Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú trong vườn Lộc dã, Tiên nhân trú xứ, nước Ba-la-nại. Bấy giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:
“Có bốn Thánh đế. Những gì là bốn? Đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, Khổ diệt đạo tích Thánh đế. Tỳ-kheo đối với Khổ Thánh đế đã biết, đã hiểu; đối với Khổ tập Thánh đế đã biết, đã đoạn; đối với Khổ diệt Thánh đế đã biết, đã chứng; đối với con đường đưa đến sự diệt tận của khổ Thánh đế đã biết, đã tu. Như vậy, Tỳ-kheo không còn then khóa, san bằng thành hào, vượt qua các hiểm nạn, cởi mở các ràng buộc, được gọi là Hiền thánh dựng ngọn cờ Thánh.”
“Này các Tỳ-kheo, thế nào là không còn then khóa? Năm hạ phần kết sử đã lìa, đã biết; đó gọi là không còn then khóa.
“Thế nào là san bằng thành hào? Hào sâu vô minh đã đoạn, đã biết; đó gọi là san bằng thành hào.
“Thế nào là vượt qua các hiểm nạn? Giải thoát sanh tử, tận cùng mé khổ; đó gọi là vượt qua các hiểm nạn.
“Thế nào là cởi mở các ràng buộc? Ái đã đoạn, đã biết.
“Thế nào là dựng ngọn cờ Thánh đạo? Ngã mạn đã đoạn, đã biết; đó gọi là dựng ngọn cờ Thánh.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛住波羅[木*奈]仙人住T 0104c28處鹿野苑中。
爾時,世尊告諸比丘:「有四聖T 0104c29諦。何等為四?謂苦聖諦、苦集聖諦、苦滅聖T 0105a01諦、苦滅道跡聖諦。若比丘於苦聖諦已知、T 0105a02已解,於苦集聖諦已知、已斷,於苦滅聖諦T 0105a03已知、已證,於苦滅道跡聖諦已知、已修。如T 0105a04是比丘無有關鍵,平治城塹,度諸峻T 0105a05難,名為賢聖,建立聖幢。諸比丘!云何無有T 0105a06關鍵?謂五下分結已斷、已知,是名離關T 0105a07鍵。云何平治城塹,無明謂之深塹,彼得斷T 0105a08知,是名平治城塹。云何度諸嶮難?謂無際T 0105a09生死,究竟苦邊,是名度諸嶮難。云何解脫T 0105a10結縛?謂愛已斷、已知。云何建立聖幢?謂我慢T 0105a11已斷、已知,是名建立聖幢。」
佛說此經已,諸T 0105a12比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0105a13 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at the Residence of Sages in the Deer Preserve of Bārāṇasī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “There are four noble truths. What are the four? They are the noble truth of suffering, the noble truth of suffering’s formation, the noble truth of suffering’s cessation, and the noble truth of the path to suffering’s cessation.
SC 3“If a monk has known the noble truth of suffering, then he has understood [suffering] … has known the noble truth of suffering’s formation, then he has ended [its formation] … has known the noble truth of suffering’s cessation, then he has realized [its cessation] … has known the noble truth of the path to suffering’s cessation, then he has cultivated [that path]. In this way, that monk has no barred gate, has leveled off the city moat, and has crossed the dangerous heights. [Liberated from bondage,] he’s called a noble one who has planted the noble flag.
SC 4“Monks, how does he have no barred gate? It means that he has ended the five lower bonds and has known it. This is called being free of the barred gate. How has he leveled off the city moat? Ignorance is known as the deep moat. He brings it to an end and knows it. This is called leveling off the city moat. How has he crossed the dangerous heights? It means birth and death without end and reaching the final end of suffering. This is called crossing the dangerous heights. How is he liberated from bondage? It means he has ended craving and has known it. How does he plant the noble flag? It means he has ended self pride and has known it. This is called planting the noble flag.”
SC 5After the Buddha spoke this sūtra, the monks who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú trong vườn Lộc dã, Tiên nhân trú xứ, nước Ba-la-nại. Bấy giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:
“Có bốn Thánh đế. Những gì là bốn? Đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, Khổ diệt đạo tích Thánh đế. Tỳ-kheo đối với Khổ Thánh đế đã biết, đã hiểu; đối với Khổ tập Thánh đế đã biết, đã đoạn; đối với Khổ diệt Thánh đế đã biết, đã chứng; đối với con đường đưa đến sự diệt tận của khổ Thánh đế đã biết, đã tu. Như vậy, Tỳ-kheo không còn then khóa, san bằng thành hào, vượt qua các hiểm nạn, cởi mở các ràng buộc, được gọi là Hiền thánh dựng ngọn cờ Thánh.”
“Này các Tỳ-kheo, thế nào là không còn then khóa? Năm hạ phần kết sử đã lìa, đã biết; đó gọi là không còn then khóa.
“Thế nào là san bằng thành hào? Hào sâu vô minh đã đoạn, đã biết; đó gọi là san bằng thành hào.
“Thế nào là vượt qua các hiểm nạn? Giải thoát sanh tử, tận cùng mé khổ; đó gọi là vượt qua các hiểm nạn.
“Thế nào là cởi mở các ràng buộc? Ái đã đoạn, đã biết.
“Thế nào là dựng ngọn cờ Thánh đạo? Ngã mạn đã đoạn, đã biết; đó gọi là dựng ngọn cờ Thánh.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at the Residence of Sages in the Deer Preserve of Bārāṇasī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “There are four noble truths. What are the four? They are the noble truth of suffering, the noble truth of suffering’s formation, the noble truth of suffering’s cessation, and the noble truth of the path to suffering’s cessation.
SC 3“If a monk has known the noble truth of suffering, then he has understood [suffering] … has known the noble truth of suffering’s formation, then he has ended [its formation] … has known the noble truth of suffering’s cessation, then he has realized [its cessation] … has known the noble truth of the path to suffering’s cessation, then he has cultivated [that path]. In this way, that monk has no barred gate, has leveled off the city moat, and has crossed the dangerous heights. [Liberated from bondage,] he’s called a noble one who has planted the noble flag.
SC 4“Monks, how does he have no barred gate? It means that he has ended the five lower bonds and has known it. This is called being free of the barred gate. How has he leveled off the city moat? Ignorance is known as the deep moat. He brings it to an end and knows it. This is called leveling off the city moat. How has he crossed the dangerous heights? It means birth and death without end and reaching the final end of suffering. This is called crossing the dangerous heights. How is he liberated from bondage? It means he has ended craving and has known it. How does he plant the noble flag? It means he has ended self pride and has known it. This is called planting the noble flag.”
SC 5After the Buddha spoke this sūtra, the monks who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.