Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tín có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng, và có sự tiến vào là tướng trạng.”
“Thưa ngài, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, tín trong khi được sanh lên thì loại trừ các pháp che lấp, làm cho tâm thoát khỏi các pháp che lấp, không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục. Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đức chuyển luân vương di chuyển đường xa cùng với đạo quân gồm bốn binh chủng vượt qua vũng nước nhỏ; vũng nước nhỏ ấy bởi các con voi, bởi các con ngựa, bởi các cỗ xe, và bởi các bộ binh, bị khuấy động, bị vẩn đục, bị quậy lên, trở thành bùn lầy. Và khi đã vượt qua, đức chuyển luân vương ra lệnh cho mọi người rằng: ‘Này các khanh, hãy mang nước lại, trẫm sẽ uống nước.’ Và đức vua có viên ngọc ma-ni lọc nước. ‘Tâu bệ hạ, xin tuân lệnh.’ Những người ấy vâng lệnh đức chuyển luân vương và thả viên ngọc ma-ni lọc nước ấy vào trong nước. Ngay khi viên ngọc ấy được thả vào trong nước thì số lượng rong rêu biến mất, và bùn lắng xuống, nước trở nên không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục, sau đó họ đã dâng nước uống đến đức chuyển luân vương: ‘Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy uống nước.’
Tâu đại vương, nước là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy. Những người ấy là như thế nào thì hành giả nên được xem xét như vậy. Số lượng rong rêu và bùn là như thế nào thì các phiền não nên được xem xét như vậy. Viên ngọc ma-ni lọc nước là như thế nào thì tín nên được xem xét như vậy. Giống như khi viên ngọc ma-ni lọc nước được thả vào trong nước thì số lượng rong rêu biến mất, và bùn lắng xuống, nước trở nên không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục, tâu đại vương tương tợ y như thế, tín trong khi được sanh lên thì loại trừ các pháp che lấp, làm cho tâm thoát khỏi các pháp che lấp, không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục. Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇā saddhā”ti?
“Sampasādanalakkhaṇā ca, mahārāja, saddhā, sampakkhandanalakkhaṇā cā”ti.
“Kathaṁ, bhante, sampasādanalakkhaṇā saddhā”ti?
“Saddhā kho, mahārāja, uppajjamānā nīvaraṇe vikkhambheti, vinīvaraṇaṁ cittaṁ hoti acchaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ.
Evaṁ kho, mahārāja, sampasādanalakkhaṇā saddhā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, rājā cakkavattī caturaṅginiyā senāya saddhiṁ addhānamaggappaṭipanno parittaṁ udakaṁ tareyya, taṁ udakaṁ hatthīhi ca assehi ca rathehi ca pattīhi ca khubhitaṁ bhaveyya āvilaṁ luḷitaṁ kalalībhūtaṁ.
Uttiṇṇo ca rājā cakkavattī manusse āṇāpeyya ‘pānīyaṁ, bhaṇe, āharatha, pivissāmī’ti, rañño ca udakappasādako maṇi bhaveyya.
‘Evaṁ, devā’ti kho te manussā rañño cakkavattissa paṭissutvā taṁ udakappasādakaṁ maṇiṁ udake pakkhipeyyuṁ, tasmiṁ udake pakkhittamatte saṅkhasevālapaṇakaṁ vigaccheyya, kaddamo ca sannisīdeyya, acchaṁ bhaveyya udakaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ.
Tato rañño cakkavattissa pānīyaṁ upanāmeyyuṁ ‘pivatu, deva, pānīyan’ti.
Yathā, mahārāja, udakaṁ, evaṁ cittaṁ daṭṭhabbaṁ, yathā te manussā, evaṁ yogāvacaro daṭṭhabbo, yathā saṅkhasevālapaṇakaṁ kaddamo ca, evaṁ kilesā daṭṭhabbā.
Yathā udakappasādako maṇi, evaṁ saddhā daṭṭhabbā, yathā udakappasādake maṇimhi udake pakkhittamatte saṅkhasevālapaṇakaṁ vigaccheyya, kaddamo ca sannisīdeyya, acchaṁ bhaveyya udakaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ;
evameva kho, mahārāja, saddhā uppajjamānā nīvaraṇe vikkhambheti, vinīvaraṇaṁ cittaṁ hoti acchaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ.
Evaṁ kho, mahārāja, sampasādanalakkhaṇā saddhā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sampasādanalakkhaṇasaddhāpañho dasamo.
PTS cs 10 The king said, ‘Venerable Nāgasena, what is the characteristic mark of faith?’
‘Tranquillisation, O king, and aspiration.’
‘And how is tranquillisation the mark of faith?’
As faith, O king, springs up in the heart it breaks through the five hindrances—lust, malice, mental sloth, spiritual pride, and doubt—and the heart, free from these hindrances, PTS vp Pali 35 becomes clear, serene, untroubled.’
‘Give me an illustration.’
‘Just, O king, as a suzerain king, when on the march with his fourfold army, might cross over a small stream, and the water, disturbed by the elephants and cavalry, the chariots and the bowmen, might become fouled, turbid, and muddy. And PTS vp En 55 when he was on the other side the monarch might give command to his attendants, saying: “Bring some water, my good men. I would fain drink.” Now suppose the monarch had a water-clearing gem, and those men, in obedience to the order, were to throw the jewel into the water; then at once all the mud would precipitate itself, and the sandy atoms of shell and bits of water-plants would disappear, and the water would become clear, transparent, and serene, and they would then bring some of it to the monarch to drink. The water is the heart; the royal servants are the recluse; the mud, the sandy atoms, and the bits of water-plants are evil dispositions; and the water-cleansing gem is faith.’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tín có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng, và có sự tiến vào là tướng trạng.”
“Thưa ngài, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, tín trong khi được sanh lên thì loại trừ các pháp che lấp, làm cho tâm thoát khỏi các pháp che lấp, không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục. Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đức chuyển luân vương di chuyển đường xa cùng với đạo quân gồm bốn binh chủng vượt qua vũng nước nhỏ; vũng nước nhỏ ấy bởi các con voi, bởi các con ngựa, bởi các cỗ xe, và bởi các bộ binh, bị khuấy động, bị vẩn đục, bị quậy lên, trở thành bùn lầy. Và khi đã vượt qua, đức chuyển luân vương ra lệnh cho mọi người rằng: ‘Này các khanh, hãy mang nước lại, trẫm sẽ uống nước.’ Và đức vua có viên ngọc ma-ni lọc nước. ‘Tâu bệ hạ, xin tuân lệnh.’ Những người ấy vâng lệnh đức chuyển luân vương và thả viên ngọc ma-ni lọc nước ấy vào trong nước. Ngay khi viên ngọc ấy được thả vào trong nước thì số lượng rong rêu biến mất, và bùn lắng xuống, nước trở nên không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục, sau đó họ đã dâng nước uống đến đức chuyển luân vương: ‘Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy uống nước.’
Tâu đại vương, nước là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy. Những người ấy là như thế nào thì hành giả nên được xem xét như vậy. Số lượng rong rêu và bùn là như thế nào thì các phiền não nên được xem xét như vậy. Viên ngọc ma-ni lọc nước là như thế nào thì tín nên được xem xét như vậy. Giống như khi viên ngọc ma-ni lọc nước được thả vào trong nước thì số lượng rong rêu biến mất, và bùn lắng xuống, nước trở nên không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục, tâu đại vương tương tợ y như thế, tín trong khi được sanh lên thì loại trừ các pháp che lấp, làm cho tâm thoát khỏi các pháp che lấp, không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục. Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇā saddhā”ti?
“Sampasādanalakkhaṇā ca, mahārāja, saddhā, sampakkhandanalakkhaṇā cā”ti.
“Kathaṁ, bhante, sampasādanalakkhaṇā saddhā”ti?
“Saddhā kho, mahārāja, uppajjamānā nīvaraṇe vikkhambheti, vinīvaraṇaṁ cittaṁ hoti acchaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ.
Evaṁ kho, mahārāja, sampasādanalakkhaṇā saddhā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, rājā cakkavattī caturaṅginiyā senāya saddhiṁ addhānamaggappaṭipanno parittaṁ udakaṁ tareyya, taṁ udakaṁ hatthīhi ca assehi ca rathehi ca pattīhi ca khubhitaṁ bhaveyya āvilaṁ luḷitaṁ kalalībhūtaṁ.
Uttiṇṇo ca rājā cakkavattī manusse āṇāpeyya ‘pānīyaṁ, bhaṇe, āharatha, pivissāmī’ti, rañño ca udakappasādako maṇi bhaveyya.
‘Evaṁ, devā’ti kho te manussā rañño cakkavattissa paṭissutvā taṁ udakappasādakaṁ maṇiṁ udake pakkhipeyyuṁ, tasmiṁ udake pakkhittamatte saṅkhasevālapaṇakaṁ vigaccheyya, kaddamo ca sannisīdeyya, acchaṁ bhaveyya udakaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ.
Tato rañño cakkavattissa pānīyaṁ upanāmeyyuṁ ‘pivatu, deva, pānīyan’ti.
Yathā, mahārāja, udakaṁ, evaṁ cittaṁ daṭṭhabbaṁ, yathā te manussā, evaṁ yogāvacaro daṭṭhabbo, yathā saṅkhasevālapaṇakaṁ kaddamo ca, evaṁ kilesā daṭṭhabbā.
Yathā udakappasādako maṇi, evaṁ saddhā daṭṭhabbā, yathā udakappasādake maṇimhi udake pakkhittamatte saṅkhasevālapaṇakaṁ vigaccheyya, kaddamo ca sannisīdeyya, acchaṁ bhaveyya udakaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ;
evameva kho, mahārāja, saddhā uppajjamānā nīvaraṇe vikkhambheti, vinīvaraṇaṁ cittaṁ hoti acchaṁ vippasannaṁ anāvilaṁ.
Evaṁ kho, mahārāja, sampasādanalakkhaṇā saddhā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sampasādanalakkhaṇasaddhāpañho dasamo.