Như vậy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn sống ở Rājagaha (Vương Xá thành), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivāpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng.
SC 2PTS cs 2 Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Vương Xá khất thực. Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng. Thấy vậy Ngài nói với Singàlaka, gia chủ tử
SC 3—Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông … hướng Thượng?
SC 4- Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: “Này con thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng”. Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông … hướng Thượng.
SC 5- Này Gia chủ tử, trong luật pháp của bậc Thánh, lễ bái sáu phương không phải như vậy.
SC 6- Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, thế nào là lễ bái sáu phương? Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, đảnh lễ sáu phương phải như thế nào? Lành thay! Thế Tôn hãy giảng pháp ấy cho con!
SC 7- Này Gia chủ tử, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 8- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 9Singàlaka, gia chủ tử vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 10PTS cs 3—Này Gia chủ tử, đối với vị Thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền não được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ mười bốn ác pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này đã thực hành để chiến thắng hai đời, vị này đã chiến thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung, vị này sanh ở thiện thú, Thiên giới.
SC 11Thế nào là bốn nghiệp phiền não đã được diệt trừ? Này Gia chủ tử, đó là nghiệp phiền não sát sanh, nghiệp phiền não trộm cắp, nghiệp phiền não tà dâm, nghiệp phiền não nói láo. Bốn nghiệp phiền não này đã được trừ diệt.
SC 12Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 13PTS cs 4 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 14Sát sanh và trộm cắp,
Nói láo, lấy vợ người,
Kẻ trí không tán thán,
Những hạnh nghiệp như vậy.
SC 15PTS cs 5 Thế nào là không làm ác nghiệp theo bốn lý do? Ác nghiệp làm do tham dục, ác nghiệp làm do sân hận, ác nghiệp làm do ngu si, ác nghiệp làm do sợ hãi. Này Gia chủ tử, vì vị Thánh đệ tử không tham dục, không sân hận, không ngu si, không sợ hãi, nên không làm ác nghiệp theo bốn lý do.
SC 16Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 17PTS cs 6 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 18Ai phản lại Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh bị sứt mẻ
Như mặt trăng đêm khuyết.
Ai không phản Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh được tròn đủ,
Như mặt trăng đêm đầy.
SC 19PTS cs 7 Thế nào là không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản? Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu là nguyên nhân phung phí tài sản. Du hành đường phố phi thời là nguyên nhân phung phí tài sản. La cà đình đám hí viện là nguyên nhân phung phí tài sản. Ðam mê cờ bạc là nguyên nhân phung phí tài sản. Giao du ác hữu là nguyên nhân phung phí tài sản. Quen thói lười biếng là nguyên nhân phung phí tài sản.
SC 20PTS cs 8 Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sáu nguy hiểm: Tài sản hiện tại bị tổn thất, đấu tranh tăng trưởng, bệnh tật dễ xâm nhập, thương tổn danh dự, để lộ âm tàng, và thứ sáu là trí lực tổn hại. Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sau nguy hiểm như vậy.
SC 21PTS cs 9 Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm: Tự mình không được che chở hộ trì, vợ con không được che chở hộ trì, tài sản không được che chở hộ trì, bị tình nghi là tác giả các ác sự, nạn nhân các tin đồn thất thiệt, tự rước vào thân nhiều khổ não. Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 22PTS cs 10 Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm: Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa, chỗ nào có ca, chỗ nào có nhạc, chỗ nào có tán tụng, chỗ nào có nhạc tay, chỗ nào có trống. Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 23PTS cs 11 Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm: Nếu thắng thì sanh oán thù, nếu thua thì tâm sanh sầu muộn, tài sản hiện tại bị tổn thất, tại hội trường (pháp đình) lời nói không hiệu lực, bằng hữu đồng liêu khinh miệt, vấn đề cưới gả không được tín nhiệm vì người đam mê cờ bạc không xứng để có vợ. Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 24PTS cs 12 Này Gia chủ tử, thân cận các ác hữu có sáu nguy hiểm: Những kẻ cờ bạc, loạn hành, nghiện rượu, những kẻ trá ngụy, lường gạt, bạo động là những người bạn, là những thân hữu của người ấy. Này Gia chủ tử, thân cận ác hữu có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 25PTS cs 13 Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm: “quá lạnh”, không làm việc; “quá nóng”, không làm việc; “quá trễ” không làm việc; “quá sớm”, không làm việc; “tôi đói quá”, không làm việc; “tôi quá no”, không làm việc. Trong khi những công việc phải làm lại không làm. Tài sản chưa có không xây dựng lên, tài sản có rồi bị tiêu thất. Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm như vậy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 26PTS cs 14 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 27Có bạn gọi bạn rượu,
Có bạn, bạn bằng mồm,
Bạn lúc thật hữu sự,
Mới xứng danh bạn bè.
Ngủ ngày, thông vợ người,
Ưa đấu tranh, làm hại,
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Ác hữu, ác bạn lữ,
Ác hạnh, hành ác xứ,
Ðời này cả đời sau,
Hai đời, người bị hại.
Cờ bạc và đàn bà,
Rượu chè, múa và hát
Ngủ ngày, đi phi thời
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Chơi xúc xắc, uống rượu
Theo đuổi đàn bà người,
Lẽ sống của người khác,
Thân cận kẻ hạ tiện,
Không thân cận bậc trí,
Người ấy tự héo mòn,
Như trăng trong mùa khuyết.
Rượu chè không tiền của,
Khao khát, tìm tửu điếm,
Bị chìm trong nợ nần,
Như chìm trong bồn nước,
Mau chóng tự hại mình,
Như kẻ mất gia đình.
Ai quen thói ngủ ngày,
Thức trọn suốt đêm trường,
Luôn luôn say sướt mướt,
Không thể sống gia đình.
Ở đây ai hay than:
Ôi quá lạnh, quá nóng,
Quá chiều, quá trễ giờ,
Sẽ bỏ bê công việc.
Lợi ích, điều tốt lành,
Bị trôi dạt một bên.
Ai xem lạnh và nóng,
Nhẹ nhàng hơn cỏ lau,
Làm mọi công chuyện mình,
Hạnh phúc không từ bỏ.
SC 28PTS cs 15 Này Gia chủ từ, có bốn hạng người phải xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người khéo nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 29PTS cs 16 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy, cho ít xin nhiều, vì sợ mà làm, làm vì mưu lợi cho mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 30PTS cs 17 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Tỏ lộ thân tình việc đã qua; tỏ lộ thân tình việc chưa đến; mua chuộc cảm tình bằng sáo ngữ; khi có công việc, tự tỏ sự bất lực của mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 31PTS cs 18 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Ðồng ý các việc ác; không đồng ý các việc thiện; trước mặt tán thán; sau lưng chỉ trích. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 32PTS cs 19 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Là bạn khi mình đam mê các loại rượu; là bạn khi mình du hành đường phố phi thời; là bạn khi mình la cà đình đám hý viện; là bạn khi mình đam mê cờ bạc. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 34PTS cs 20 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 35Người bạn gì cũng lấy,
Người bạn chỉ nói giỏi,
Người nói lời nịnh hót,
Người tiêu pha xa xỉ.
Cả bốn, không phải bạn,
Biết vậy, người trí tránh,
Như đường đầy sợ hãi.
SC 36PTS cs 21 Này Gia chủ tử, bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.
SC 37PTS cs 22 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.
SC 38PTS cs 23 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.
SC 39PTS cs 24 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.
SC 40PTS cs 25 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.
SC 41Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 42PTS cs 26 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 43Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột.
Người trí giữ giới luật,
Sáng như lửa đồi cao.
Người tích trữ tài sản,
Như cử chỉ con ong.
Tài sản được chồng chất,
Như ụ mối đùn cao,
Người cư xử như vậy,
Chất chứa các tài sản,
Vừa đủ để lợi ích
Cho chính gia đình mình.
Tài sản cần chia bốn
Ðể kết hợp bạn bè:
Một phần mình an hưởng,
Hai phần dành công việc,
Phần tư, phần để dành,
Phòng khó khăn hoạn nạn.
SC 44PTS cs 27 Này Gia chủ tử, vị Thánh đệ tử hộ trì sáu phương như thế nào? Này Gia chủ tử, sáu phương này cần được hiểu như sau: Phương Ðông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.
SC 45PTS cs 28 Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Ðông: “Ðược nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Này Gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Ðông, theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con.
SC 46Này Gia chủ tử, như vậy là cha mẹ được con phụng dưỡng như phương Ðông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng con theo năm cách. Như vậy phương Ðông được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 47PTS cs 29 Này Gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam: Ðứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Này Gia chủ tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách như vậy, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyến; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; dạy cho thuần thục các nghề nghiệp; khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.
SC 48Này Gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 49PTS cs 30 Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.
SC 50Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 51PTS cs 31 Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với bạn bè như phương Bắc: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt. Này Gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy, bạn bè có lòng thương kính vị thiện nam tử theo năm cách: Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng; bảo trì tài sản của vị thiện nam tử nếu vị này phóng túng; trở thành chỗ nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm; không tránh xa khi vị thiện nam tử gặp khó khăn; kính trọng gia đình của vị thiện nam tử.
SC 52Như vậy các bạn bè được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách và bạn bè có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Bắc được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 53PTS cs 32 Này Gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới: Giao việc đúng theo sức lực của họ; lo cho họ ăn uống và tiền lương; điều trị cho họ khi bệnh hoạn; chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ; thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép. Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách như kia, có lòng thương tưởng đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau: Dậy trước khi chủ dậy; đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật đã cho; khéo làm các công việc; đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ.
SC 54Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, có lòng thương tưởng đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 55PTS cs 33 Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên: Có lòng từ trong hành động về thân; có lòng từ trong hành động về khẩu; có lòng từ trong hành động về ý; mở rộng cửa để đón các vị ấy; cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết. Này Gia chủ tử, các vị Bà-la-môn, Sa-môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, có lòng thương tưởng vị thiện nam tử ấy theo năm cách sau đây: Ngăn họ không làm điều ác; khuyến khích họ làm điều thiện; thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe; làm cho thanh tịnh điều đã được nghe; chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời.
SC 56Này Gia chủ tử, các vị Sa-môn, Bà-la-môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, và các vị Sa-môn, Bà-la-môn có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 57Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 58PTS cs 34 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 59Cha mẹ là phương Ðông,
Sư trưởng là phương Nam,
Vợ chồng là phương Tây,
Bạn bè là phương Bắc,
Nô bộc là phương Dưới,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Có nghĩa là phương Trên.
Cư sĩ vì gia đình,
Ðảnh lễ phương hướng ấy.
Kẻ trí giữ Giới, Luật,
Từ tốn và biện tài,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Nhờ vậy được danh xưng.
Dậy sớm không biếng nhác,
Bất động giữa hiểm nguy,
Người hiền, không phạm giới,
Nhờ vậy được danh xưng.
Nhiếp chúng, tạo nên bạn,
Từ ái, tâm bao dung,
Dẫn đạo, khuyến hóa đạo,
Nhờ vậy được danh xưng.
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành bất cứ ai,
Ðồng sự trong mọi việc,
Theo trường hợp xử sự.
Chính những nhiếp sự này,
Khiến thế giới xoay quanh,
Như bánh xe quay lăn,
Vòng theo trục xe chính.
Nhiếp sự này vắng mặt,
Không có mẹ hưởng thọ,
Hay không cha hưởng thọ,
Sự hiếu kính của con.
Do vậy bậc có trí,
Ðối với nhiếp pháp này,
Như quán sát chấp trì,
Nhờ vậy thành vĩ đại,
Ðược tán thánh, danh xưng.
SC 60PTS cs 35 Khi được nghe vậy, Singàlaka, gia chủ tử bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena siṅgālako gahapatiputto kālasseva uṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassati—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā siṅgālakaṁ gahapatiputtaṁ kālasseva vuṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavatthaṁ allakesaṁ pañjalikaṁ puthudisā namassantaṁ—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disaṁ.
Disvā siṅgālakaṁ gahapatiputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho tvaṁ, gahapatiputta, kālasseva vuṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassasi—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disan”ti?
“Pitā maṁ, bhante, kālaṁ karonto evaṁ avaca:
‘disā, tāta, namasseyyāsī’ti.
So kho ahaṁ, bhante, pituvacanaṁ sakkaronto garuṁ karonto mānento pūjento kālasseva uṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassāmi—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disan”ti.
1. Cha disā
“Na kho, gahapatiputta, ariyassa vinaye evaṁ cha disā namassitabbā”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye cha disā namassitabbā?
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu, yathā ariyassa vinaye cha disā namassitabbā”ti.
“Tena hi, gahapatiputta, suṇohi sādhukaṁ manasikarohi bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho siṅgālako gahapatiputto bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Yato kho, gahapatiputta, ariyasāvakassa cattāro kammakilesā pahīnā honti, catūhi ca ṭhānehi pāpakammaṁ na karoti, cha ca bhogānaṁ apāyamukhāni na sevati, so evaṁ cuddasa pāpakāpagato chaddisāpaṭicchādī
ubholokavijayāya paṭipanno hoti. Tassa ayañceva loko āraddho hoti paro ca loko.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
2. Cattāro kammakilesā
Katamassa cattāro kammakilesā pahīnā honti?
Pāṇātipāto kho, gahapatiputta, kammakileso, adinnādānaṁ kammakileso, kāmesumicchācāro kammakileso, musāvādo kammakileso.
Imassa cattāro kammakilesā pahīnā hontī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Pāṇātipāto adinnādānaṁ,
Musāvādo ca vuccati;
Paradāragamanañceva,
Nappasaṁsanti paṇḍitā”ti.
3. Catuṭhānaṁ
“Katamehi catūhi ṭhānehi pāpakammaṁ na karoti?
Chandāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, dosāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, mohāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, bhayāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti.
Yato kho, gahapatiputta, ariyasāvako neva chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati;
imehi catūhi ṭhānehi pāpakammaṁ na karotī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Chandā dosā bhayā mohā,
yo dhammaṁ ativattati;
Nihīyati yaso tassa,
kāḷapakkheva candimā.
Chandā dosā bhayā mohā,
yo dhammaṁ nātivattati;
Āpūrati yaso tassa,
sukkapakkheva candimā”ti.
4. Cha apāyamukhāni
“Katamāni cha bhogānaṁ apāyamukhāni na sevati?
Surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyogo kho, gahapatiputta, bhogānaṁ apāyamukhaṁ, vikālavisikhācariyānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, samajjābhicaraṇaṁ bhogānaṁ apāyamukhaṁ, jūtappamādaṭṭhānānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, pāpamittānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, ālasyānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ.
5. Surāmerayassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge.
Sandiṭṭhikā dhanajāni, kalahappavaḍḍhanī, rogānaṁ āyatanaṁ, akittisañjananī, kopīnanidaṁsanī, paññāya dubbalikaraṇītveva chaṭṭhaṁ padaṁ bhavati.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge.
6. Vikālacariyāya cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā vikālavisikhācariyānuyoge.
Attāpissa agutto arakkhito hoti, puttadāropissa agutto arakkhito hoti, sāpateyyampissa aguttaṁ arakkhitaṁ hoti, saṅkiyo ca hoti pāpakesu ṭhānesu, abhūtavacanañca tasmiṁ rūhati, bahūnañca dukkhadhammānaṁ purakkhato hoti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā vikālavisikhācariyānuyoge.
7. Samajjābhicaraṇassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā samajjābhicaraṇe.
Kva naccaṁ, kva gītaṁ, kva vāditaṁ, kva akkhānaṁ, kva pāṇissaraṁ, kva kumbhathunanti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā samajjābhicaraṇe.
8. Jūtappamādassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā jūtappamādaṭṭhānānuyoge.
Jayaṁ veraṁ pasavati, jino vittamanusocati, sandiṭṭhikā dhanajāni, sabhāgatassa vacanaṁ na rūhati, mittāmaccānaṁ paribhūto hoti, āvāhavivāhakānaṁ apatthito hoti:
‘akkhadhutto ayaṁ purisapuggalo nālaṁ dārabharaṇāyā’ti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā jūtappamādaṭṭhānānuyoge.
9. Pāpamittatāya cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā pāpamittānuyoge.
Ye dhuttā, ye soṇḍā, ye pipāsā, ye nekatikā, ye vañcanikā, ye sāhasikā. Tyāssa mittā honti te sahāyā.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā pāpamittānuyoge.
10. Ālasyassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā ālasyānuyoge.
Atisītanti kammaṁ na karoti, atiuṇhanti kammaṁ na karoti, atisāyanti kammaṁ na karoti, atipātoti kammaṁ na karoti, atichātosmīti kammaṁ na karoti, atidhātosmīti kammaṁ na karoti.
Tassa evaṁ kiccāpadesabahulassa viharato anuppannā ceva bhogā nuppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṁ gacchanti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā ālasyānuyoge”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Hoti pānasakhā nāma,
hoti sammiyasammiyo;
Yo ca atthesu jātesu,
sahāyo hoti so sakhā.
Ussūraseyyā paradārasevanā,
Verappasavo ca anatthatā ca;
Pāpā ca mittā sukadariyatā ca,
Ete cha ṭhānā purisaṁ dhaṁsayanti.
Pāpamitto pāpasakho,
pāpaācāragocaro;
Asmā lokā paramhā ca,
ubhayā dhaṁsate naro.
Akkhitthiyo vāruṇī naccagītaṁ,
Divā soppaṁ pāricariyā akāle;
Pāpā ca mittā sukadariyatā ca,
Ete cha ṭhānā purisaṁ dhaṁsayanti.
Akkhehi dibbanti suraṁ pivanti,
Yantitthiyo pāṇasamā paresaṁ;
Nihīnasevī na ca vuddhasevī,
Nihīyate kāḷapakkheva cando.
Yo vāruṇī addhano akiñcano,
Pipāso pivaṁ papāgato;
Udakamiva iṇaṁ vigāhati,
Akulaṁ kāhiti khippamattano.
Na divā soppasīlena,
rattimuṭṭhānadessinā;
Niccaṁ mattena soṇḍena,
sakkā āvasituṁ gharaṁ.
Atisītaṁ atiuṇhaṁ,
atisāyamidaṁ ahu;
Iti vissaṭṭhakammante,
atthā accenti māṇave.
Yodha sītañca uṇhañca,
tiṇā bhiyyo na maññati;
Karaṁ purisakiccāni,
so sukhaṁ na vihāyatī”ti.
11. Mittapatirūpaka
“Cattārome, gahapatiputta, amittā mittapatirūpakā veditabbā.
Aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo, vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo, anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo, apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Aññadatthuharo hoti,
appena bahumicchati;
Bhayassa kiccaṁ karoti,
sevati atthakāraṇā.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Atītena paṭisantharati, anāgatena paṭisantharati, niratthakena saṅgaṇhāti, paccuppannesu kiccesu byasanaṁ dasseti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo.
Pāpakampissa anujānāti, kalyāṇampissa anujānāti, sammukhāssa vaṇṇaṁ bhāsati, parammukhāssa avaṇṇaṁ bhāsati.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge sahāyo hoti, vikālavisikhācariyānuyoge sahāyo hoti, samajjābhicaraṇe sahāyo hoti, jūtappamādaṭṭhānānuyoge sahāyo hoti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Aññadatthuharo mitto,
yo ca mitto vacīparo;
Anuppiyañca yo āha,
apāyesu ca yo sakhā.
Ete amitte cattāro,
iti viññāya paṇḍito;
Ārakā parivajjeyya,
maggaṁ paṭibhayaṁ yathā”ti.
12. Suhadamitta
“Cattārome, gahapatiputta, mittā suhadā veditabbā.
Upakāro mitto suhado veditabbo, samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo, atthakkhāyī mitto suhado veditabbo, anukampako mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi upakāro mitto suhado veditabbo.
Pamattaṁ rakkhati, pamattassa sāpateyyaṁ rakkhati, bhītassa saraṇaṁ hoti, uppannesu kiccakaraṇīyesu taddiguṇaṁ bhogaṁ anuppadeti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi upakāro mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo.
Guyhamassa ācikkhati, guyhamassa parigūhati, āpadāsu na vijahati, jīvitaṁpissa atthāya pariccattaṁ hoti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi atthakkhāyī mitto suhado veditabbo.
Pāpā nivāreti, kalyāṇe niveseti, assutaṁ sāveti, saggassa maggaṁ ācikkhati.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi atthakkhāyī mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi anukampako mitto suhado veditabbo.
Abhavenassa na nandati, bhavenassa nandati, avaṇṇaṁ bhaṇamānaṁ nivāreti, vaṇṇaṁ bhaṇamānaṁ pasaṁsati.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi anukampako mitto suhado veditabbo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Upakāro ca yo mitto,
sukhe dukkhe ca yo sakhā;
Atthakkhāyī ca yo mitto,
yo ca mittānukampako.
Etepi mitte cattāro,
iti viññāya paṇḍito;
Sakkaccaṁ payirupāseyya,
mātā puttaṁva orasaṁ;
Paṇḍito sīlasampanno,
jalaṁ aggīva bhāsati.
Bhoge saṁharamānassa,
bhamarasseva irīyato;
Bhogā sannicayaṁ yanti,
vammikovupacīyati.
Evaṁ bhoge samāhatvā,
alamatto kule gihī;
Catudhā vibhaje bhoge,
sa ve mittāni ganthati.
Ekena bhoge bhuñjeyya,
dvīhi kammaṁ payojaye;
Catutthañca nidhāpeyya,
āpadāsu bhavissatī”ti.
13. Chaddisāpaṭicchādanakaṇḍa
“Kathañca, gahapatiputta, ariyasāvako chaddisāpaṭicchādī hoti?
Cha imā, gahapatiputta, disā veditabbā.
Puratthimā disā mātāpitaro veditabbā, dakkhiṇā disā ācariyā veditabbā, pacchimā disā puttadārā veditabbā, uttarā disā mittāmaccā veditabbā, heṭṭhimā disā dāsakammakarā veditabbā, uparimā disā samaṇabrāhmaṇā veditabbā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhātabbā—
bhato ne bharissāmi, kiccaṁ nesaṁ karissāmi, kulavaṁsaṁ ṭhapessāmi, dāyajjaṁ paṭipajjāmi, atha vā pana petānaṁ kālaṅkatānaṁ dakkhiṇaṁ anuppadassāmīti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi puttaṁ anukampanti.
Pāpā nivārenti, kalyāṇe nivesenti, sippaṁ sikkhāpenti, patirūpena dārena saṁyojenti, samaye dāyajjaṁ niyyādenti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi puttaṁ anukampanti.
Evamassa esā puratthimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhātabbā—
uṭṭhānena upaṭṭhānena sussusāya pāricariyāya sakkaccaṁ sippapaṭiggahaṇena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi antevāsiṁ anukampanti—
suvinītaṁ vinenti, suggahitaṁ gāhāpenti, sabbasippassutaṁ samakkhāyino bhavanti, mittāmaccesu paṭiyādenti, disāsu parittāṇaṁ karonti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi antevāsiṁ anukampanti.
Evamassa esā dakkhiṇā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhātabbā—
sammānanāya anavamānanāya anaticariyāya issariyavossaggena alaṅkārānuppadānena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati—
susaṁvihitakammantā ca hoti, saṅgahitaparijanā ca, anaticārinī ca, sambhatañca anurakkhati, dakkhā ca hoti analasā sabbakiccesu.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati.
Evamassa esā pacchimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhātabbā—
dānena peyyavajjena atthacariyāya samānattatāya avisaṁvādanatāya.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti—
pamattaṁ rakkhanti, pamattassa sāpateyyaṁ rakkhanti, bhītassa saraṇaṁ honti, āpadāsu na vijahanti, aparapajā cassa paṭipūjenti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti.
Evamassa esā uttarā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhātabbā—
yathābalaṁ kammantasaṁvidhānena bhattavetanānuppadānena gilānupaṭṭhānena acchariyānaṁ rasānaṁ saṁvibhāgena samaye vossaggena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi ayyirakaṁ anukampanti—
pubbuṭṭhāyino ca honti, pacchā nipātino ca, dinnādāyino ca, sukatakammakarā ca, kittivaṇṇaharā ca.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi ayyirakaṁ anukampanti.
Evamassa esā heṭṭhimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhātabbā—
mettena kāyakammena mettena vacīkammena mettena manokammena anāvaṭadvāratāya āmisānuppadānena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhitā chahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti—
pāpā nivārenti, kalyāṇe nivesenti, kalyāṇena manasā anukampanti, assutaṁ sāventi, sutaṁ pariyodāpenti, saggassa maggaṁ ācikkhanti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhitā imehi chahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti.
Evamassa esā uparimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Mātāpitā disā pubbā,
ācariyā dakkhiṇā disā;
Puttadārā disā pacchā,
mittāmaccā ca uttarā.
Dāsakammakarā heṭṭhā,
uddhaṁ samaṇabrāhmaṇā;
Etā disā namasseyya,
alamatto kule gihī.
Paṇḍito sīlasampanno,
saṇho ca paṭibhānavā;
Nivātavutti atthaddho,
tādiso labhate yasaṁ.
Uṭṭhānako analaso,
āpadāsu na vedhati;
Acchinnavutti medhāvī,
tādiso labhate yasaṁ.
Saṅgāhako mittakaro,
vadaññū vītamaccharo;
Netā vinetā anunetā,
tādiso labhate yasaṁ.
Dānañca peyyavajjañca,
atthacariyā ca yā idha;
Samānattatā ca dhammesu,
tattha tattha yathārahaṁ;
Ete kho saṅgahā loke,
rathassāṇīva yāyato.
Ete ca saṅgahā nāssu,
na mātā puttakāraṇā;
Labhetha mānaṁ pūjaṁ vā,
pitā vā puttakāraṇā.
Yasmā ca saṅgahā ete,
sammapekkhanti paṇḍitā;
Tasmā mahattaṁ papponti,
pāsaṁsā ca bhavanti te”ti.
Evaṁ vutte, siṅgālako gahapatiputto bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu, ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Siṅgālasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
This is what I heard.
K-S-Y 1On one occasion, the Buddha was living near the town of Rājagaha at a spot in the Bamboo Grove called the Squirrel’s Feeding Place.
At that time a young householder named Sigālaka arose early and set out from Rājagaha with freshly washed clothes and hair. With palms together held up in reverence, he was paying respect towards the six directions: that is east, south, west, north, lower and upper.
K-S-Y 2Meanwhile the Buddha dressed himself in the early morning, took his bowl and robe and went in to Rājagaha on alms round. On the way, he saw Sigālaka worshipping the six directions. Seeing this, the Buddha said to him: “Young man, why have you risen in the early morning and set out from Rājagaha to worship in such a way?”
“Dear sir, my father on his deathbed urged me, ‘My son, you must worship the directions’. So, dear sir, realizing, honoring, respecting, and holding sacred my father’s request, I have risen in the early morning and set out from Rājagaha to worship in this way.”
“But, young man, that is not how the six directions should be worshipped according to the discipline of the noble ones.”
“Then how, dear sir, should the six directions be worshipped according to the discipline of the noble ones? I would appreciate it if you would teach me the proper way this should be done.”
“Very well, young man, listen and pay careful attention while I tell you.”
“Yes, dear sir,” agreed Sigālaka.
The Buddha said this:
K-S-Y 3“Young man, by abandoning the four impure actions, a noble disciple refrains from harmful deeds rooted in four causes and avoids the six ways of squandering wealth. So, these fourteen harmful things are removed. The noble disciple, now with the six directions protected, has entered upon a path for conquering both worlds, firmly grounded in this world and the next. At the dissolution of the body after death, a good rebirth occurs in a heavenly world.
“What four impure actions are abandoned? The harming of living beings is an impure action, taking what is not given is an impure action, sexual misconduct is an impure action, and false speech is an impure action. These four are abandoned.”
That is what the Buddha said.
K-S-Y 4Summing up in verse, the sublime teacher said:
“Harming living beings, taking what is not given,
False speech, and pursuing the loved one of another:
These the wise surely do not praise.”
K-S-Y 5“What are the four causes of harmful deeds? Going astray through desire, hatred, delusion, or fear, the noble disciple does harmful deeds. But, young man, not going astray through desire, hatred, delusion, or fear, the noble disciple does not perform harmful deeds.”
That is what the Buddha said.
K-S-Y 6Summing up in verse, the sublime teacher said:
“Desire, hatred, delusion, or fear:
Whoever transgresses the Dhamma by these,
Has a reputation that comes to ruin,
Like the moon in the waning fortnight.
“Desire, hatred, delusion, or fear:
Whoever transgresses not the Dhamma by these,
Has a reputation that comes to fullness,
Like the moon in the waxing fortnight.”
K-S-Y 7“And what six ways of squandering wealth are to be avoided? Young man, heedlessness caused by intoxication, roaming the streets at inappropriate times, habitual partying, compulsive gambling, bad companionship, and laziness are the six ways of squandering wealth.
K-S-Y 8“These are the six dangers inherent in heedlessness caused by intoxication: loss of immediate wealth, increased quarreling, susceptibility to illness, disrepute, indecent exposure, and weakened insight.
K-S-Y 9“These are the six dangers inherent in roaming the streets at inappropriate times: oneself, one’s family, and one’s property are all left unguarded and unprotected; one is suspected of crimes; then rumors spread; and one is subjected to many miseries.
K-S-Y 10“These are the six dangers inherent in habitual partying: You constantly seek, ‘Where’s the dancing? Where’s the singing? Where’s the music? Where are the stories? Where’s the applause? Where’s the drumming?’
K-S-Y 11“These are the six dangers inherent in compulsive gambling: winning breeds resentment; the loser mourns lost property; savings are lost; one’s word carries no weight in a public forum; friends and colleagues display their contempt; and one is not sought after for marriage, since a gambler cannot adequately support a family.
K-S-Y 12“These are the six dangers inherent in bad companionship: any rogue, drunkard, addict, cheat, swindler, or thug becomes a friend and colleague.
K-S-Y 13“These are the six dangers inherent in laziness: saying, ‘It’s too cold,’ one does not work; saying, ‘It’s too hot,’ one does not work; saying, ‘It’s too late,’ one does not work; saying, ‘It’s too early,’ one does not work; saying, ‘I’m too hungry,’ one does not work; saying, ‘I’m too full,’ one does not work. With an abundance of excuses for not working, new wealth does not accrue and existing wealth goes to waste.”
That is what the Buddha said.
K-S-Y 14Summing up in verse, the sublime teacher said:
“Some are drinking buddies,
Some say, ‘Dear friend! Dear friend!’
But whoever in hardship stands close by,
That one truly is a friend.
“Sleeping late, adultery,
Hostility, meaninglessness,
Harmful friends, utter stinginess:
These six things destroy a person.
“Bad friends, bad companions,
Bad practices—spending time in evil ways,
By these, one brings oneself to ruin,
In this world and the next.
“Seduction, gambling, drinking, singing, dancing,
Sleeping by day, wandering all around untimely,
Harmful friends, utter stinginess:
These things destroy a person.
“They play with dice; they drink spirits;
They consort with lovers dear to others.
Associating with low-life and not the esteemed,
They come to ruin like the waning moon.
“Whoever is a drunkard, broke, and destitute,
Dragged by thirst from bar to bar,
Sinking into debt like a stone in water
Into bewilderment quickly plunges.
“When sleeping late becomes a habit
And night is seen as time to rise,
For one perpetually intoxicated,
A home life cannot be maintained.
“‘Too cold! Too hot!
Too late!’: they say.
Having wasted work time this way,
The young miss out on opportunities.
“For one regarding cold and hot
As not more than blades of grass,
Doing whatever should be done,
Happiness will not be a stranger.”
K-S-Y 15“Young man, be aware of these four enemies disguised as friends: the taker, the talker, the flatterer, and the reckless companion.
K-S-Y 16“The taker can be identified by four things: by only taking, asking for a lot while giving little, performing duty out of fear, and offering service in order to gain something.
K-S-Y 17“The talker can be identified by four things: by reminding of past generosity, promising future generosity, mouthing empty words of kindness, and protesting personal misfortune when called on to help.
K-S-Y 18“The flatterer can be identified by four things: by supporting both bad and good behavior indiscriminately, praising you to your face, and putting you down behind your back.
K-S-Y 19“The reckless companion can be identified by four things: by accompanying you in drinking, roaming around at night, partying, and gambling.”
That is what the Buddha said.
K-S-Y 20Summing up in verse, the sublime teacher said:
“The friend who is all take,
The friend of empty words,
The friend full of flattery,
And the reckless friend;
“These four are not friends, but enemies;
The wise understand this
And keep them at a distance
As they would a dangerous path.”
K-S-Y 21“Young man, be aware of these four good-hearted friends: the helper, the friend who endures in good times and bad, the mentor, and the compassionate friend.
K-S-Y 22“The helper can be identified by four things: by protecting you when you are vulnerable, and likewise your wealth, being a refuge when you are afraid, and in various tasks providing double what is requested.
K-S-Y 23“The enduring friend can be identified by four things: by telling you secrets, guarding your own secrets closely, not abandoning you in misfortune, and even dying for you.
K-S-Y 24“The mentor can be identified by four things: by restraining you from wrongdoing, guiding you towards good actions, telling you what you ought to know, and showing you the path to heaven.
K-S-Y 25“The compassionate friend can be identified by four things: by not rejoicing in your misfortune, delighting in your good fortune, preventing others from speaking ill of you, and encouraging others who praise your good qualities.”
That is what the Buddha said.
K-S-Y 26Summing up in verse, the sublime teacher said:
“The friend who is a helper,
The friend through thick and thin,
The friend who gives good counsel,
And the compassionate friend;
“These four are friends indeed,
The wise understand this
And attend on them carefully,
Like a mother her own child.
“The wise endowed with virtue
Shine forth like a burning fire,
Gathering wealth as bees do honey
And heaping it up like an ant hill.
Once wealth is accumulated,
Family and household life may follow.
“By dividing wealth into four parts,
True friendships are bound;
One part should be enjoyed;
Two parts invested in business;
And the fourth set aside
Against future misfortunes.”
K-S-Y 27“And how, young man, does the noble disciple protect the six directions? These six directions should be known: mother and father as the east, teachers as the south, spouse and family as the west, friends and colleagues as the north, workers and servants as the lower direction, and ascetics and Brahmans as the upper direction.
K-S-Y 28“In five ways should a mother and father as the eastern direction be respected by a child: ‘I will support them who supported me; I will do my duty to them; I will maintain the family lineage and tradition; I will be worthy of my inheritance; and I will make donations on behalf of dead ancestors.’
“And, the mother and father so respected reciprocate with compassion in five ways: by restraining you from wrongdoing, guiding you towards good actions, training you in a profession, supporting the choice of a suitable spouse, and in due time, handing over the inheritance.
“In this way, the eastern direction is protected and made peaceful and secure.
K-S-Y 29“In five ways should teachers as the southern direction be respected by a student: by rising for them, regularly attending lessons, eagerly desiring to learn, duly serving them, and receiving instruction.
“And, teachers so respected reciprocate with compassion in five ways: by training in self-discipline, ensuring the teachings are well-grasped, instructing in every branch of knowledge, introducing their friends and colleagues, and providing safeguards in every direction.
“In this way, the southern direction is protected and made peaceful and secure.
K-S-Y 30“In five ways should a wife as the western direction be respected by a husband: by honoring, not disrespecting, being faithful, sharing authority, and by giving gifts.
“And, the wife so respected reciprocates with compassion in five ways: by being well-organized, being kindly disposed to the in-laws and household workers, being faithful, looking after the household goods, and being skillful and diligent in all duties.
In this way, the western direction is protected and made peaceful and secure.
K-S-Y 31“In five ways should friends and colleagues as the northern direction be respected: by generosity, kind words, acting for their welfare, impartiality, and honesty.
“And, friends and colleagues so respected reciprocate with compassion in five ways: by protecting you when you are vulnerable, and likewise your wealth, being a refuge when you are afraid, not abandoning you in misfortunes, and honoring all your descendants.
“In this way, the northern direction is protected and made peaceful and secure.
K-S-Y 32“In five ways should workers and servants as the lower direction be respected by an employer: by allocating work according to aptitude, providing wages and food, looking after the sick, sharing special treats, and giving reasonable time off work.
“And, workers and servants so respected reciprocate with compassion in five ways: being willing to start early and finish late when necessary, taking only what is given, doing work well, and promoting a good reputation.
“In this way, the lower direction is protected and made peaceful and secure.
K-S-Y 33“In five ways should ascetics and Brahmans as the upper direction be respected: by kindly actions, speech, and thoughts, having an open door, and providing material needs.
“And, ascetics and Brahmans so respected reciprocate with compassion in six ways: by restraining you from wrongdoing, guiding you to good actions, thinking compassionately, telling you what you ought to know, clarifying what you already know, and showing you the path to heaven.
“In this way, the upper direction is protected and made peaceful and secure.”
That is what the Buddha said.
K-S-Y 34Summing up in verse, the sublime teacher said:
“Mother and father as the east,
Teachers as the south,
Spouse and family as the west,
Friends and colleagues as the north,
Servants and workers below,
Brahmans and ascetics above;
These directions a person should honor
In order to be truly good.
“Wise and virtuous,
Gentle and eloquent,
Humble and accommodating;
Such a person attains glory.
“Energetic, not lazy,
Not shaken in misfortune,
Flawless in conduct, and intelligent;
Such a person attains glory.
“A compassionate maker of friends,
Approachable, free from stinginess,
A leader, a teacher, and diplomat;
Such a person attains glory.
“Generosity and kind words,
Conduct for others’ welfare,
Impartiality in all things;
These are suitable everywhere.
“These kind dispositions hold the world together,
Like the linchpin of a moving chariot.
And should these kind dispositions not exist,
Then the mother would not receive
Respect or honor from her child,
Neither would a father.
“Upon these things
The wise reflect;
They obtain greatness
And are sources of praise.”
K-S-Y 35When all was said, the young householder, Sigālaka, exclaimed to the Buddha:
“Wonderful, dear sir! Wonderful! It is as though you have set upright what was overturned, or uncovered what was concealed, or shown the path to one gone astray, or brought an oil-lamp into the darkness such that those with eyes could see. So too has the Buddha made clear the Dhamma by various ways. I go for refuge to the Buddha and to the Dhamma and to the monastic community. May the exalted one accept me as a lay-follower gone for refuge from henceforth for as long as I live.”
Như vậy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn sống ở Rājagaha (Vương Xá thành), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivāpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng.
SC 2PTS cs 2 Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Vương Xá khất thực. Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng. Thấy vậy Ngài nói với Singàlaka, gia chủ tử
SC 3—Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông … hướng Thượng?
SC 4- Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: “Này con thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng”. Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông … hướng Thượng.
SC 5- Này Gia chủ tử, trong luật pháp của bậc Thánh, lễ bái sáu phương không phải như vậy.
SC 6- Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, thế nào là lễ bái sáu phương? Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, đảnh lễ sáu phương phải như thế nào? Lành thay! Thế Tôn hãy giảng pháp ấy cho con!
SC 7- Này Gia chủ tử, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 8- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 9Singàlaka, gia chủ tử vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 10PTS cs 3—Này Gia chủ tử, đối với vị Thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền não được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ mười bốn ác pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này đã thực hành để chiến thắng hai đời, vị này đã chiến thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung, vị này sanh ở thiện thú, Thiên giới.
SC 11Thế nào là bốn nghiệp phiền não đã được diệt trừ? Này Gia chủ tử, đó là nghiệp phiền não sát sanh, nghiệp phiền não trộm cắp, nghiệp phiền não tà dâm, nghiệp phiền não nói láo. Bốn nghiệp phiền não này đã được trừ diệt.
SC 12Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 13PTS cs 4 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 14Sát sanh và trộm cắp,
Nói láo, lấy vợ người,
Kẻ trí không tán thán,
Những hạnh nghiệp như vậy.
SC 15PTS cs 5 Thế nào là không làm ác nghiệp theo bốn lý do? Ác nghiệp làm do tham dục, ác nghiệp làm do sân hận, ác nghiệp làm do ngu si, ác nghiệp làm do sợ hãi. Này Gia chủ tử, vì vị Thánh đệ tử không tham dục, không sân hận, không ngu si, không sợ hãi, nên không làm ác nghiệp theo bốn lý do.
SC 16Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 17PTS cs 6 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 18Ai phản lại Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh bị sứt mẻ
Như mặt trăng đêm khuyết.
Ai không phản Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh được tròn đủ,
Như mặt trăng đêm đầy.
SC 19PTS cs 7 Thế nào là không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản? Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu là nguyên nhân phung phí tài sản. Du hành đường phố phi thời là nguyên nhân phung phí tài sản. La cà đình đám hí viện là nguyên nhân phung phí tài sản. Ðam mê cờ bạc là nguyên nhân phung phí tài sản. Giao du ác hữu là nguyên nhân phung phí tài sản. Quen thói lười biếng là nguyên nhân phung phí tài sản.
SC 20PTS cs 8 Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sáu nguy hiểm: Tài sản hiện tại bị tổn thất, đấu tranh tăng trưởng, bệnh tật dễ xâm nhập, thương tổn danh dự, để lộ âm tàng, và thứ sáu là trí lực tổn hại. Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sau nguy hiểm như vậy.
SC 21PTS cs 9 Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm: Tự mình không được che chở hộ trì, vợ con không được che chở hộ trì, tài sản không được che chở hộ trì, bị tình nghi là tác giả các ác sự, nạn nhân các tin đồn thất thiệt, tự rước vào thân nhiều khổ não. Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 22PTS cs 10 Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm: Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa, chỗ nào có ca, chỗ nào có nhạc, chỗ nào có tán tụng, chỗ nào có nhạc tay, chỗ nào có trống. Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 23PTS cs 11 Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm: Nếu thắng thì sanh oán thù, nếu thua thì tâm sanh sầu muộn, tài sản hiện tại bị tổn thất, tại hội trường (pháp đình) lời nói không hiệu lực, bằng hữu đồng liêu khinh miệt, vấn đề cưới gả không được tín nhiệm vì người đam mê cờ bạc không xứng để có vợ. Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 24PTS cs 12 Này Gia chủ tử, thân cận các ác hữu có sáu nguy hiểm: Những kẻ cờ bạc, loạn hành, nghiện rượu, những kẻ trá ngụy, lường gạt, bạo động là những người bạn, là những thân hữu của người ấy. Này Gia chủ tử, thân cận ác hữu có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 25PTS cs 13 Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm: “quá lạnh”, không làm việc; “quá nóng”, không làm việc; “quá trễ” không làm việc; “quá sớm”, không làm việc; “tôi đói quá”, không làm việc; “tôi quá no”, không làm việc. Trong khi những công việc phải làm lại không làm. Tài sản chưa có không xây dựng lên, tài sản có rồi bị tiêu thất. Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm như vậy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 26PTS cs 14 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 27Có bạn gọi bạn rượu,
Có bạn, bạn bằng mồm,
Bạn lúc thật hữu sự,
Mới xứng danh bạn bè.
Ngủ ngày, thông vợ người,
Ưa đấu tranh, làm hại,
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Ác hữu, ác bạn lữ,
Ác hạnh, hành ác xứ,
Ðời này cả đời sau,
Hai đời, người bị hại.
Cờ bạc và đàn bà,
Rượu chè, múa và hát
Ngủ ngày, đi phi thời
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Chơi xúc xắc, uống rượu
Theo đuổi đàn bà người,
Lẽ sống của người khác,
Thân cận kẻ hạ tiện,
Không thân cận bậc trí,
Người ấy tự héo mòn,
Như trăng trong mùa khuyết.
Rượu chè không tiền của,
Khao khát, tìm tửu điếm,
Bị chìm trong nợ nần,
Như chìm trong bồn nước,
Mau chóng tự hại mình,
Như kẻ mất gia đình.
Ai quen thói ngủ ngày,
Thức trọn suốt đêm trường,
Luôn luôn say sướt mướt,
Không thể sống gia đình.
Ở đây ai hay than:
Ôi quá lạnh, quá nóng,
Quá chiều, quá trễ giờ,
Sẽ bỏ bê công việc.
Lợi ích, điều tốt lành,
Bị trôi dạt một bên.
Ai xem lạnh và nóng,
Nhẹ nhàng hơn cỏ lau,
Làm mọi công chuyện mình,
Hạnh phúc không từ bỏ.
SC 28PTS cs 15 Này Gia chủ từ, có bốn hạng người phải xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người khéo nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 29PTS cs 16 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy, cho ít xin nhiều, vì sợ mà làm, làm vì mưu lợi cho mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 30PTS cs 17 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Tỏ lộ thân tình việc đã qua; tỏ lộ thân tình việc chưa đến; mua chuộc cảm tình bằng sáo ngữ; khi có công việc, tự tỏ sự bất lực của mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 31PTS cs 18 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Ðồng ý các việc ác; không đồng ý các việc thiện; trước mặt tán thán; sau lưng chỉ trích. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 32PTS cs 19 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Là bạn khi mình đam mê các loại rượu; là bạn khi mình du hành đường phố phi thời; là bạn khi mình la cà đình đám hý viện; là bạn khi mình đam mê cờ bạc. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 34PTS cs 20 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 35Người bạn gì cũng lấy,
Người bạn chỉ nói giỏi,
Người nói lời nịnh hót,
Người tiêu pha xa xỉ.
Cả bốn, không phải bạn,
Biết vậy, người trí tránh,
Như đường đầy sợ hãi.
SC 36PTS cs 21 Này Gia chủ tử, bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.
SC 37PTS cs 22 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.
SC 38PTS cs 23 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.
SC 39PTS cs 24 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.
SC 40PTS cs 25 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.
SC 41Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 42PTS cs 26 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 43Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột.
Người trí giữ giới luật,
Sáng như lửa đồi cao.
Người tích trữ tài sản,
Như cử chỉ con ong.
Tài sản được chồng chất,
Như ụ mối đùn cao,
Người cư xử như vậy,
Chất chứa các tài sản,
Vừa đủ để lợi ích
Cho chính gia đình mình.
Tài sản cần chia bốn
Ðể kết hợp bạn bè:
Một phần mình an hưởng,
Hai phần dành công việc,
Phần tư, phần để dành,
Phòng khó khăn hoạn nạn.
SC 44PTS cs 27 Này Gia chủ tử, vị Thánh đệ tử hộ trì sáu phương như thế nào? Này Gia chủ tử, sáu phương này cần được hiểu như sau: Phương Ðông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.
SC 45PTS cs 28 Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Ðông: “Ðược nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Này Gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Ðông, theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con.
SC 46Này Gia chủ tử, như vậy là cha mẹ được con phụng dưỡng như phương Ðông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng con theo năm cách. Như vậy phương Ðông được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 47PTS cs 29 Này Gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam: Ðứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Này Gia chủ tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách như vậy, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyến; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; dạy cho thuần thục các nghề nghiệp; khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.
SC 48Này Gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 49PTS cs 30 Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.
SC 50Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 51PTS cs 31 Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với bạn bè như phương Bắc: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt. Này Gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy, bạn bè có lòng thương kính vị thiện nam tử theo năm cách: Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng; bảo trì tài sản của vị thiện nam tử nếu vị này phóng túng; trở thành chỗ nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm; không tránh xa khi vị thiện nam tử gặp khó khăn; kính trọng gia đình của vị thiện nam tử.
SC 52Như vậy các bạn bè được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách và bạn bè có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Bắc được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 53PTS cs 32 Này Gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới: Giao việc đúng theo sức lực của họ; lo cho họ ăn uống và tiền lương; điều trị cho họ khi bệnh hoạn; chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ; thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép. Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách như kia, có lòng thương tưởng đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau: Dậy trước khi chủ dậy; đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật đã cho; khéo làm các công việc; đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ.
SC 54Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, có lòng thương tưởng đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 55PTS cs 33 Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên: Có lòng từ trong hành động về thân; có lòng từ trong hành động về khẩu; có lòng từ trong hành động về ý; mở rộng cửa để đón các vị ấy; cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết. Này Gia chủ tử, các vị Bà-la-môn, Sa-môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, có lòng thương tưởng vị thiện nam tử ấy theo năm cách sau đây: Ngăn họ không làm điều ác; khuyến khích họ làm điều thiện; thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe; làm cho thanh tịnh điều đã được nghe; chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời.
SC 56Này Gia chủ tử, các vị Sa-môn, Bà-la-môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, và các vị Sa-môn, Bà-la-môn có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 57Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 58PTS cs 34 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 59Cha mẹ là phương Ðông,
Sư trưởng là phương Nam,
Vợ chồng là phương Tây,
Bạn bè là phương Bắc,
Nô bộc là phương Dưới,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Có nghĩa là phương Trên.
Cư sĩ vì gia đình,
Ðảnh lễ phương hướng ấy.
Kẻ trí giữ Giới, Luật,
Từ tốn và biện tài,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Nhờ vậy được danh xưng.
Dậy sớm không biếng nhác,
Bất động giữa hiểm nguy,
Người hiền, không phạm giới,
Nhờ vậy được danh xưng.
Nhiếp chúng, tạo nên bạn,
Từ ái, tâm bao dung,
Dẫn đạo, khuyến hóa đạo,
Nhờ vậy được danh xưng.
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành bất cứ ai,
Ðồng sự trong mọi việc,
Theo trường hợp xử sự.
Chính những nhiếp sự này,
Khiến thế giới xoay quanh,
Như bánh xe quay lăn,
Vòng theo trục xe chính.
Nhiếp sự này vắng mặt,
Không có mẹ hưởng thọ,
Hay không cha hưởng thọ,
Sự hiếu kính của con.
Do vậy bậc có trí,
Ðối với nhiếp pháp này,
Như quán sát chấp trì,
Nhờ vậy thành vĩ đại,
Ðược tán thánh, danh xưng.
SC 60PTS cs 35 Khi được nghe vậy, Singàlaka, gia chủ tử bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena siṅgālako gahapatiputto kālasseva uṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassati—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā siṅgālakaṁ gahapatiputtaṁ kālasseva vuṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavatthaṁ allakesaṁ pañjalikaṁ puthudisā namassantaṁ—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disaṁ.
Disvā siṅgālakaṁ gahapatiputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho tvaṁ, gahapatiputta, kālasseva vuṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassasi—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disan”ti?
“Pitā maṁ, bhante, kālaṁ karonto evaṁ avaca:
‘disā, tāta, namasseyyāsī’ti.
So kho ahaṁ, bhante, pituvacanaṁ sakkaronto garuṁ karonto mānento pūjento kālasseva uṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassāmi—
puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disan”ti.
1. Cha disā
“Na kho, gahapatiputta, ariyassa vinaye evaṁ cha disā namassitabbā”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye cha disā namassitabbā?
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu, yathā ariyassa vinaye cha disā namassitabbā”ti.
“Tena hi, gahapatiputta, suṇohi sādhukaṁ manasikarohi bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho siṅgālako gahapatiputto bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Yato kho, gahapatiputta, ariyasāvakassa cattāro kammakilesā pahīnā honti, catūhi ca ṭhānehi pāpakammaṁ na karoti, cha ca bhogānaṁ apāyamukhāni na sevati, so evaṁ cuddasa pāpakāpagato chaddisāpaṭicchādī
ubholokavijayāya paṭipanno hoti. Tassa ayañceva loko āraddho hoti paro ca loko.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
2. Cattāro kammakilesā
Katamassa cattāro kammakilesā pahīnā honti?
Pāṇātipāto kho, gahapatiputta, kammakileso, adinnādānaṁ kammakileso, kāmesumicchācāro kammakileso, musāvādo kammakileso.
Imassa cattāro kammakilesā pahīnā hontī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Pāṇātipāto adinnādānaṁ,
Musāvādo ca vuccati;
Paradāragamanañceva,
Nappasaṁsanti paṇḍitā”ti.
3. Catuṭhānaṁ
“Katamehi catūhi ṭhānehi pāpakammaṁ na karoti?
Chandāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, dosāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, mohāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, bhayāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti.
Yato kho, gahapatiputta, ariyasāvako neva chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati;
imehi catūhi ṭhānehi pāpakammaṁ na karotī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Chandā dosā bhayā mohā,
yo dhammaṁ ativattati;
Nihīyati yaso tassa,
kāḷapakkheva candimā.
Chandā dosā bhayā mohā,
yo dhammaṁ nātivattati;
Āpūrati yaso tassa,
sukkapakkheva candimā”ti.
4. Cha apāyamukhāni
“Katamāni cha bhogānaṁ apāyamukhāni na sevati?
Surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyogo kho, gahapatiputta, bhogānaṁ apāyamukhaṁ, vikālavisikhācariyānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, samajjābhicaraṇaṁ bhogānaṁ apāyamukhaṁ, jūtappamādaṭṭhānānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, pāpamittānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, ālasyānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ.
5. Surāmerayassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge.
Sandiṭṭhikā dhanajāni, kalahappavaḍḍhanī, rogānaṁ āyatanaṁ, akittisañjananī, kopīnanidaṁsanī, paññāya dubbalikaraṇītveva chaṭṭhaṁ padaṁ bhavati.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge.
6. Vikālacariyāya cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā vikālavisikhācariyānuyoge.
Attāpissa agutto arakkhito hoti, puttadāropissa agutto arakkhito hoti, sāpateyyampissa aguttaṁ arakkhitaṁ hoti, saṅkiyo ca hoti pāpakesu ṭhānesu, abhūtavacanañca tasmiṁ rūhati, bahūnañca dukkhadhammānaṁ purakkhato hoti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā vikālavisikhācariyānuyoge.
7. Samajjābhicaraṇassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā samajjābhicaraṇe.
Kva naccaṁ, kva gītaṁ, kva vāditaṁ, kva akkhānaṁ, kva pāṇissaraṁ, kva kumbhathunanti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā samajjābhicaraṇe.
8. Jūtappamādassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā jūtappamādaṭṭhānānuyoge.
Jayaṁ veraṁ pasavati, jino vittamanusocati, sandiṭṭhikā dhanajāni, sabhāgatassa vacanaṁ na rūhati, mittāmaccānaṁ paribhūto hoti, āvāhavivāhakānaṁ apatthito hoti:
‘akkhadhutto ayaṁ purisapuggalo nālaṁ dārabharaṇāyā’ti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā jūtappamādaṭṭhānānuyoge.
9. Pāpamittatāya cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā pāpamittānuyoge.
Ye dhuttā, ye soṇḍā, ye pipāsā, ye nekatikā, ye vañcanikā, ye sāhasikā. Tyāssa mittā honti te sahāyā.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā pāpamittānuyoge.
10. Ālasyassa cha ādīnavā
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā ālasyānuyoge.
Atisītanti kammaṁ na karoti, atiuṇhanti kammaṁ na karoti, atisāyanti kammaṁ na karoti, atipātoti kammaṁ na karoti, atichātosmīti kammaṁ na karoti, atidhātosmīti kammaṁ na karoti.
Tassa evaṁ kiccāpadesabahulassa viharato anuppannā ceva bhogā nuppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṁ gacchanti.
Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā ālasyānuyoge”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Hoti pānasakhā nāma,
hoti sammiyasammiyo;
Yo ca atthesu jātesu,
sahāyo hoti so sakhā.
Ussūraseyyā paradārasevanā,
Verappasavo ca anatthatā ca;
Pāpā ca mittā sukadariyatā ca,
Ete cha ṭhānā purisaṁ dhaṁsayanti.
Pāpamitto pāpasakho,
pāpaācāragocaro;
Asmā lokā paramhā ca,
ubhayā dhaṁsate naro.
Akkhitthiyo vāruṇī naccagītaṁ,
Divā soppaṁ pāricariyā akāle;
Pāpā ca mittā sukadariyatā ca,
Ete cha ṭhānā purisaṁ dhaṁsayanti.
Akkhehi dibbanti suraṁ pivanti,
Yantitthiyo pāṇasamā paresaṁ;
Nihīnasevī na ca vuddhasevī,
Nihīyate kāḷapakkheva cando.
Yo vāruṇī addhano akiñcano,
Pipāso pivaṁ papāgato;
Udakamiva iṇaṁ vigāhati,
Akulaṁ kāhiti khippamattano.
Na divā soppasīlena,
rattimuṭṭhānadessinā;
Niccaṁ mattena soṇḍena,
sakkā āvasituṁ gharaṁ.
Atisītaṁ atiuṇhaṁ,
atisāyamidaṁ ahu;
Iti vissaṭṭhakammante,
atthā accenti māṇave.
Yodha sītañca uṇhañca,
tiṇā bhiyyo na maññati;
Karaṁ purisakiccāni,
so sukhaṁ na vihāyatī”ti.
11. Mittapatirūpaka
“Cattārome, gahapatiputta, amittā mittapatirūpakā veditabbā.
Aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo, vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo, anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo, apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Aññadatthuharo hoti,
appena bahumicchati;
Bhayassa kiccaṁ karoti,
sevati atthakāraṇā.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Atītena paṭisantharati, anāgatena paṭisantharati, niratthakena saṅgaṇhāti, paccuppannesu kiccesu byasanaṁ dasseti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo.
Pāpakampissa anujānāti, kalyāṇampissa anujānāti, sammukhāssa vaṇṇaṁ bhāsati, parammukhāssa avaṇṇaṁ bhāsati.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo.
Surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge sahāyo hoti, vikālavisikhācariyānuyoge sahāyo hoti, samajjābhicaraṇe sahāyo hoti, jūtappamādaṭṭhānānuyoge sahāyo hoti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Aññadatthuharo mitto,
yo ca mitto vacīparo;
Anuppiyañca yo āha,
apāyesu ca yo sakhā.
Ete amitte cattāro,
iti viññāya paṇḍito;
Ārakā parivajjeyya,
maggaṁ paṭibhayaṁ yathā”ti.
12. Suhadamitta
“Cattārome, gahapatiputta, mittā suhadā veditabbā.
Upakāro mitto suhado veditabbo, samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo, atthakkhāyī mitto suhado veditabbo, anukampako mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi upakāro mitto suhado veditabbo.
Pamattaṁ rakkhati, pamattassa sāpateyyaṁ rakkhati, bhītassa saraṇaṁ hoti, uppannesu kiccakaraṇīyesu taddiguṇaṁ bhogaṁ anuppadeti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi upakāro mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo.
Guyhamassa ācikkhati, guyhamassa parigūhati, āpadāsu na vijahati, jīvitaṁpissa atthāya pariccattaṁ hoti.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi atthakkhāyī mitto suhado veditabbo.
Pāpā nivāreti, kalyāṇe niveseti, assutaṁ sāveti, saggassa maggaṁ ācikkhati.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi atthakkhāyī mitto suhado veditabbo.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi anukampako mitto suhado veditabbo.
Abhavenassa na nandati, bhavenassa nandati, avaṇṇaṁ bhaṇamānaṁ nivāreti, vaṇṇaṁ bhaṇamānaṁ pasaṁsati.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi anukampako mitto suhado veditabbo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Upakāro ca yo mitto,
sukhe dukkhe ca yo sakhā;
Atthakkhāyī ca yo mitto,
yo ca mittānukampako.
Etepi mitte cattāro,
iti viññāya paṇḍito;
Sakkaccaṁ payirupāseyya,
mātā puttaṁva orasaṁ;
Paṇḍito sīlasampanno,
jalaṁ aggīva bhāsati.
Bhoge saṁharamānassa,
bhamarasseva irīyato;
Bhogā sannicayaṁ yanti,
vammikovupacīyati.
Evaṁ bhoge samāhatvā,
alamatto kule gihī;
Catudhā vibhaje bhoge,
sa ve mittāni ganthati.
Ekena bhoge bhuñjeyya,
dvīhi kammaṁ payojaye;
Catutthañca nidhāpeyya,
āpadāsu bhavissatī”ti.
13. Chaddisāpaṭicchādanakaṇḍa
“Kathañca, gahapatiputta, ariyasāvako chaddisāpaṭicchādī hoti?
Cha imā, gahapatiputta, disā veditabbā.
Puratthimā disā mātāpitaro veditabbā, dakkhiṇā disā ācariyā veditabbā, pacchimā disā puttadārā veditabbā, uttarā disā mittāmaccā veditabbā, heṭṭhimā disā dāsakammakarā veditabbā, uparimā disā samaṇabrāhmaṇā veditabbā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhātabbā—
bhato ne bharissāmi, kiccaṁ nesaṁ karissāmi, kulavaṁsaṁ ṭhapessāmi, dāyajjaṁ paṭipajjāmi, atha vā pana petānaṁ kālaṅkatānaṁ dakkhiṇaṁ anuppadassāmīti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi puttaṁ anukampanti.
Pāpā nivārenti, kalyāṇe nivesenti, sippaṁ sikkhāpenti, patirūpena dārena saṁyojenti, samaye dāyajjaṁ niyyādenti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi puttaṁ anukampanti.
Evamassa esā puratthimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhātabbā—
uṭṭhānena upaṭṭhānena sussusāya pāricariyāya sakkaccaṁ sippapaṭiggahaṇena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi antevāsiṁ anukampanti—
suvinītaṁ vinenti, suggahitaṁ gāhāpenti, sabbasippassutaṁ samakkhāyino bhavanti, mittāmaccesu paṭiyādenti, disāsu parittāṇaṁ karonti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi antevāsiṁ anukampanti.
Evamassa esā dakkhiṇā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhātabbā—
sammānanāya anavamānanāya anaticariyāya issariyavossaggena alaṅkārānuppadānena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati—
susaṁvihitakammantā ca hoti, saṅgahitaparijanā ca, anaticārinī ca, sambhatañca anurakkhati, dakkhā ca hoti analasā sabbakiccesu.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati.
Evamassa esā pacchimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhātabbā—
dānena peyyavajjena atthacariyāya samānattatāya avisaṁvādanatāya.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti—
pamattaṁ rakkhanti, pamattassa sāpateyyaṁ rakkhanti, bhītassa saraṇaṁ honti, āpadāsu na vijahanti, aparapajā cassa paṭipūjenti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti.
Evamassa esā uttarā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhātabbā—
yathābalaṁ kammantasaṁvidhānena bhattavetanānuppadānena gilānupaṭṭhānena acchariyānaṁ rasānaṁ saṁvibhāgena samaye vossaggena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi ayyirakaṁ anukampanti—
pubbuṭṭhāyino ca honti, pacchā nipātino ca, dinnādāyino ca, sukatakammakarā ca, kittivaṇṇaharā ca.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi ayyirakaṁ anukampanti.
Evamassa esā heṭṭhimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhātabbā—
mettena kāyakammena mettena vacīkammena mettena manokammena anāvaṭadvāratāya āmisānuppadānena.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhitā chahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti—
pāpā nivārenti, kalyāṇe nivesenti, kalyāṇena manasā anukampanti, assutaṁ sāventi, sutaṁ pariyodāpenti, saggassa maggaṁ ācikkhanti.
Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhitā imehi chahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti.
Evamassa esā uparimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Mātāpitā disā pubbā,
ācariyā dakkhiṇā disā;
Puttadārā disā pacchā,
mittāmaccā ca uttarā.
Dāsakammakarā heṭṭhā,
uddhaṁ samaṇabrāhmaṇā;
Etā disā namasseyya,
alamatto kule gihī.
Paṇḍito sīlasampanno,
saṇho ca paṭibhānavā;
Nivātavutti atthaddho,
tādiso labhate yasaṁ.
Uṭṭhānako analaso,
āpadāsu na vedhati;
Acchinnavutti medhāvī,
tādiso labhate yasaṁ.
Saṅgāhako mittakaro,
vadaññū vītamaccharo;
Netā vinetā anunetā,
tādiso labhate yasaṁ.
Dānañca peyyavajjañca,
atthacariyā ca yā idha;
Samānattatā ca dhammesu,
tattha tattha yathārahaṁ;
Ete kho saṅgahā loke,
rathassāṇīva yāyato.
Ete ca saṅgahā nāssu,
na mātā puttakāraṇā;
Labhetha mānaṁ pūjaṁ vā,
pitā vā puttakāraṇā.
Yasmā ca saṅgahā ete,
sammapekkhanti paṇḍitā;
Tasmā mahattaṁ papponti,
pāsaṁsā ca bhavanti te”ti.
Evaṁ vutte, siṅgālako gahapatiputto bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu, ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Siṅgālasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.