Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tấn có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tấn có sự nâng đỡ là tướng trạng. Được nâng đỡ bởi tấn, tất cả các thiện pháp không bị suy giảm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như khi ngôi nhà đang sụp đổ, người đàn ông nâng đỡ bằng thanh gỗ khác. Trong khi được nâng đỡ như vậy, ngôi nhà ấy không thể bị sụp đổ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, tấn có sự nâng đỡ là tướng trạng. Được nâng đỡ bởi tấn, tất cả các thiện pháp không bị suy giảm.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đội binh lớn có thể đánh tan đội binh nhỏ, vì thế có người báo cho đức vua, đức vua cho đội binh khác tiếp ứng, tiếp viện đội binh nhỏ, với đội binh tiếp viện ấy đội binh nhỏ có thể đánh tan đội binh lớn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, tấn có sự nâng đỡ là tướng trạng. Được nâng đỡ bởi tấn, tất cả các thiện pháp không bị suy giảm. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có sự tinh tấn vị Thánh đệ tử từ bỏ pháp bất thiện, tu tập pháp thiện, từ bỏ pháp bị chê trách, tu tập pháp không bị chê trách, gìn giữ bản thân trong sạch.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇaṁ vīriyan”ti?
“Upatthambhanalakkhaṇaṁ, mahārāja, vīriyaṁ, vīriyūpatthambhitā sabbe kusalā dhammā na parihāyantī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, puriso gehe patante aññena dārunā upatthambheyya, upatthambhitaṁ santaṁ evaṁ taṁ gehaṁ na pateyya;
evameva kho, mahārāja, upatthambhanalakkhaṇaṁ vīriyaṁ, vīriyūpatthambhitā sabbe kusalā dhammā na parihāyantī”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, parittakaṁ senaṁ mahatī senā bhañjeyya, tato rājā aññamaññaṁ anussāreyya anupeseyya attano parittakāya senāya balaṁ anupadaṁ dadeyya, tāya saddhiṁ parittakā senā mahatiṁ senaṁ bhañjeyya;
evameva kho, mahārāja, upatthambhanalakkhaṇaṁ vīriyaṁ, vīriyūpatthambhitā sabbe kusalā dhammā na parihāyanti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘vīriyavā kho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti.
Sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti.
Suddhamattānaṁ pariharatī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Vīriyalakkhaṇapañho dvādasamo.
PTS vp En 57 PTS cs 11 The king said: ‘What, Nāgasena, is the characteristic mark of perseverance?’
‘The rendering of support, O king, is the mark of perseverance. All those good qualities which it supports do not fall away.’
‘Give me an illustration.’
‘Just as a man, if a house were falling, would make a prop for it of another post, and the house so supported would not fall; just so, O king, is the rendering of support the mark of perseverance, and all those good qualities which it supports do not fall away.’
‘Give me a further illustration.’
‘Just as when a large army has broken up a small one, then the king of the latter would call to mind every possible ally and reinforce his small army, and by that means the small army might in its turn break up the large one; just so, O king, is the rendering of support the mark of perseverance, and all those good qualities which it supports do not fall away PTS vp Pali 37 . For it has been said by the Blessed One: “The persevering hearer of the noble truth, O Bhikkhus, puts away evil and cultivates goodness, puts away that which is wrong and developes in himself that which is right, and thus does he keep himself pure.”’ PTS vp En 58
‘Well put, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tấn có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tấn có sự nâng đỡ là tướng trạng. Được nâng đỡ bởi tấn, tất cả các thiện pháp không bị suy giảm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như khi ngôi nhà đang sụp đổ, người đàn ông nâng đỡ bằng thanh gỗ khác. Trong khi được nâng đỡ như vậy, ngôi nhà ấy không thể bị sụp đổ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, tấn có sự nâng đỡ là tướng trạng. Được nâng đỡ bởi tấn, tất cả các thiện pháp không bị suy giảm.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đội binh lớn có thể đánh tan đội binh nhỏ, vì thế có người báo cho đức vua, đức vua cho đội binh khác tiếp ứng, tiếp viện đội binh nhỏ, với đội binh tiếp viện ấy đội binh nhỏ có thể đánh tan đội binh lớn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, tấn có sự nâng đỡ là tướng trạng. Được nâng đỡ bởi tấn, tất cả các thiện pháp không bị suy giảm. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có sự tinh tấn vị Thánh đệ tử từ bỏ pháp bất thiện, tu tập pháp thiện, từ bỏ pháp bị chê trách, tu tập pháp không bị chê trách, gìn giữ bản thân trong sạch.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇaṁ vīriyan”ti?
“Upatthambhanalakkhaṇaṁ, mahārāja, vīriyaṁ, vīriyūpatthambhitā sabbe kusalā dhammā na parihāyantī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, puriso gehe patante aññena dārunā upatthambheyya, upatthambhitaṁ santaṁ evaṁ taṁ gehaṁ na pateyya;
evameva kho, mahārāja, upatthambhanalakkhaṇaṁ vīriyaṁ, vīriyūpatthambhitā sabbe kusalā dhammā na parihāyantī”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, parittakaṁ senaṁ mahatī senā bhañjeyya, tato rājā aññamaññaṁ anussāreyya anupeseyya attano parittakāya senāya balaṁ anupadaṁ dadeyya, tāya saddhiṁ parittakā senā mahatiṁ senaṁ bhañjeyya;
evameva kho, mahārāja, upatthambhanalakkhaṇaṁ vīriyaṁ, vīriyūpatthambhitā sabbe kusalā dhammā na parihāyanti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘vīriyavā kho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti.
Sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti.
Suddhamattānaṁ pariharatī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Vīriyalakkhaṇapañho dvādasamo.