Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ngài sẽ trò chuyện với trẫm phải không?”
“Tâu đại vương, nếu đại vương trò chuyện theo lối nói của bậc trí thì tôi sẽ trò chuyện. Tuy nhiên, nếu đại vương trò chuyện theo lối nói của vị vua thì tôi sẽ không trò chuyện.”
“Thưa ngài Nāgasena, các bậc trí trò chuyện như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong cuộc trò chuyện của các bậc trí thì việc gây rối cũng được làm, việc tháo gỡ cũng được làm, việc phê bình cũng được làm, việc công kích cũng được làm, nói khác đi cũng được làm, nói trái ngược cũng được làm, và không vì thế mà các bậc trí bực bội. Tâu đại vương, các bậc trí trò chuyện là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế còn các vị vua trò chuyện như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong cuộc trò chuyện các vị vua thông báo một sự việc. Ai không ưng thuận sự việc ấy, các vị vua ra lệnh hình phạt người ấy: ‘Các khanh hãy ban hình phạt cho kẻ này.’ Tâu đại vương, các vị vua trò chuyện là như vậy.”
“Thưa ngài, trẫm sẽ trò chuyện theo lối nói của bậc trí, không theo lối nói của vị vua. Xin Ngài đại đức hãy yên tâm trò chuyện. Ngài trò chuyện với tỳ khưu, với sa-di, với nam cư sĩ, hoặc với người hộ tự như thế nào, xin ngài đại đức hãy yên tâm trò chuyện như thế, chớ lo sợ.”
“Tâu đại vương, thật tốt lắm.” Vị trưởng lão đã tán thành.
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trẫm sẽ hỏi?”
“Tâu đại vương, xin hãy hỏi.”
“Thưa ngài, ngài đã được trẫm hỏi rồi.”
“Tâu đại vương, đã được trả lời rồi.”
“Thưa ngài, vậy chớ điều gì đã được ngài trả lời?”
“Tâu đại vương, vậy chớ điều gì đã được đại vương hỏi?”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, sallapissasi mayā saddhin”ti?
“Sace tvaṁ, mahārāja, paṇḍitavādaṁ sallapissasi sallapissāmi, sace pana rājavādaṁ sallapissasi na sallapissāmī”ti.
“Kathaṁ, bhante nāgasena, paṇḍitā sallapantī”ti?
“Paṇḍitānaṁ kho, mahārāja, sallāpe āveṭhanampi kayirati, nibbeṭhanampi kayirati, niggahopi kayirati, paṭikammampi kayirati, vissāsopi kayirati, paṭivissāsopi kayirati, na ca tena paṇḍitā kuppanti, evaṁ kho, mahārāja, paṇḍitā sallapantī”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, rājāno sallapantī”ti?
“Rājāno kho, mahārāja, sallāpe ekaṁ vatthuṁ paṭijānanti, yo taṁ vatthuṁ vilometi, tassa daṇḍaṁ āṇāpenti ‘imassa daṇḍaṁ paṇethā’ti, evaṁ kho, mahārāja, rājāno sallapantī”ti.
“Paṇḍitavādāhaṁ, bhante, sallapissāmi, no rājavādaṁ, vissaṭṭho bhadanto sallapatu yathā bhikkhunā vā sāmaṇerena vā upāsakena vā ārāmikena vā saddhiṁ sallapati, evaṁ vissaṭṭho bhadanto sallapatu mā bhāyatū”ti.
“Suṭṭhu, mahārājā”ti thero abbhānumodi.
Rājā āha—
“bhante nāgasena, pucchissāmī”ti.
“Puccha, mahārājā”ti.
“Pucchitosi me, bhante”ti.
“Visajjitaṁ, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, tayā visajjitan”ti?
“Kiṁ pana, mahārāja, tayā pucchitan”ti.
Vīmaṁsanapañho tatiyo.
PTS cs 3 The king said: ‘Reverend Sir, will you discuss with me again?’
‘If your Majesty will discuss as a scholar (paṇḍit), well; but if you will discuss as a king, no.’
‘How is it then that scholars discuss?’
‘When scholars talk a matter over one with another then is there a winding up, an unravelling; one or other is convicted of error, and he then acknowledges his mistake; PTS vp Pali 29 distinctions are drawn, and contra-distinctions ; and yet thereby they are not angered. Thus do scholars, O king, discuss.’
‘And how do kings discuss?’
‘When a king, your Majesty, discusses a matter, and he advances a point, if any one differ from him on that point, he is apt to fine him, saying: “Inflict such and such a punishment upon that fellow!” Thus, your Majesty, do kings discuss.’
‘Very well. It is as a scholar, not as a king, that I will discuss. Let your reverence talk unrestrainedly, as you would with a brother, or a novice, or a lay disciple, or even with a servant. Be not afraid!’ PTS vp En 47
‘Very good, your Majesty,’ said Nāgasena, with thankfulness.
‘Nāgasena, I have a question to ask you;’ said the king.
‘Pray ask it, Sire.’
‘I have asked it, your Reverence.’
‘That is answered already.’
‘What have you answered?’
‘To what, then, does your Majesty refer?’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ngài sẽ trò chuyện với trẫm phải không?”
“Tâu đại vương, nếu đại vương trò chuyện theo lối nói của bậc trí thì tôi sẽ trò chuyện. Tuy nhiên, nếu đại vương trò chuyện theo lối nói của vị vua thì tôi sẽ không trò chuyện.”
“Thưa ngài Nāgasena, các bậc trí trò chuyện như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong cuộc trò chuyện của các bậc trí thì việc gây rối cũng được làm, việc tháo gỡ cũng được làm, việc phê bình cũng được làm, việc công kích cũng được làm, nói khác đi cũng được làm, nói trái ngược cũng được làm, và không vì thế mà các bậc trí bực bội. Tâu đại vương, các bậc trí trò chuyện là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế còn các vị vua trò chuyện như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong cuộc trò chuyện các vị vua thông báo một sự việc. Ai không ưng thuận sự việc ấy, các vị vua ra lệnh hình phạt người ấy: ‘Các khanh hãy ban hình phạt cho kẻ này.’ Tâu đại vương, các vị vua trò chuyện là như vậy.”
“Thưa ngài, trẫm sẽ trò chuyện theo lối nói của bậc trí, không theo lối nói của vị vua. Xin Ngài đại đức hãy yên tâm trò chuyện. Ngài trò chuyện với tỳ khưu, với sa-di, với nam cư sĩ, hoặc với người hộ tự như thế nào, xin ngài đại đức hãy yên tâm trò chuyện như thế, chớ lo sợ.”
“Tâu đại vương, thật tốt lắm.” Vị trưởng lão đã tán thành.
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trẫm sẽ hỏi?”
“Tâu đại vương, xin hãy hỏi.”
“Thưa ngài, ngài đã được trẫm hỏi rồi.”
“Tâu đại vương, đã được trả lời rồi.”
“Thưa ngài, vậy chớ điều gì đã được ngài trả lời?”
“Tâu đại vương, vậy chớ điều gì đã được đại vương hỏi?”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, sallapissasi mayā saddhin”ti?
“Sace tvaṁ, mahārāja, paṇḍitavādaṁ sallapissasi sallapissāmi, sace pana rājavādaṁ sallapissasi na sallapissāmī”ti.
“Kathaṁ, bhante nāgasena, paṇḍitā sallapantī”ti?
“Paṇḍitānaṁ kho, mahārāja, sallāpe āveṭhanampi kayirati, nibbeṭhanampi kayirati, niggahopi kayirati, paṭikammampi kayirati, vissāsopi kayirati, paṭivissāsopi kayirati, na ca tena paṇḍitā kuppanti, evaṁ kho, mahārāja, paṇḍitā sallapantī”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, rājāno sallapantī”ti?
“Rājāno kho, mahārāja, sallāpe ekaṁ vatthuṁ paṭijānanti, yo taṁ vatthuṁ vilometi, tassa daṇḍaṁ āṇāpenti ‘imassa daṇḍaṁ paṇethā’ti, evaṁ kho, mahārāja, rājāno sallapantī”ti.
“Paṇḍitavādāhaṁ, bhante, sallapissāmi, no rājavādaṁ, vissaṭṭho bhadanto sallapatu yathā bhikkhunā vā sāmaṇerena vā upāsakena vā ārāmikena vā saddhiṁ sallapati, evaṁ vissaṭṭho bhadanto sallapatu mā bhāyatū”ti.
“Suṭṭhu, mahārājā”ti thero abbhānumodi.
Rājā āha—
“bhante nāgasena, pucchissāmī”ti.
“Puccha, mahārājā”ti.
“Pucchitosi me, bhante”ti.
“Visajjitaṁ, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, tayā visajjitan”ti?
“Kiṁ pana, mahārāja, tayā pucchitan”ti.
Vīmaṁsanapañho tatiyo.