vāseṭṭha, rañño pasenadissa kosalassa anuyuttā bhavanti.
Karonti kho, vāseṭṭha, sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, yaṁ karonti sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ, karoti taṁ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ, na naṁ ‘sujāto samaṇo gotamo, dujjātohamasmi.
Balavā samaṇo gotamo, dubbalohamasmi.
Pāsādiko samaṇo gotamo, dubbaṇṇohamasmi.
Mahesakkho samaṇo gotamo, appesakkhohamasmī’ti.
Atha kho naṁ dhammaṁyeva sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ mānento dhammaṁ pūjento dhammaṁ apacāyamāno evaṁ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṁ karoti, abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ.
Imināpi kho etaṁ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṁ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Tumhe khvattha, vāseṭṭha, nānājaccā nānānāmā nānāgottā nānākulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā.
‘Ke tumhe’ti—puṭṭhā samānā ‘samaṇā sakyaputtiyāmhā’ti—paṭijānātha.
Yassa kho panassa, vāseṭṭha, tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṁhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, tassetaṁ kallaṁ vacanāya:
‘bhagavatomhi putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo’ti.
Taṁ kissa hetu?
Tathāgatassa hetaṁ, vāseṭṭha, adhivacanaṁ ‘dhammakāyo’ itipi, ‘brahmakāyo’ itipi, ‘dhammabhūto’ itipi, ‘brahmabhūto’ itipi.
Hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati.
Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti.
Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati.
Vivaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarakāyā cavitvā itthattaṁ āgacchanti.
Tedha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
2. Rasapathavipātubhāva
Ekodakībhūtaṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti andhakāro andhakāratimisā.
Na candimasūriyā paññāyanti, na nakkhattāni tārakarūpāni paññāyanti, na rattindivā paññāyanti, na māsaḍḍhamāsā paññāyanti, na utusaṁvaccharā paññāyanti, na itthipumā paññāyanti, sattā sattātveva saṅkhyaṁ gacchanti.
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṁ samatani;
seyyathāpi nāma payaso tattassa nibbāyamānassa upari santānakaṁ hoti;
evameva pāturahosi.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇā ahosi.
Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ;
evamassādā ahosi.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko:
‘ambho, kimevidaṁ bhavissatī’ti rasapathaviṁ aṅguliyā sāyi.
Tassa rasapathaviṁ aṅguliyā sāyato acchādesi, taṇhā cassa okkami.
Aññepi kho, vāseṭṭha, sattā tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamānā rasapathaviṁ aṅguliyā sāyiṁsu.
Tesaṁ rasapathaviṁ aṅguliyā sāyataṁ acchādesi, taṇhā ca tesaṁ okkami.
3. Candimasūriyādipātubhāva
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Atha tesaṁ sattānaṁ sayaṁpabhā antaradhāyi.
Sayaṁpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṁ.
Candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṁ.
Nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṁsu.
Rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṁsu.
Māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṁvaccharā paññāyiṁsu.
Ettāvatā kho, vāseṭṭha, ayaṁ loko puna vivaṭṭo hoti.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ rasapathaviṁ paribhuñjantānaṁ kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha.
Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā.
Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti:
‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti.
Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ rasapathavī antaradhāyi.
Rasāya pathaviyā antarahitāya sannipatiṁsu.
Sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘aho rasaṁ, aho rasan’ti.
Tadetarahipi manussā kañcideva surasaṁ labhitvā evamāhaṁsu:
‘aho rasaṁ, aho rasan’ti.
Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
4. Bhūmipappaṭakapātubhāva
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ rasāya pathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi.
Seyyathāpi nāma ahicchattako; evameva pāturahosi.
So ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇo ahosi.
Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādo ahosi.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Te taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha.
Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā.
Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti:
‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti.
Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ bhūmipappaṭako antaradhāyi.
5. Padālatāpātubhāva
Bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi, seyyathāpi nāma kalambukā; evameva pāturahosi.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇā ahosi.
Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādā ahosi.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Te taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha.
Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā.
Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti:
‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti.
Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ padālatā antaradhāyi.
Padālatāya antarahitāya sannipatiṁsu. Sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘ahu vata no, ahāyi vata no padālatā’ti.
Tadetarahipi manussā kenaci dukkhadhammena phuṭṭhā evamāhaṁsu:
‘ahu vata no, ahāyi vata no’ti.
Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
6. Akaṭṭhapākasālipātubhāva
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo.
Yaṁ taṁ sāyaṁ sāyamāsāya āharanti, pāto taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ.
Yaṁ taṁ pāto pātarāsāya āharanti, sāyaṁ taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ;
nāpadānaṁ paññāyati.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
7. Itthipurisaliṅgapātubhāva
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha, itthiyā ca itthiliṅgaṁ pāturahosi purisassa ca purisaliṅgaṁ.
Itthī ca purisaṁ ativelaṁ upanijjhāyati puriso ca itthiṁ.
Tesaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyataṁ sārāgo udapādi, pariḷāho kāyasmiṁ okkami.
Te pariḷāhapaccayā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu.
Ye kho pana te, vāseṭṭha, tena samayena sattā passanti methunaṁ dhammaṁ paṭisevante, aññe paṁsuṁ khipanti, aññe seṭṭhiṁ khipanti, aññe gomayaṁ khipanti:
‘nassa asuci, nassa asucī’ti.
‘Kathañhi nāma satto sattassa evarūpaṁ karissatī’ti.
Tadetarahipi manussā ekaccesu janapadesu vadhuyā nibbuyhamānāya aññe paṁsuṁ khipanti, aññe seṭṭhiṁ khipanti, aññe gomayaṁ khipanti.
Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
8. Methunadhammasamācāra
Adhammasammataṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi dhammasammataṁ.
Ye kho pana, vāseṭṭha, tena samayena sattā methunaṁ dhammaṁ paṭisevanti, te māsampi dvemāsampi na labhanti gāmaṁ vā nigamaṁ vā pavisituṁ.
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā tasmiṁ asaddhamme ativelaṁ pātabyataṁ āpajjiṁsu.
Atha agārāni upakkamiṁsu kātuṁ tasseva asaddhammassa paṭicchādanatthaṁ.
Atha kho, vāseṭṭha, aññatarassa sattassa alasajātikassa etadahosi:
‘ambho, kimevāhaṁ vihaññāmi sāliṁ āharanto sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya.
Yannūnāhaṁ sāliṁ āhareyyaṁ sakideva sāyapātarāsāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto sāliṁ āhāsi sakideva sāyapātarāsāya.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca:
‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva sāyapātarāsāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva dvīhāya. ‘Evampi kira, bho, sādhū’ti.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca:
‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva dvīhāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva catūhāya, ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca:
‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva catūhāyā’ti.
Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva aṭṭhāhāya, ‘evampi kira, bho, sādhū’ti.
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā sannidhikārakaṁ sāliṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ.
Atha kaṇopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṁ pariyonandhi;
lūnampi nappaṭivirūḷhaṁ, apadānaṁ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo aṭṭhaṁsu.
9. Sālivibhāga
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṁsu, sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā.
Mayañhi pubbe manomayā ahumhā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no amhākaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṁ samatani.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā.
Te mayaṁ rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamimha paribhuñjituṁ, tesaṁ no rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamataṁ paribhuñjituṁ sayaṁpabhā antaradhāyi.
Sayaṁpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṁ, candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṁ, nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṁsu, rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṁsu.
Māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṁvaccharā paññāyiṁsu.
Te mayaṁ rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā rasapathavī antaradhāyi.
Rasapathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi.
So ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno.
Te mayaṁ bhūmipappaṭakaṁ upakkamimha paribhuñjituṁ.
Te mayaṁ taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā bhūmipappaṭako antaradhāyi.
Bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi.
Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā.
Te mayaṁ padālataṁ upakkamimha paribhuñjituṁ.
Te mayaṁ taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā padālatā antaradhāyi.
Padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo.
Yaṁ taṁ sāyaṁ sāyamāsāya āharāma, pāto taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ.
Yaṁ taṁ pāto pātarāsāya āharāma, sāyaṁ taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ.
Nāpadānaṁ paññāyittha.
Te mayaṁ akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā.
Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā kaṇopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, lūnampi nappaṭivirūḷhaṁ, apadānaṁ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo ṭhitā.
Yannūna mayaṁ sāliṁ vibhajeyyāma, mariyādaṁ ṭhapeyyāmā’ti.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sāliṁ vibhajiṁsu, mariyādaṁ ṭhapesuṁ.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñji.
Tamenaṁ aggahesuṁ, gahetvā etadavocuṁ:
‘pāpakaṁ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñjasi.
Māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṁ sattānaṁ paccassosi.
Dutiyampi kho, vāseṭṭha, so satto …pe…
tatiyampi kho, vāseṭṭha, so satto sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñji.
Tamenaṁ aggahesuṁ, gahetvā etadavocuṁ:
‘pāpakaṁ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñjasi.
Māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti.
Aññe pāṇinā pahariṁsu, aññe leḍḍunā pahariṁsu, aññe daṇḍena pahariṁsu.
Tadagge kho, vāseṭṭha, adinnādānaṁ paññāyati, garahā paññāyati, musāvādo paññāyati, daṇḍādānaṁ paññāyati.
10. Mahāsammatarājā
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṁsu, sannipatitvā anutthuniṁsu:
‘pāpakā vata bho dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṁ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṁ paññāyissati.
Yannūna mayaṁ ekaṁ sattaṁ sammanneyyāma, yo no sammā khīyitabbaṁ khīyeyya, sammā garahitabbaṁ garaheyya, sammā pabbājetabbaṁ pabbājeyya.
Mayaṁ panassa sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadassāmā’ti.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā yo nesaṁ satto abhirūpataro ca dassanīyataro ca pāsādikataro ca mahesakkhataro ca taṁ sattaṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘ehi, bho satta, sammā khīyitabbaṁ khīya, sammā garahitabbaṁ garaha, sammā pabbājetabbaṁ pabbājehi.
Mayaṁ pana te sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadassāmā’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṁ sattānaṁ paṭissuṇitvā sammā khīyitabbaṁ khīyi, sammā garahitabbaṁ garahi, sammā pabbājetabbaṁ pabbājesi.
Te panassa sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadaṁsu.
Mahājanasammatoti kho, vāseṭṭha, ‘mahāsammato, mahāsammato’ tveva paṭhamaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Khettānaṁ adhipatīti kho, vāseṭṭha, ‘khattiyo, khattiyo’ tveva dutiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Dhammena pare rañjetīti kho, vāseṭṭha, ‘rājā, rājā’ tveva tatiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa khattiyamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ, anaññesaṁ. Sadisānaṁyeva, no asadisānaṁ. Dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
11. Brāhmaṇamaṇḍala
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁyeva ekaccānaṁ etadahosi:
‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṁ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṁ paññāyissati, pabbājanaṁ paññāyissati.
Yannūna mayaṁ pāpake akusale dhamme vāheyyāmā’ti.
Te pāpake akusale dhamme vāhesuṁ.
Pāpake akusale dhamme vāhentīti kho, vāseṭṭha, ‘brāhmaṇā, brāhmaṇā’ tveva paṭhamaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Te araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā.
Te ghāsaṁ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu:
‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti, vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā.
Te ghāsaṁ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyantī’ti,
jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘jhāyakā, jhāyakā’ tveva dutiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Tesaṁyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ekacce sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṁ jhānaṁ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṁ nigamasāmantaṁ osaritvā ganthe karontā acchanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu:
‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṁ jhānaṁ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṁ nigamasāmantaṁ osaritvā ganthe karontā acchanti, na dānime jhāyantī’ti.
Na dānime jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā, ajjhāyakā’ tveva tatiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Hīnasammataṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi seṭṭhasammataṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa brāhmaṇamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ, anaññesaṁ sadisānaṁyeva no asadisānaṁ dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
12. Vessamaṇḍala
Tesaṁyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ekacce sattā methunaṁ dhammaṁ samādāya visukammante payojesuṁ.
Methunaṁ dhammaṁ samādāya visukammante payojentīti kho, vāseṭṭha, ‘vessā, vessā’ tveva akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa vessamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaññeva sattānaṁ anaññesaṁ sadisānaṁyeva, no asadisānaṁ, dhammeneva no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
13. Suddamaṇḍala
Tesaññeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ye te sattā avasesā te luddācārā khuddācārā ahesuṁ.
Luddācārā khuddācārāti kho, vāseṭṭha, ‘suddā, suddā’ tveva akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa suddamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ anaññesaṁ, sadisānaṁyeva no asadisānaṁ, dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Ahu kho so, vāseṭṭha, samayo, yaṁ khattiyopi sakaṁ dhammaṁ garahamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati:
‘samaṇo bhavissāmī’ti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …pe…
suddopi kho, vāseṭṭha, sakaṁ dhammaṁ garahamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati:
‘samaṇo bhavissāmī’ti.
Imehi kho, vāseṭṭha, catūhi maṇḍalehi samaṇamaṇḍalassa abhinibbatti ahosi, tesaṁyeva sattānaṁ anaññesaṁ, sadisānaṁyeva no asadisānaṁ, dhammeneva no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
14. Duccaritādikathā
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṁ caritvā vācāya sucaritaṁ caritvā manasā sucaritaṁ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṁ caritvā vācāya sucaritaṁ caritvā manasā sucaritaṁ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṁvedī hoti.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṁvedī hoti.
15. Bodhipakkhiyabhāvanā
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto sattannaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati.
Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe…
vessopi kho, vāseṭṭha …
suddopi kho, vāseṭṭha …
samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto sattannaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati.
Imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṁ vaṇṇānaṁ yo hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so nesaṁ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena.
Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Brahmunā pesā, vāseṭṭha, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse’ti.
Sā kho panesā, vāseṭṭha, brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā, no duggītā. Subhāsitā, no dubbhāsitā. Atthasaṁhitā, no anatthasaṁhitā. Anumatā mayā.
Ahampi, vāseṭṭha, evaṁ vadāmi—
Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā vāseṭṭhabhāradvājā bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Aggaññasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.