Khi ấy, đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Vị tỳ khưu này quả là sáng trí, có năng lực để trò chuyện với ta, và ta có nhiều sự việc cần phải hỏi. Cho đến khi các sự việc ấy còn chưa được hỏi xong thì mặt trời sẽ lặn, có lẽ ta nên trò chuyện vào ngày mai ở nội cung?”
Khi ấy, đức vua đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, như vậy thì khanh có thể thông báo cho ngài đại đức rằng: ‘Ngày mai sẽ có cuộc trò chuyện với đức vua ở nội cung.’” Nói xong điều này, đức vua Milinda đã rời chỗ ngồi đứng dậy, chào hỏi Nāgasena, leo lên ngựa, rồi ra đi trong khi còn đang lẩm nhẩm “Nāgasena, Nāgasena.”
Sau đó, Devamantiya đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài, đức vua Milinda đã nói như vầy: ‘Ngày mai sẽ có cuộc trò chuyện ở nội cung.’” “Thật tốt lắm.” Vị trưởng lão đã tán thành.
Sau đó, vào cuối đêm ấy Devamantiya, Anantakāya, Maṅkura, và Sabbadinna đã đi đến gặp đức vua Milinda, sau khi đến đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, có phải ngài đại đức Nāgasena sẽ đến?”
“Đúng vậy, hãy để ngài đến.”
“Hãy để ngài đến cùng với bao nhiêu vị tỳ khưu?”
“Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.”
Khi ấy, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, đức vua Milinda đã nói rằng: “Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, đức vua Milinda đã nói rằng: “Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.”
“Tất cả việc tôn vinh này đã được chuẩn bị nên Trẫm nói rằng: ‘Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.’ Này các khanh, Sabbadinna này lại nói khác đi. Chẳng lẽ chúng ta không có khả năng để dâng cơm đến các tỳ khưu?”
Khi được nói như vậy, Sabbadinna đã xấu hổ. Sau đó, Devamantiya, Anantakāya, và Maṅkura đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài, đức vua Milinda đã nói như vầy: ‘Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.’”
Sau đó, đại đức Nāgasena vào buổi sáng sớm đã mặc y cầm lấy bình bát và y rồi cùng với tám mươi ngàn vị tỳ khưu đã đi vào thành Sāgala. Lúc ấy, Anantakāya khi đang đi gần đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà tôi gọi là ‘Nāgasena,’ ở đây cái gì là Nāgasena?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Ngươi suy nghĩ xem ‘ở đây ai là Nāgasena?’”
“Thưa ngài, sự sống, tức là gió ở bên trong, đi vào rồi đi ra, tôi nghĩ rằng ‘cái ấy là Nāgasena’.”
“Vậy nếu gió ấy đi ra rồi không đi vào, hoặc đi vào rồi không đi ra, thì người ấy còn sống không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi tù và vỏ ốc, khi thổi tù và vỏ ốc thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi sáo, khi thổi sáo thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi tù và sừng trâu, khi thổi tù và sừng trâu thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Thế thì tại sao họ lại không chết đi?”
“Thưa ngài, tôi không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.”
“Cái ấy không phải là sự sống. Hơi thở vào hơi thở ra, những cái này gọi là thân hành.”
Vị trưởng lão đã thuyết giảng về Vi Diệu Pháp, rồi Anantakāya đã tuyên bố mình trở thành người cận sự nam.
Atha kho milindassa rañño etadahosi—
“paṇḍito kho ayaṁ bhikkhu paṭibalo mayā saddhiṁ sallapituṁ, bahukāni ca me ṭhānāni pucchitabbāni bhavissanti, yāva apucchitāniyeva tāni ṭhānāni bhavissanti, atha sūriyo atthaṁ gamissati, yannūnāhaṁ sve antepure sallapeyyan”ti.
Atha kho rājā devamantiyaṁ etadavoca—
“tena hi tvaṁ, devamantiya, bhadantassa āroceyyāsi ‘sve antepure raññā saddhiṁ sallāpo bhavissatī’”ti.
Idaṁ vatvā milindo rājā uṭṭhāyāsanā theraṁ nāgasenaṁ āpucchitvā rathaṁ abhirūhitvā “nāgaseno nāgaseno”ti sajjhāyaṁ karonto pakkāmi.
Atha kho devamantiyo āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“rājā, bhante, milindo evamāha—
‘sve antepure raññā saddhiṁ sallāpo bhavissatī’”ti.
“Suṭṭhū”ti thero abbhānumodi.
Atha kho tassā rattiyā accayena devamantiyo ca anantakāyo ca maṅkuro ca sabbadinno ca yena milindo rājā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā rājānaṁ milindaṁ etadavocuṁ—
“āgacchatu, mahārāja, bhadanto nāgaseno”ti?
“Āma āgacchatū”ti.
“Kittakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti?
“Yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti.
Atha kho sabbadinno āha—
“āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhin”ti.
Dutiyampi kho rājā āha—
“yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti.
Dutiyampi kho sabbadinno āha—
“āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhin”ti.
Tatiyampi kho rājā āha—
“yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti.
Tatiyampi kho sabbadinno āha—
“āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhin”ti.
“Sabbo panāyaṁ sakkāro paṭiyādito, ahaṁ bhaṇāmi ‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū’ti.
Ayaṁ bhaṇe sabbadinno aññathā bhaṇati, kiṁ nu mayaṁ nappaṭibalā bhikkhūnaṁ bhojanaṁ dātun”ti?
Evaṁ vutte, sabbadinno maṅku ahosi.
Atha kho devamantiyo ca anantakāyo ca maṅkuro ca yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavocuṁ—
“rājā, bhante, milindo evamāha—
‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū’”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya asītiyā bhikkhusahassehi saddhiṁ sāgalaṁ pāvisi.
Atha kho anantakāyo āyasmantaṁ nāgasenaṁ nissāya gacchanto āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘nāgaseno’ti, katamo ettha nāgaseno”ti?
Thero āha—
“ko panettha ‘nāgaseno’ti maññasī”ti?
“Yo so, bhante, abbhantare vāto jīvo pavisati ca nikkhamati ca, so ‘nāgaseno’ti maññāmī”ti.
“Yadi paneso vāto nikkhamitvā nappaviseyya, pavisitvā na nikkhameyya, jīveyya nu kho so puriso”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye panime saṅkhadhamakā saṅkhaṁ dhamenti, tesaṁ vāto puna pavisatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye panime vaṁsadhamakā vaṁsaṁ dhamenti, tesaṁ vāto puna pavisatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye panime siṅgadhamakā siṅgaṁ dhamenti, tesaṁ vāto puna pavisatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Atha kissa pana te na marantī”ti.
“Nāhaṁ paṭibalo tayā vādinā saddhiṁ sallapituṁ, sādhu, bhante, atthaṁ jappehī”ti.
“Neso jīvo, assāsapassāsā nāmete kāyasaṅkhārā”ti thero abhidhammakathaṁ kathesi.
Atha anantakāyo upāsakattaṁ paṭivedesīti.
Anantakāyapañho catuttho.
But Milinda the king thought: ‘This Bhikkhu is a great scholar. He is quite capable of discussing things with me. And I shall have a number of points on which to question him, and before I can ask them all, the sun will set. It would be better to carry on the discussion at home to-morrow.’ And he said to Devamantiya: ‘You may let his reverence know that the discussion with the king shall be resumed to-morrow at the palace.’ And so saying, he took leave of Nāgasena, and mounted his horse, and went away, muttering as he went, ‘Nāgasena, Nāgasena!’
And Devamantiya delivered his message to Nāgasena, who accepted the proposal with gladness. And early the next morning Devamantiya and Anantakāya and Mankura and Sabbadinna. went to the king, and said: ‘Is his reverence, Nāgasena, to come, PTS vp Pali 30 Sire, to-day?’
‘Yes, he is to come.’
‘With how many of the brethren is he to come?’
‘With as many as he likes.’
And Sabbadinna said: ‘Let him come with ten.’ But the king repeated what he had said.. And on Sabbadinna reiterating his suggestion, the ‘king rejoined: ‘All this preparation has been made, and I say: PTS vp En 48 “Let him come with as many as he likes,” yet Sabbadinna says: “Let him come with ten.” Does he suppose we are not capable of feeding so many?’
Then Sabbadinna was ashamed.
PTS cs 4 And Devamantiya and Anantakāya and Mankura went to Nāgasena and told him what the king had said. And the venerable Nāgasena robed himself in the forenoon, and taking his bowl in his hand, went to Sāgala with the whole company of the brethren. And Anantakāya, as he walked beside Nāgasena, said:
‘When, your reverence, I say, “Nāgasena,” what is that Nāgasena?’
The Elder replied: ‘What do you think Nāgasena is?’
‘The soul, the inner breath which comes and goes, that I suppose to be Nāgasena.’
‘But if that breath having gone forth should not return, or having returned should not go forth, would the man be alive?’
‘Certainly PTS vp Pali 31 not, Sir.’
‘But those trumpeters, when they blow their trumpets, does their breath return again to them?’
‘No, Sir, it does not.’
‘Or those pipers, when they blow their pipes or horns, does their breath return again to them?’
‘No, Sir.’
‘Then why don’t they die?’
‘I am not capable of arguing with such a reasoner. Pray tell me, Sir, how the matter stands.’
‘There is no soul in the breath. These inhalations and exhalations are merely constituent powers PTS vp En 49 of the bodily frame,’ said the Elder. And he talked to him from the Abhidhamma to such effect that Anantakāya confessed himself as a supporter of the Order.
Khi ấy, đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Vị tỳ khưu này quả là sáng trí, có năng lực để trò chuyện với ta, và ta có nhiều sự việc cần phải hỏi. Cho đến khi các sự việc ấy còn chưa được hỏi xong thì mặt trời sẽ lặn, có lẽ ta nên trò chuyện vào ngày mai ở nội cung?”
Khi ấy, đức vua đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, như vậy thì khanh có thể thông báo cho ngài đại đức rằng: ‘Ngày mai sẽ có cuộc trò chuyện với đức vua ở nội cung.’” Nói xong điều này, đức vua Milinda đã rời chỗ ngồi đứng dậy, chào hỏi Nāgasena, leo lên ngựa, rồi ra đi trong khi còn đang lẩm nhẩm “Nāgasena, Nāgasena.”
Sau đó, Devamantiya đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài, đức vua Milinda đã nói như vầy: ‘Ngày mai sẽ có cuộc trò chuyện ở nội cung.’” “Thật tốt lắm.” Vị trưởng lão đã tán thành.
Sau đó, vào cuối đêm ấy Devamantiya, Anantakāya, Maṅkura, và Sabbadinna đã đi đến gặp đức vua Milinda, sau khi đến đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, có phải ngài đại đức Nāgasena sẽ đến?”
“Đúng vậy, hãy để ngài đến.”
“Hãy để ngài đến cùng với bao nhiêu vị tỳ khưu?”
“Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.”
Khi ấy, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, đức vua Milinda đã nói rằng: “Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, đức vua Milinda đã nói rằng: “Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.”
“Tất cả việc tôn vinh này đã được chuẩn bị nên Trẫm nói rằng: ‘Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.’ Này các khanh, Sabbadinna này lại nói khác đi. Chẳng lẽ chúng ta không có khả năng để dâng cơm đến các tỳ khưu?”
Khi được nói như vậy, Sabbadinna đã xấu hổ. Sau đó, Devamantiya, Anantakāya, và Maṅkura đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài, đức vua Milinda đã nói như vầy: ‘Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.’”
Sau đó, đại đức Nāgasena vào buổi sáng sớm đã mặc y cầm lấy bình bát và y rồi cùng với tám mươi ngàn vị tỳ khưu đã đi vào thành Sāgala. Lúc ấy, Anantakāya khi đang đi gần đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà tôi gọi là ‘Nāgasena,’ ở đây cái gì là Nāgasena?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Ngươi suy nghĩ xem ‘ở đây ai là Nāgasena?’”
“Thưa ngài, sự sống, tức là gió ở bên trong, đi vào rồi đi ra, tôi nghĩ rằng ‘cái ấy là Nāgasena’.”
“Vậy nếu gió ấy đi ra rồi không đi vào, hoặc đi vào rồi không đi ra, thì người ấy còn sống không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi tù và vỏ ốc, khi thổi tù và vỏ ốc thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi sáo, khi thổi sáo thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi tù và sừng trâu, khi thổi tù và sừng trâu thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Thế thì tại sao họ lại không chết đi?”
“Thưa ngài, tôi không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.”
“Cái ấy không phải là sự sống. Hơi thở vào hơi thở ra, những cái này gọi là thân hành.”
Vị trưởng lão đã thuyết giảng về Vi Diệu Pháp, rồi Anantakāya đã tuyên bố mình trở thành người cận sự nam.
Atha kho milindassa rañño etadahosi—
“paṇḍito kho ayaṁ bhikkhu paṭibalo mayā saddhiṁ sallapituṁ, bahukāni ca me ṭhānāni pucchitabbāni bhavissanti, yāva apucchitāniyeva tāni ṭhānāni bhavissanti, atha sūriyo atthaṁ gamissati, yannūnāhaṁ sve antepure sallapeyyan”ti.
Atha kho rājā devamantiyaṁ etadavoca—
“tena hi tvaṁ, devamantiya, bhadantassa āroceyyāsi ‘sve antepure raññā saddhiṁ sallāpo bhavissatī’”ti.
Idaṁ vatvā milindo rājā uṭṭhāyāsanā theraṁ nāgasenaṁ āpucchitvā rathaṁ abhirūhitvā “nāgaseno nāgaseno”ti sajjhāyaṁ karonto pakkāmi.
Atha kho devamantiyo āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“rājā, bhante, milindo evamāha—
‘sve antepure raññā saddhiṁ sallāpo bhavissatī’”ti.
“Suṭṭhū”ti thero abbhānumodi.
Atha kho tassā rattiyā accayena devamantiyo ca anantakāyo ca maṅkuro ca sabbadinno ca yena milindo rājā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā rājānaṁ milindaṁ etadavocuṁ—
“āgacchatu, mahārāja, bhadanto nāgaseno”ti?
“Āma āgacchatū”ti.
“Kittakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti?
“Yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti.
Atha kho sabbadinno āha—
“āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhin”ti.
Dutiyampi kho rājā āha—
“yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti.
Dutiyampi kho sabbadinno āha—
“āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhin”ti.
Tatiyampi kho rājā āha—
“yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū”ti.
Tatiyampi kho sabbadinno āha—
“āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhin”ti.
“Sabbo panāyaṁ sakkāro paṭiyādito, ahaṁ bhaṇāmi ‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū’ti.
Ayaṁ bhaṇe sabbadinno aññathā bhaṇati, kiṁ nu mayaṁ nappaṭibalā bhikkhūnaṁ bhojanaṁ dātun”ti?
Evaṁ vutte, sabbadinno maṅku ahosi.
Atha kho devamantiyo ca anantakāyo ca maṅkuro ca yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavocuṁ—
“rājā, bhante, milindo evamāha—
‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṁ āgacchatū’”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya asītiyā bhikkhusahassehi saddhiṁ sāgalaṁ pāvisi.
Atha kho anantakāyo āyasmantaṁ nāgasenaṁ nissāya gacchanto āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘nāgaseno’ti, katamo ettha nāgaseno”ti?
Thero āha—
“ko panettha ‘nāgaseno’ti maññasī”ti?
“Yo so, bhante, abbhantare vāto jīvo pavisati ca nikkhamati ca, so ‘nāgaseno’ti maññāmī”ti.
“Yadi paneso vāto nikkhamitvā nappaviseyya, pavisitvā na nikkhameyya, jīveyya nu kho so puriso”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye panime saṅkhadhamakā saṅkhaṁ dhamenti, tesaṁ vāto puna pavisatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye panime vaṁsadhamakā vaṁsaṁ dhamenti, tesaṁ vāto puna pavisatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye panime siṅgadhamakā siṅgaṁ dhamenti, tesaṁ vāto puna pavisatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Atha kissa pana te na marantī”ti.
“Nāhaṁ paṭibalo tayā vādinā saddhiṁ sallapituṁ, sādhu, bhante, atthaṁ jappehī”ti.
“Neso jīvo, assāsapassāsā nāmete kāyasaṅkhārā”ti thero abhidhammakathaṁ kathesi.
Atha anantakāyo upāsakattaṁ paṭivedesīti.
Anantakāyapañho catuttho.