CÁC CÂU HỎI VỀ TƯỚNG TRẠNG:
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài, tác ý có gì là tướng trạng, tuệ có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng, tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng.”
“Thưa ngài, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng nghĩa là thế nào? Tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng nghĩa là thế nào? Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương có biết về những người gặt lúa không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm có biết.”
“Tâu đại vương, những người gặt lúa cắt cây lúa như thế nào?”
“Thưa ngài, họ nắm bó lúa bằng tay trái, cầm cái liềm bằng tay phải, rồi cắt bằng cái liềm.”
“Tâu đại vương, giống như người gặt lúa nắm lấy bó lúa bằng tay trái, cầm cái liềm bằng tay phải, rồi cắt bằng cái liềm, tương tợ y như thế hành giả nắm lấy ý bằng sự tác ý rồi cắt đứt các phiền não bằng tuệ. Tâu đại vương, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng nghĩa là như vậy, tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“kiṁlakkhaṇo, bhante nāgasena, manasikāro, kiṁlakkhaṇā paññā”ti?
“Ūhanalakkhaṇo kho, mahārāja, manasikāro, chedanalakkhaṇā paññā”ti.
“Kathaṁ ūhanalakkhaṇo manasikāro, kathaṁ chedanalakkhaṇā paññā?
Opammaṁ karohī”ti.
“Jānāsi tvaṁ, mahārāja, yavalāvake”ti.
“Āma, bhante, jānāmī”ti.
“Kathaṁ, mahārāja, yavalāvakā yavaṁ lunantī”ti?
“Vāmena, bhante, hatthena yavakalāpaṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena dāttaṁ gahetvā dāttena chindantī”ti.
“Yathā, mahārāja, yavalāvako vāmena hatthena yavakalāpaṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena dāttaṁ gahetvā yavaṁ chindati;
evameva kho, mahārāja, yogāvacaro manasikārena mānasaṁ gahetvā paññāya kilese chindati, evaṁ kho, mahārāja, ūhanalakkhaṇo manasikāro, evaṁ chedanalakkhaṇā paññā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Manasikāralakkhaṇapañho aṭṭhamo.
PTS cs 8 The king said: ‘What is the characteristic mark of reasoning, and what of wisdom?’
‘Reasoning has always comprehension as its mark; but wisdom has cutting off.’
‘But how is comprehension the characteristic of reasoning, and cutting off of wisdom? Give me an illustration.’
‘You remember the barley reapers?’
‘Yes, certainly.’ PTS vp Pali 33
‘How do they reap the barley?’
‘With the left hand they grasp the barley into a bunch, and taking the sickle into the right hand, they cut it off with that.’
‘Just even, so, O king, does the recluse by his thinking grasp his mind, and by his wisdom cut off his failings. In this way is it that comprehension is the characteristic of reasoning, but cutting off of wisdom.’
‘Well put, Nāgasena!’
CÁC CÂU HỎI VỀ TƯỚNG TRẠNG:
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài, tác ý có gì là tướng trạng, tuệ có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng, tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng.”
“Thưa ngài, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng nghĩa là thế nào? Tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng nghĩa là thế nào? Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương có biết về những người gặt lúa không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm có biết.”
“Tâu đại vương, những người gặt lúa cắt cây lúa như thế nào?”
“Thưa ngài, họ nắm bó lúa bằng tay trái, cầm cái liềm bằng tay phải, rồi cắt bằng cái liềm.”
“Tâu đại vương, giống như người gặt lúa nắm lấy bó lúa bằng tay trái, cầm cái liềm bằng tay phải, rồi cắt bằng cái liềm, tương tợ y như thế hành giả nắm lấy ý bằng sự tác ý rồi cắt đứt các phiền não bằng tuệ. Tâu đại vương, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng nghĩa là như vậy, tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“kiṁlakkhaṇo, bhante nāgasena, manasikāro, kiṁlakkhaṇā paññā”ti?
“Ūhanalakkhaṇo kho, mahārāja, manasikāro, chedanalakkhaṇā paññā”ti.
“Kathaṁ ūhanalakkhaṇo manasikāro, kathaṁ chedanalakkhaṇā paññā?
Opammaṁ karohī”ti.
“Jānāsi tvaṁ, mahārāja, yavalāvake”ti.
“Āma, bhante, jānāmī”ti.
“Kathaṁ, mahārāja, yavalāvakā yavaṁ lunantī”ti?
“Vāmena, bhante, hatthena yavakalāpaṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena dāttaṁ gahetvā dāttena chindantī”ti.
“Yathā, mahārāja, yavalāvako vāmena hatthena yavakalāpaṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena dāttaṁ gahetvā yavaṁ chindati;
evameva kho, mahārāja, yogāvacaro manasikārena mānasaṁ gahetvā paññāya kilese chindati, evaṁ kho, mahārāja, ūhanalakkhaṇo manasikāro, evaṁ chedanalakkhaṇā paññā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Manasikāralakkhaṇapañho aṭṭhamo.