Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa301-400
SA346 Kinh 346. tam pháp
SA301 Kinh 301. ca-chiên-diên SA302 Kinh 302. a-chi-la SA303 Kinh 303. điếm-mâu-lưu SA304 Kinh 304. lục lục SA305 Kinh 305. lục nhập xứ SA306 Kinh 306. nhân SA307 Kinh 307. kiến pháp SA308 Kinh 308. bất nhiễm trước SA309 Kinh 309. lộc nữu (1) SA310 Kinh 310. lộc nữu (2) SA311 Kinh 311. phú-lan-na SA312 Kinh 312. ma-la-ca-cữu SA313 Kinh 313. kinh pháp SA314 Kinh 314. đoạn dục SA315 Kinh 315. nhãn sanh SA316 Kinh 316. nhãn vô thường SA317 Kinh 317. nhãn khổ SA318 Kinh 318. nhãn phi ngã SA319 Kinh 319. nhất thiết SA320 Kinh 320. nhất thiết hữu SA321 Kinh 321. nhất thiết SA322 Kinh 322. nhãn nội nhập xứ SA323 Kinh 323. lục nội nhập xứ SA324 Kinh 324. lục ngoại nhập xứ SA325 Kinh 325. lục thức thân SA326 Kinh 326. lục xúc thân SA327 Kinh 327. lục thọ thân SA328 Kinh 328. lục tưởng thân SA329 Kinh 329. lục tư thân SA330 Kinh 330. lục ái thân SA331 Kinh 331. lục cố niệm SA332 Kinh 332. lục phú SA333 Kinh 333. vô thường SA334 Kinh 334. hữu nhân hữu duyên hữu phược pháp SA335 Kinh 335. đệ nhất nghĩa không SA336 Kinh 336. lục hỷ hành SA337 Kinh 337. lục ưu hành SA338 Kinh 338. lục xả hành SA339 Kinh 339. lục thường hành (1) SA340 Kinh 340. lục thường hành (2) SA341 Kinh 341. lục thường hành (3) SA342 Kinh 342. lục thường hành (4) SA343 Kinh 343. phù-di SA344 Kinh 344. câu-hi-la SA345 Kinh 345. tập sanh SA346 Kinh 346. tam pháp SA347 Kinh 347. tu-thâm SA348 Kinh 348. thập lực SA349 Kinh 349. thánh xứ SA350 Kinh 350. thánh đệ tử SA351 Kinh 351. mậu-sư-la SA352 Kinh 352. sa-môn bà-la-môn (1) SA353 Kinh 353. sa-môn bà-la-môn (2) SA354 Kinh 354. sa-môn bà-la-môn (3) SA355 Kinh 355. lão tử SA356 Kinh 356. chủng trí SA357 Kinh 357. vô minh tăng (1) SA358 Kinh 358. vô minh tăng (2) SA359 Kinh 359. tư lương (1) SA360 Kinh 360. tư lương (2) SA361 Kinh 361. tư lương (3) SA362 Kinh 362. đa văn đệ tử SA363 Kinh 363. thuyết pháp tỳ-kheo (1) SA364 Kinh 364. thuyết pháp tỳ-kheo (2) SA365 Kinh 365. thuyết pháp SA366 Kinh 366. tỳ-bà-thi SA367 Kinh 367. tu tập SA368 Kinh 368. tam-ma-đề SA369 Kinh 369. thập nhị nhân duyên (1) SA370 Kinh 370. thập nhị nhân duyên (2) SA371 Kinh 371. thực SA372 Kinh 372. phả-cầu-na SA373 Kinh 373. tử nhục SA374 Kinh 374. hữu tham (1) SA375 Kinh 375. hữu tham (2) SA376 Kinh 376. hữu tham (3) SA377 Kinh 377. hữu tham (4) SA378 Kinh 378. hữu tham (5) SA379 Kinh 379. chuyển pháp luân SA380 Kinh 380. tứ đế (1) SA381 Kinh 381. tứ đế (2) SA382 Kinh 382. đương tri SA383 Kinh 383. dĩ tri SA384 Kinh 384. lậu tận SA385 Kinh 385. biên tế SA386 Kinh 386. hiền thánh (1) SA387 Kinh 387. hiền thánh (2) SA388 Kinh 388. ngũ chi lục phần SA389 Kinh 389. lương y SA390 Kinh 390. sa-môn bà-la-môn (1) SA391 Kinh 391. sa-môn bà-la-môn (2) SA392 Kinh 392. như thật tri SA393 Kinh 393. thiện nam tử SA394 Kinh 394. nhật nguyệt (1) SA395 Kinh 395. nhật nguyệt (2) SA396 Kinh 396. thánh đệ tử SA397 Kinh 397. khư-đề-la SA398 Kinh 398. nhân-đà-la trụ SA399 Kinh 399. luận xứ SA400 Kinh 400. thiêu y
SA346

Kinh 346. tam pháp

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Có ba pháp mà thế gian không yêu thích, không nhớ nghĩ, không vừa ý. Những gì là ba? Đó là già, bệnh, chết. Thế gian nếu không có ba pháp không đáng yêu thích, không đáng nhớ nghĩ, không vừa ý này thì Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác không xuất hiện ở thế gian; thế gian cũng không biết có Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Vì thế gian có ba pháp già, bệnh, chết, không đáng yêu thích, không đáng nhớ nghĩ và không vừa ý này, cho nên Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác mới xuất hiện ở thế gian; thế gian biết có Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.

“Vì ba pháp chưa đoạn nên không thể thoát khỏi già, bệnh, chết. Ba pháp đó là tham, nhuế, si.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa tham, nhuế, si. Ba pháp đó là thân kiến, giới thủ, nghi.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được thân kiến, giới thủ, nghi. Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không chánh tri, loạn tâm.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa thất niệm, không chánh tri, loạn tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật nghi, chẳng học giới.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa dao động, không luật nghi, chẳng học giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy, lười biếng.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa không tin, khó dạy, lười biếng. Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh, chẳng muốn nghe pháp, thường hay tìm điều dở của người.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể xa lìa không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm cầu điều dở của người. Ba pháp đó là không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu.

“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không quý, buông lung. Vì ba pháp này không đoạn trừ nên không thể lìa được không cung kính, nói năng ngang trái, quen bạn xấu. Vì sao? Vì do không tàm, không quí nên buông lung; vì buông lung nên không cung kính; vì không cung kính nên quen theo bạn xấu; vì quen theo bạn xấu nên không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, hay ưa tìm điều dở của người; vì ưa tìm điều dở của người nên không tin, khó dạy, nói năng ngang trái, lười biếng; vì lười biếng nên dao động, không luật nghi, không học giới; vì không học giới nên thất niệm, không chánh tri, loạn tâm; vì loạn tâm nên không chánh tư duy, thân cận tà đạo, tâm biếng nhác; vì tâm biếng nhác nên thân kiến, giới thủ, nghi; vì nghi nên không lìa tham, nhuế, si; vì không lìa tham, nhuế, si nên không thể lìa được già, bệnh, chết.

“Nếu dứt được ba pháp này thì mới có thể lìa được già, bệnh, chết. Ba pháp đó là tham, nhuế, si. Ba pháp này dứt rồi mới có thể lìa già, bệnh, chết.

“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tham, nhuế, si. Ba pháp đó là thân kiến, giới thủ, nghi. Vì dứt được ba pháp này nên có thể lìa được tham, sân, si.

“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa thân kiến, giới thủ, nghi. Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận tà đạo, khởi tâm biếng nhác. Vì dứt ba pháp này nên lìa thân kiến, giới thủ, nghi.

“Lại vì dứt ba pháp nên có lìa không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không chánh tri, loạn tâm. Vì dứt ba pháp này nên lìa được không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.

“Lại vì dứt được ba pháp này nên lìa được thất niệm, tâm không chánh tri, loạn tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật nghi, phạm giới. Vì dứt ba pháp này nên lìa được thất niệm, tâm không chánh tri, loạn tâm.

“Lại vì dứt ba pháp nên lìa được dao động, chẳng luật nghi, phạm giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy, biếng nhác. Vì dứt được ba pháp này nên lìa được dao động, không luật nghi, phạm giới.

“Lại vì dứt được ba pháp nên lìa được chẳng tin, khó dạy, biếng nhác. Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh, không ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Vì dứt ba pháp này nên có thể lìa được không tin, khó dạy, biếng nhác.

“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tâm không muốn thấy bậc Thánh, không ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Ba pháp đó là không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu. Vì dứt được ba pháp này nên lìa sự không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm điều dở của người.

“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa chẳng cung kính, nói năng ngang ngược, tập theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không quí, buông lung. Vì sao? Vì do tàm quí nên không buông lung. Vì không buông lung nên tâm cung kính, nói năng hòa nhã, làm thiện tri thức. Vì là thiện tri thức nên ưa thấy Hiền thánh, ưa nghe Chánh pháp, chẳng tìm điều dở của người. Vì chẳng ưa tìm điều dở của người nên sanh lòng tin, nói năng hòa nhã và tinh tấn. Vì tinh tấn nên không dao động, an trú trong luật nghi, học giới. Nhờ học giới nên không thất niệm, an trú chánh tri, chẳng loạn tâm. Nhờ không loạn tâm nên chánh tư duy, gần gũi chánh đạo, tâm không biếng nhác. Nhờ tâm không biếng nhác nên không chấp trước thân kiến, không chấp trước giới thủ, vượt khỏi nghi hoặc. Nhờ chẳng nghi nên chẳng khởi tham, nhuế, si. Nhờ lìa tham, nhuế, si nên có thể dứt già, bệnh, chết.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA347...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc