Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Nāgasena, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Đại đức Nāgasena cũng đã tỏ bày vẻ thân thiện, chính vì thế đã làm hài lòng tâm ý của đức vua Milinda.
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Ngài đại đức được nhận biết bằng cách nào? Thưa ngài, ngài tên gì?” “Tâu đại vương, tôi được nhận biết là ‘Nāgasena.’ Tâu đại vương, các vị đồng Phạm hạnh gọi tôi là ‘Nāgasena.’ Hơn nữa, mẹ cha đặt tên là ‘Nāgasena,’ hoặc là ‘Sūrasena,’ hoặc là ‘Vīrasena,’ hoặc là ‘Sīhasena.’ Tâu đại vương, vả lại ‘Nāgasena’ cũng chỉ là từ phân biệt, là tên thừa nhận, là tên quy định, là tên gọi thông thường, bởi vì không người nào được tìm thấy ở đây.”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với như vầy: “Xin quý vị năm trăm người xứ Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe trẫm. Vị Nāgasena này đã nói như vầy: ‘Bởi vì không người nào được tìm thấy ở đây.’ Vậy có hợp lý để chấp nhận điều ấy không?”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, nếu không người nào được tìm thấy, vậy thì ai bố thí y phục vật thực chỗ trú ngụ và thuốc men chữa bệnh cho ngài? Ai thọ dụng vật ấy? Ai trì giới? Ai gắn bó với sự tu tập? Ai chứng ngộ Đạo, Quả, và Niết Bàn? Ai sát hại mạng sống? Ai lấy vật không được cho? Ai tà hạnh trong các dục? Ai nói dối? Ai uống chất lên men? Ai gây nên năm nghiệp vô gián? Như thế thì không có thiện, không có bất thiện, không có người làm hoặc người sai bảo làm đối với các nghiệp thiện và bất thiện. Không có sự thành tựu quả đối với các nghiệp đã được làm tốt hoặc đã được làm xấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu có người giết chết ngài, thì người ấy cũng không có tội giết hại mạng sống. Thưa ngài Nāgasena, ngài cũng không có thầy dạy học, không có thầy tế độ, không có sự tu lên bậc trên, điều ngài nói rằng: ‘Tâu đại vương, các vị đồng Phạm hạnh gọi tôi là Nāgasena,’ vậy ở đây cái gì là Nāgasena? Thưa ngài, có phải các sợi tóc là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các sợi lông là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các móng (tay chân … (như trên) … các răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu, bộ não ở đầu là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, có phải sắc là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải thọ là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải tưởng là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các hành là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, vậy thì sắc-thọ-tưởng-hành-thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, vậy thì trừ ra sắc-thọ-tưởng-hành-thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, trong khi lần lượt hỏi về điều ấy mà trẫm vẫn không thấy ra được Nāgasena. Thưa ngài, chẳng lẽ âm thanh lại là Nāgasena? Vậy thì ở đây người nào là Nāgasena? Thưa ngài, ngài nói không có Nāgasena là điều không thật là lời dối trá.”
Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, đại vương quả là có sự thanh lịch của dòng dõi Sát-đế-lỵ, có sự thanh lịch tột bực. Tâu đại vương, đối với bệ hạ đây trong lúc dẫm đạp lên các miểng chai, đá, cát sần sùi ở lớp cát nóng của mặt đất hừng hực và đi bộ vào lúc giữa trưa, hẳn nhiên các bàn chân đau nhức, thân mệt nhọc, tâm bị lui sụt, thân thức gắn liền với khổ sanh khởi. Vậy thì bệ hạ đi đến bằng chân, hay bằng xe cộ?”
“Thưa ngài, trẫm không đi đến bằng chân, trẫm đi đến bằng cỗ xe.”
“Tâu đại vương, nếu bệ hạ đi đến bằng cỗ xe, xin bệ hạ hãy chỉ cỗ xe cho tôi. Tâu đại vương, có phải cái gọng là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải cái trục là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải các bánh xe là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải thùng xe là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải thanh chống là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải cái ách là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải dây cương là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, vậy có phải gọng-trục-bánh xe-thùng xe-thanh chống-ách-dây cương-gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, vậy thì trừ ra gọng-trục-bánh xe-thùng xe-thanh chống-ách-dây cương-gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, trong khi lần lượt hỏi về điều ấy mà tôi vẫn không thấy ra được cỗ xe. Tâu đại vương, chẳng lẽ âm thanh lại là cỗ xe? Vậy thì ở đây cái gì là cỗ xe? Tâu đại vương, đại vương nói không có cỗ xe là điều không thật là lời dối trá. Tâu đại vương, đại vương là vị vua tối cao của toàn cõi xứ Jambudīpa, tại sao đại vương lại sợ hãi và nói lời dối trá? Xin quý vị năm trăm người xứ Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe tôi. Đức vua Milinda này đã nói như vầy: ‘Trẫm đi đến bằng cỗ xe.’ Trong khi được nói rằng: ‘Tâu đại vương, nếu bệ hạ đi đến bằng cỗ xe, xin bệ hạ hãy chỉ cỗ xe cho tôi’ thì không trình ra được cỗ xe. Vậy có hợp lý để chấp nhận điều ấy không?”
Khi được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka đã tán thưởng đại đức Nāgasena bằng tiếng “Lành thay!” rồi đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, lúc này trong khi đại vương có khả năng, xin đại vương hãy nói.”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, trẫm không nói lời dối trá. Do cái gọng, do cái trục, do các bánh xe, do thùng xe, do thanh chống mà có được từ phân biệt, tên thừa nhận, tên quy định, tên gọi thông thường là ‘cỗ xe’.”
“Tâu đại vương, thật tốt đẹp thay đại vương nhận ra được cỗ xe. Tâu đại vương, cũng tương tợ y như thế đối với tôi, do các sợi tóc, do các sợi lông … (như trên) … do bộ não, do sắc, do thọ, do tưởng, do các hành, do thức mà có được từ phân biệt, tên thừa nhận, tên quy định, tên thông thường là ‘Nāgasena’. Tuy nhiên, theo ý nghĩa rốt ráo thì không người nào được tìm thấy ở đây. Tâu đại vương, điều này cũng đã được tỳ khưu ni Vajirā nói lên trong sự hiện diện của đức Thế Tôn rằng:
Giống y như việc ráp chung lại các bộ phận thì có tiếng gọi là ‘cỗ xe,’ tương tợ như vậy khi các uẩn hiện diện thì có sự công nhận là ‘con người’.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Các sự ứng đối câu hỏi rất tuyệt vời đã được trình bày. Nếu đức Phật còn tại tiền thì Ngài cũng tán thưởng bằng tiếng ‘Lành thay!’ Này Nāgasena, thật tốt đẹp thay, thật tốt đẹp thay! Các sự ứng đối câu hỏi rất tuyệt vời đã được trình bày.”
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmatā nāgasenena saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho nāgaseno paṭisammodanīyeneva milindassa rañño cittaṁ ārādhesi.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“kathaṁ bhadanto ñāyati, kinnāmosi, bhante”ti?
“‘Nāgaseno’ti kho ahaṁ, mahārāja, ñāyāmi, ‘nāgaseno’ti kho maṁ, mahārāja, sabrahmacārī samudācaranti, api ca mātāpitaro nāmaṁ karonti ‘nāgaseno’ti vā ‘sūraseno’ti vā ‘vīraseno’ti vā ‘sīhaseno’ti vā, api ca kho, mahārāja, saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṁ yadidaṁ nāgasenoti, na hettha puggalo upalabbhatī”ti.
Atha kho milindo rājā evamāha—
“suṇantu me bhonto pañcasatā yonakā asītisahassā ca bhikkhū, ayaṁ nāgaseno evamāha—
‘na hettha puggalo upalabbhatī’ti, kallaṁ nu kho tadabhinanditun”ti.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“sace, bhante nāgasena, puggalo nūpalabbhati, ko carahi tumhākaṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ deti, ko taṁ paribhuñjati, ko sīlaṁ rakkhati, ko bhāvanamanuyuñjati, ko maggaphalanibbānāni sacchikaroti, ko pāṇaṁ hanati, ko adinnaṁ ādiyati, ko kāmesumicchācāraṁ carati, ko musā bhaṇati, ko majjaṁ pivati, ko pañcānantariyakammaṁ karoti, tasmā natthi kusalaṁ, natthi akusalaṁ, natthi kusalākusalānaṁ kammānaṁ kattā vā kāretā vā, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, sace, bhante nāgasena, yo tumhe māreti, natthi tassāpi pāṇātipāto, tumhākampi, bhante nāgasena, natthi ācariyo, natthi upajjhāyo, natthi upasampadā.
‘Nāgasenoti maṁ, mahārāja, sabrahmacārī samudācarantī’ti yaṁ vadesi, katamo ettha nāgaseno?
Kiṁ nu kho, bhante, kesā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Lomā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Nakhā …pe…
dantā …
taco …
maṁsaṁ …
nhāru …
aṭṭhi …
aṭṭhimiñjaṁ …
vakkaṁ …
hadayaṁ …
yakanaṁ …
kilomakaṁ …
pihakaṁ …
papphāsaṁ …
antaṁ …
antaguṇaṁ …
udariyaṁ …
karīsaṁ …
pittaṁ …
semhaṁ …
pubbo …
lohitaṁ …
sedo …
medo …
assu …
vasā …
kheḷo …
siṅghāṇikā …
lasikā …
muttaṁ …pe…
matthake matthaluṅgaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ nu kho, bhante, rūpaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Vedanā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Saññā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Saṅkhārā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Viññāṇaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, aññatra rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Tamahaṁ, bhante, pucchanto pucchanto na passāmi nāgasenaṁ.
Nāgasenasaddoyeva nu kho, bhante, nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Ko panettha nāgaseno, alikaṁ tvaṁ, bhante, bhāsasi musāvādaṁ, natthi nāgaseno”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno milindaṁ rājānaṁ etadavoca—
“tvaṁ khosi, mahārāja, khattiyasukhumālo accantasukhumālo, tassa te, mahārāja, majjhanhikasamayaṁ tattāya bhūmiyā uṇhāya vālikāya kharāya sakkharakathalikāya madditvā pādenāgacchantassa pādā rujjanti, kāyo kilamati, cittaṁ upahaññati, dukkhasahagataṁ kāyaviññāṇaṁ uppajjati, kiṁ nu kho tvaṁ pādenāgatosi, udāhu vāhanenā”ti?
“Nāhaṁ, bhante, pādenāgacchāmi, rathenāhaṁ āgatosmī”ti.
“Sace tvaṁ, mahārāja, rathenāgatosi, rathaṁ me ārocehi, kiṁ nu kho, mahārāja, īsā ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Akkho ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Cakkāni ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Rathapañjaraṁ ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Rathadaṇḍako ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Yugaṁ ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Rasmiyo ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Patodalaṭṭhi ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, īsāakkhacakkarathapañjararathadaṇḍayugarasmipatodā ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ pana, mahārāja, aññatra īsāakkhacakkarathapañjararathadaṇḍayugarasmipatodā ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tamahaṁ, mahārāja, pucchanto pucchanto na passāmi rathaṁ.
Rathasaddoyeva nu kho, mahārāja, ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ko panettha ratho, alikaṁ tvaṁ, mahārāja, bhāsasi musāvādaṁ, natthi ratho, tvaṁsi, mahārāja, sakalajambudīpe aggarājā, kassa pana tvaṁ bhāyitvā musāvādaṁ bhāsasi, suṇantu me bhonto pañcasatā yonakā asītisahassā ca bhikkhū, ayaṁ milindo rājā evamāha—
‘rathenāhaṁ āgatosmī’ti, sace tvaṁ, mahārāja, rathenāgatosi, ‘rathaṁ me ārocehī’ti vutto samāno rathaṁ na sampādeti, kallaṁ nu kho tadabhinanditun”ti.
Evaṁ vutte, pañcasatā yonakā āyasmato nāgasenassa sādhukāraṁ datvā milindaṁ rājānaṁ etadavocuṁ—
“idāni kho tvaṁ, mahārāja, sakkonto bhāsassū”ti.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“nāhaṁ, bhante nāgasena, musā bhaṇāmi, īsañca paṭicca akkhañca paṭicca cakkāni ca paṭicca rathapañjarañca paṭicca rathadaṇḍakañca paṭicca ‘ratho’ti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṁ pavattatī”ti.
“Sādhu kho tvaṁ, mahārāja, rathaṁ jānāsi;
evameva kho, mahārāja, mayhampi kese ca paṭicca lome ca paṭicca …pe… matthake matthaluṅgañca paṭicca rūpañca paṭicca vedanañca paṭicca saññañca paṭicca saṅkhāre ca paṭicca viññāṇañca paṭicca ‘nāgaseno’ti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṁ pavattati, paramatthato panettha puggalo nūpalabbhati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, vajirāya bhikkhuniyā bhagavato sammukhā—
‘Yathā hi aṅgasambhārā,
hoti saddo ratho iti;
Evaṁ khandhesu santesu,
hoti “satto”ti sammutī’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, aticitrāni pañhapaṭibhānāni visajjitāni, yadi buddho tiṭṭheyya sādhukāraṁ dadeyya, sādhu sādhu, nāgasena, aticitrāni pañhapaṭibhānāni visajjitānī”ti.
Paññattipañho paṭhamo.
PTS cs 1 PTS vp En 40 PTS vp Pali 25 Now Milinda the king went up to where the venerable Nāgasena was, and addressed him with the greetings and compliments of friendship and courtesy, and took his seat respectfully apart. And Nāgasena reciprocated his courtesy, so that the heart of the king was propitiated.
And Milinda began by asking, ‘How is your Reverence known, and what, Sir, is your name?’
‘I am known as Nāgasena, O king, and it is by that name that my brethren in the faith address me. But although parents, O king, give such a name as Nāgasena, or Sūrasena, or Vīrasena, or Sīhasena, yet this, Sire—Nāgasena and so on—is only a generally understood term, a designation in common use. For there is no permanent individuality (no soul) involved in the matter.’ PTS vp En 41 Then Milinda called upon the Yonakas and the brethren to witness: ‘This Nāgasena says there is no permanent individuality (no soul) implied in his name. Is it now even possible to approve him in that?’ And turning to Nāgasena, he said: ‘If, most reverend Nāgasena, there be no permanent individuality (no soul) involved in the matter, who is it, pray, who gives to you members of the Order your robes and food and lodging and necessaries for the sick? Who is it who enjoys such things when given? Who is it who lives a life of righteousness? Who is it who devotes himself to meditation? Who is it who attains to the goal of the Excellent Way, to the Nirvāṇa of Arahatship? And who is it who destroys living creatures? who is it who takes what is not his own? who is it who lives an evil life of worldly lusts, who speaks lies, who drinks strong drink, who (in a word) commits any one of the five sins which work out their bitter fruit even in this life ? If that be so there is neither merit nor demerit; there is neither doer nor causer of good or evil deeds ; there is neither fruit nor result of good or evil Karma. PTS vp Pali 26 —If, most reverend Nāgasena, we are to think that were a man PTS vp En 42 to kill you there would be no murder, then it follows that there are no real masters or teachers in your Order, and that your ordinations are void.—You tell me that your brethren in the Order are in the habit of addressing you as Nāgasena. Now what is that Nāgasena? Do you mean to say that the hair is Nāgasena?’
‘I don’t say that, great king.’
‘Or the hairs on the body, perhaps?’
‘Certainly not.’
‘Or is it the nails, the teeth, the skin, the flesh, the nerves, the bones, the marrow, the kidneys, the heart, the liver, the abdomen, the spleen, the lungs, the larger intestines, the lower intestines, the stomach, the faeces, the bile, the phlegm, the pus, the blood, the sweat, the fat, the tears, the serum, the saliva, the mucus, the oil that lubricates the joints, the urine, or the brain, or any or all of these, that is Nāgasena ?’
And to each of these he answered no.
‘Is it the outward form then (Rūpa) that is Nāgasena, or the sensations (Vedanā), or the ideas (Saññā), or the conditions (the constituent elements of character, Saṁkhārā), or the consciousness (Vigññāna), that is Nāgasena ?’
And to each of these also he answered no. PTS vp En 43
‘Then is it all these Skandhas combined that are Nāgasena?’
‘No! great king.’
‘But is there anything outside the five Skandhas that is Nāgasena?’
And still he answered no.
‘Then thus, ask as I may, I can discover no Nāgasena. Nāgasena is a mere empty sound. Who then is the Nāgasena that we see before us? It is a falsehood that your reverence has spoken, an untruth!’
And the venerable Nāgasena said to Milinda the king: ‘You, Sire, have been brought up in great luxury, as beseems your noble birth. If you were to walk this dry weather on the hot and sandy ground, trampling under foot the gritty, gravelly grains of the hard sand, your feet would hurt you. And as your body would be in pain, your mind would be disturbed, and you would experience a sense of bodily suffering. How then did you come, on foot, or in a chariot?’
‘I did not come, Sir, on foot PTS vp Pali 27 . I came in a carriage.’
‘Then if you came, Sire, in a carriage, explain to me what that is. Is it the pole that is the chariot?’
‘I did not say that.’
‘Is it the axle that is the chariot?’
‘Certainly not.’
‘Is it the wheels, or the framework, or the ropes, or the yoke, or the spokes of the wheels, or the goad, that are the chariot?’
And to all these he still answered no.
‘Then is it all these parts of it that are the chariot?’ PTS vp En 44
‘No, Sir.’
‘But is there anything outside them that is the chariot?’
And still he answered no.
‘Then thus, ask as I may, I can discover no chariot. Chariot is a mere empty sound. What then is the chariot you say you came in? It is a falsehood that your Majesty has spoken, an untruth! There is no such thing as a chariot! You are king over all India, a mighty monarch. Of whom then are you afraid that you speak untruth? And he called upon the Yonakas and the brethren to witness, saying: ‘Milinda the king here has said that he came by carriage. But when asked in that case to explain what the carriage was, he is unable to establish what he averred. Is it, forsooth, possible to approve him in that?’
When he had thus spoken the five hundred Yonakas shouted their applause, and said to the king: Now let your Majesty get out of that if you can?’
And Milinda the king replied to Nāgasena, and said: ‘I have spoken no untruth, reverend Sir. It is on account of its having all these things—the pole, and the axle, the wheels, and the framework, the ropes, the yoke, the spokes, and the goad—that it comes under the generally understood term, the designation in common use, of “chariot.”’
‘Very good! Your Majesty has rightly grasped the meaning of “chariot.” And just even so it is on account of all those things you questioned me about—PTS vp Pali 28 The thirty-two kinds of organic matter in a human body, and the five constituent elements of being—that I come under the generally understood term, the designation in common use, of “Nāgasena.” PTS vp En 45 For it was said, Sire, by our Sister Vajirā in the presence of the Blessed One:
“‘Just as it is by the condition precedent
Of the co-existence of its various parts
That the word ‘chariot’ is used,
Just so is it that when the Skandhas
Are there we talk of a ‘being.’”’
‘Most wonderful, Nāgasena, and most strange. Well has the puzzle put to you, most difficult though it was, been solved. Were the Buddha himself here he would approve your answer. Well done, well done, Nāgasena!’
Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Nāgasena, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Đại đức Nāgasena cũng đã tỏ bày vẻ thân thiện, chính vì thế đã làm hài lòng tâm ý của đức vua Milinda.
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Ngài đại đức được nhận biết bằng cách nào? Thưa ngài, ngài tên gì?” “Tâu đại vương, tôi được nhận biết là ‘Nāgasena.’ Tâu đại vương, các vị đồng Phạm hạnh gọi tôi là ‘Nāgasena.’ Hơn nữa, mẹ cha đặt tên là ‘Nāgasena,’ hoặc là ‘Sūrasena,’ hoặc là ‘Vīrasena,’ hoặc là ‘Sīhasena.’ Tâu đại vương, vả lại ‘Nāgasena’ cũng chỉ là từ phân biệt, là tên thừa nhận, là tên quy định, là tên gọi thông thường, bởi vì không người nào được tìm thấy ở đây.”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với như vầy: “Xin quý vị năm trăm người xứ Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe trẫm. Vị Nāgasena này đã nói như vầy: ‘Bởi vì không người nào được tìm thấy ở đây.’ Vậy có hợp lý để chấp nhận điều ấy không?”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, nếu không người nào được tìm thấy, vậy thì ai bố thí y phục vật thực chỗ trú ngụ và thuốc men chữa bệnh cho ngài? Ai thọ dụng vật ấy? Ai trì giới? Ai gắn bó với sự tu tập? Ai chứng ngộ Đạo, Quả, và Niết Bàn? Ai sát hại mạng sống? Ai lấy vật không được cho? Ai tà hạnh trong các dục? Ai nói dối? Ai uống chất lên men? Ai gây nên năm nghiệp vô gián? Như thế thì không có thiện, không có bất thiện, không có người làm hoặc người sai bảo làm đối với các nghiệp thiện và bất thiện. Không có sự thành tựu quả đối với các nghiệp đã được làm tốt hoặc đã được làm xấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu có người giết chết ngài, thì người ấy cũng không có tội giết hại mạng sống. Thưa ngài Nāgasena, ngài cũng không có thầy dạy học, không có thầy tế độ, không có sự tu lên bậc trên, điều ngài nói rằng: ‘Tâu đại vương, các vị đồng Phạm hạnh gọi tôi là Nāgasena,’ vậy ở đây cái gì là Nāgasena? Thưa ngài, có phải các sợi tóc là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các sợi lông là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các móng (tay chân … (như trên) … các răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu, bộ não ở đầu là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, có phải sắc là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải thọ là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải tưởng là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các hành là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, vậy thì sắc-thọ-tưởng-hành-thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, vậy thì trừ ra sắc-thọ-tưởng-hành-thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, trong khi lần lượt hỏi về điều ấy mà trẫm vẫn không thấy ra được Nāgasena. Thưa ngài, chẳng lẽ âm thanh lại là Nāgasena? Vậy thì ở đây người nào là Nāgasena? Thưa ngài, ngài nói không có Nāgasena là điều không thật là lời dối trá.”
Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, đại vương quả là có sự thanh lịch của dòng dõi Sát-đế-lỵ, có sự thanh lịch tột bực. Tâu đại vương, đối với bệ hạ đây trong lúc dẫm đạp lên các miểng chai, đá, cát sần sùi ở lớp cát nóng của mặt đất hừng hực và đi bộ vào lúc giữa trưa, hẳn nhiên các bàn chân đau nhức, thân mệt nhọc, tâm bị lui sụt, thân thức gắn liền với khổ sanh khởi. Vậy thì bệ hạ đi đến bằng chân, hay bằng xe cộ?”
“Thưa ngài, trẫm không đi đến bằng chân, trẫm đi đến bằng cỗ xe.”
“Tâu đại vương, nếu bệ hạ đi đến bằng cỗ xe, xin bệ hạ hãy chỉ cỗ xe cho tôi. Tâu đại vương, có phải cái gọng là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải cái trục là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải các bánh xe là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải thùng xe là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải thanh chống là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải cái ách là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải dây cương là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, vậy có phải gọng-trục-bánh xe-thùng xe-thanh chống-ách-dây cương-gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, vậy thì trừ ra gọng-trục-bánh xe-thùng xe-thanh chống-ách-dây cương-gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, trong khi lần lượt hỏi về điều ấy mà tôi vẫn không thấy ra được cỗ xe. Tâu đại vương, chẳng lẽ âm thanh lại là cỗ xe? Vậy thì ở đây cái gì là cỗ xe? Tâu đại vương, đại vương nói không có cỗ xe là điều không thật là lời dối trá. Tâu đại vương, đại vương là vị vua tối cao của toàn cõi xứ Jambudīpa, tại sao đại vương lại sợ hãi và nói lời dối trá? Xin quý vị năm trăm người xứ Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe tôi. Đức vua Milinda này đã nói như vầy: ‘Trẫm đi đến bằng cỗ xe.’ Trong khi được nói rằng: ‘Tâu đại vương, nếu bệ hạ đi đến bằng cỗ xe, xin bệ hạ hãy chỉ cỗ xe cho tôi’ thì không trình ra được cỗ xe. Vậy có hợp lý để chấp nhận điều ấy không?”
Khi được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka đã tán thưởng đại đức Nāgasena bằng tiếng “Lành thay!” rồi đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, lúc này trong khi đại vương có khả năng, xin đại vương hãy nói.”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, trẫm không nói lời dối trá. Do cái gọng, do cái trục, do các bánh xe, do thùng xe, do thanh chống mà có được từ phân biệt, tên thừa nhận, tên quy định, tên gọi thông thường là ‘cỗ xe’.”
“Tâu đại vương, thật tốt đẹp thay đại vương nhận ra được cỗ xe. Tâu đại vương, cũng tương tợ y như thế đối với tôi, do các sợi tóc, do các sợi lông … (như trên) … do bộ não, do sắc, do thọ, do tưởng, do các hành, do thức mà có được từ phân biệt, tên thừa nhận, tên quy định, tên thông thường là ‘Nāgasena’. Tuy nhiên, theo ý nghĩa rốt ráo thì không người nào được tìm thấy ở đây. Tâu đại vương, điều này cũng đã được tỳ khưu ni Vajirā nói lên trong sự hiện diện của đức Thế Tôn rằng:
Giống y như việc ráp chung lại các bộ phận thì có tiếng gọi là ‘cỗ xe,’ tương tợ như vậy khi các uẩn hiện diện thì có sự công nhận là ‘con người’.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Các sự ứng đối câu hỏi rất tuyệt vời đã được trình bày. Nếu đức Phật còn tại tiền thì Ngài cũng tán thưởng bằng tiếng ‘Lành thay!’ Này Nāgasena, thật tốt đẹp thay, thật tốt đẹp thay! Các sự ứng đối câu hỏi rất tuyệt vời đã được trình bày.”
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmatā nāgasenena saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho nāgaseno paṭisammodanīyeneva milindassa rañño cittaṁ ārādhesi.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“kathaṁ bhadanto ñāyati, kinnāmosi, bhante”ti?
“‘Nāgaseno’ti kho ahaṁ, mahārāja, ñāyāmi, ‘nāgaseno’ti kho maṁ, mahārāja, sabrahmacārī samudācaranti, api ca mātāpitaro nāmaṁ karonti ‘nāgaseno’ti vā ‘sūraseno’ti vā ‘vīraseno’ti vā ‘sīhaseno’ti vā, api ca kho, mahārāja, saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṁ yadidaṁ nāgasenoti, na hettha puggalo upalabbhatī”ti.
Atha kho milindo rājā evamāha—
“suṇantu me bhonto pañcasatā yonakā asītisahassā ca bhikkhū, ayaṁ nāgaseno evamāha—
‘na hettha puggalo upalabbhatī’ti, kallaṁ nu kho tadabhinanditun”ti.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“sace, bhante nāgasena, puggalo nūpalabbhati, ko carahi tumhākaṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ deti, ko taṁ paribhuñjati, ko sīlaṁ rakkhati, ko bhāvanamanuyuñjati, ko maggaphalanibbānāni sacchikaroti, ko pāṇaṁ hanati, ko adinnaṁ ādiyati, ko kāmesumicchācāraṁ carati, ko musā bhaṇati, ko majjaṁ pivati, ko pañcānantariyakammaṁ karoti, tasmā natthi kusalaṁ, natthi akusalaṁ, natthi kusalākusalānaṁ kammānaṁ kattā vā kāretā vā, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, sace, bhante nāgasena, yo tumhe māreti, natthi tassāpi pāṇātipāto, tumhākampi, bhante nāgasena, natthi ācariyo, natthi upajjhāyo, natthi upasampadā.
‘Nāgasenoti maṁ, mahārāja, sabrahmacārī samudācarantī’ti yaṁ vadesi, katamo ettha nāgaseno?
Kiṁ nu kho, bhante, kesā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Lomā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Nakhā …pe…
dantā …
taco …
maṁsaṁ …
nhāru …
aṭṭhi …
aṭṭhimiñjaṁ …
vakkaṁ …
hadayaṁ …
yakanaṁ …
kilomakaṁ …
pihakaṁ …
papphāsaṁ …
antaṁ …
antaguṇaṁ …
udariyaṁ …
karīsaṁ …
pittaṁ …
semhaṁ …
pubbo …
lohitaṁ …
sedo …
medo …
assu …
vasā …
kheḷo …
siṅghāṇikā …
lasikā …
muttaṁ …pe…
matthake matthaluṅgaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ nu kho, bhante, rūpaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Vedanā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Saññā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Saṅkhārā nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Viññāṇaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, aññatra rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṁ nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Tamahaṁ, bhante, pucchanto pucchanto na passāmi nāgasenaṁ.
Nāgasenasaddoyeva nu kho, bhante, nāgaseno”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Ko panettha nāgaseno, alikaṁ tvaṁ, bhante, bhāsasi musāvādaṁ, natthi nāgaseno”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno milindaṁ rājānaṁ etadavoca—
“tvaṁ khosi, mahārāja, khattiyasukhumālo accantasukhumālo, tassa te, mahārāja, majjhanhikasamayaṁ tattāya bhūmiyā uṇhāya vālikāya kharāya sakkharakathalikāya madditvā pādenāgacchantassa pādā rujjanti, kāyo kilamati, cittaṁ upahaññati, dukkhasahagataṁ kāyaviññāṇaṁ uppajjati, kiṁ nu kho tvaṁ pādenāgatosi, udāhu vāhanenā”ti?
“Nāhaṁ, bhante, pādenāgacchāmi, rathenāhaṁ āgatosmī”ti.
“Sace tvaṁ, mahārāja, rathenāgatosi, rathaṁ me ārocehi, kiṁ nu kho, mahārāja, īsā ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Akkho ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Cakkāni ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Rathapañjaraṁ ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Rathadaṇḍako ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Yugaṁ ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Rasmiyo ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Patodalaṭṭhi ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, īsāakkhacakkarathapañjararathadaṇḍayugarasmipatodā ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kiṁ pana, mahārāja, aññatra īsāakkhacakkarathapañjararathadaṇḍayugarasmipatodā ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tamahaṁ, mahārāja, pucchanto pucchanto na passāmi rathaṁ.
Rathasaddoyeva nu kho, mahārāja, ratho”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ko panettha ratho, alikaṁ tvaṁ, mahārāja, bhāsasi musāvādaṁ, natthi ratho, tvaṁsi, mahārāja, sakalajambudīpe aggarājā, kassa pana tvaṁ bhāyitvā musāvādaṁ bhāsasi, suṇantu me bhonto pañcasatā yonakā asītisahassā ca bhikkhū, ayaṁ milindo rājā evamāha—
‘rathenāhaṁ āgatosmī’ti, sace tvaṁ, mahārāja, rathenāgatosi, ‘rathaṁ me ārocehī’ti vutto samāno rathaṁ na sampādeti, kallaṁ nu kho tadabhinanditun”ti.
Evaṁ vutte, pañcasatā yonakā āyasmato nāgasenassa sādhukāraṁ datvā milindaṁ rājānaṁ etadavocuṁ—
“idāni kho tvaṁ, mahārāja, sakkonto bhāsassū”ti.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“nāhaṁ, bhante nāgasena, musā bhaṇāmi, īsañca paṭicca akkhañca paṭicca cakkāni ca paṭicca rathapañjarañca paṭicca rathadaṇḍakañca paṭicca ‘ratho’ti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṁ pavattatī”ti.
“Sādhu kho tvaṁ, mahārāja, rathaṁ jānāsi;
evameva kho, mahārāja, mayhampi kese ca paṭicca lome ca paṭicca …pe… matthake matthaluṅgañca paṭicca rūpañca paṭicca vedanañca paṭicca saññañca paṭicca saṅkhāre ca paṭicca viññāṇañca paṭicca ‘nāgaseno’ti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṁ pavattati, paramatthato panettha puggalo nūpalabbhati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, vajirāya bhikkhuniyā bhagavato sammukhā—
‘Yathā hi aṅgasambhārā,
hoti saddo ratho iti;
Evaṁ khandhesu santesu,
hoti “satto”ti sammutī’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, aticitrāni pañhapaṭibhānāni visajjitāni, yadi buddho tiṭṭheyya sādhukāraṁ dadeyya, sādhu sādhu, nāgasena, aticitrāni pañhapaṭibhānāni visajjitānī”ti.
Paññattipañho paṭhamo.