Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa301-400
SA372 Kinh 372. phả-cầu-na
SA301 Kinh 301. ca-chiên-diên SA302 Kinh 302. a-chi-la SA303 Kinh 303. điếm-mâu-lưu SA304 Kinh 304. lục lục SA305 Kinh 305. lục nhập xứ SA306 Kinh 306. nhân SA307 Kinh 307. kiến pháp SA308 Kinh 308. bất nhiễm trước SA309 Kinh 309. lộc nữu (1) SA310 Kinh 310. lộc nữu (2) SA311 Kinh 311. phú-lan-na SA312 Kinh 312. ma-la-ca-cữu SA313 Kinh 313. kinh pháp SA314 Kinh 314. đoạn dục SA315 Kinh 315. nhãn sanh SA316 Kinh 316. nhãn vô thường SA317 Kinh 317. nhãn khổ SA318 Kinh 318. nhãn phi ngã SA319 Kinh 319. nhất thiết SA320 Kinh 320. nhất thiết hữu SA321 Kinh 321. nhất thiết SA322 Kinh 322. nhãn nội nhập xứ SA323 Kinh 323. lục nội nhập xứ SA324 Kinh 324. lục ngoại nhập xứ SA325 Kinh 325. lục thức thân SA326 Kinh 326. lục xúc thân SA327 Kinh 327. lục thọ thân SA328 Kinh 328. lục tưởng thân SA329 Kinh 329. lục tư thân SA330 Kinh 330. lục ái thân SA331 Kinh 331. lục cố niệm SA332 Kinh 332. lục phú SA333 Kinh 333. vô thường SA334 Kinh 334. hữu nhân hữu duyên hữu phược pháp SA335 Kinh 335. đệ nhất nghĩa không SA336 Kinh 336. lục hỷ hành SA337 Kinh 337. lục ưu hành SA338 Kinh 338. lục xả hành SA339 Kinh 339. lục thường hành (1) SA340 Kinh 340. lục thường hành (2) SA341 Kinh 341. lục thường hành (3) SA342 Kinh 342. lục thường hành (4) SA343 Kinh 343. phù-di SA344 Kinh 344. câu-hi-la SA345 Kinh 345. tập sanh SA346 Kinh 346. tam pháp SA347 Kinh 347. tu-thâm SA348 Kinh 348. thập lực SA349 Kinh 349. thánh xứ SA350 Kinh 350. thánh đệ tử SA351 Kinh 351. mậu-sư-la SA352 Kinh 352. sa-môn bà-la-môn (1) SA353 Kinh 353. sa-môn bà-la-môn (2) SA354 Kinh 354. sa-môn bà-la-môn (3) SA355 Kinh 355. lão tử SA356 Kinh 356. chủng trí SA357 Kinh 357. vô minh tăng (1) SA358 Kinh 358. vô minh tăng (2) SA359 Kinh 359. tư lương (1) SA360 Kinh 360. tư lương (2) SA361 Kinh 361. tư lương (3) SA362 Kinh 362. đa văn đệ tử SA363 Kinh 363. thuyết pháp tỳ-kheo (1) SA364 Kinh 364. thuyết pháp tỳ-kheo (2) SA365 Kinh 365. thuyết pháp SA366 Kinh 366. tỳ-bà-thi SA367 Kinh 367. tu tập SA368 Kinh 368. tam-ma-đề SA369 Kinh 369. thập nhị nhân duyên (1) SA370 Kinh 370. thập nhị nhân duyên (2) SA371 Kinh 371. thực SA372 Kinh 372. phả-cầu-na SA373 Kinh 373. tử nhục SA374 Kinh 374. hữu tham (1) SA375 Kinh 375. hữu tham (2) SA376 Kinh 376. hữu tham (3) SA377 Kinh 377. hữu tham (4) SA378 Kinh 378. hữu tham (5) SA379 Kinh 379. chuyển pháp luân SA380 Kinh 380. tứ đế (1) SA381 Kinh 381. tứ đế (2) SA382 Kinh 382. đương tri SA383 Kinh 383. dĩ tri SA384 Kinh 384. lậu tận SA385 Kinh 385. biên tế SA386 Kinh 386. hiền thánh (1) SA387 Kinh 387. hiền thánh (2) SA388 Kinh 388. ngũ chi lục phần SA389 Kinh 389. lương y SA390 Kinh 390. sa-môn bà-la-môn (1) SA391 Kinh 391. sa-môn bà-la-môn (2) SA392 Kinh 392. như thật tri SA393 Kinh 393. thiện nam tử SA394 Kinh 394. nhật nguyệt (1) SA395 Kinh 395. nhật nguyệt (2) SA396 Kinh 396. thánh đệ tử SA397 Kinh 397. khư-đề-la SA398 Kinh 398. nhân-đà-la trụ SA399 Kinh 399. luận xứ SA400 Kinh 400. thiêu y
SA372

Kinh 372. phả-cầu-na

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Có bốn loại thức ăn giúp ích cho chúng sanh, khiến được nuôi lớn và sống còn ở đời. Những gì là bốn? Một là thức ăn thô từng nắm; hai là thức ăn tế bằng xúc chạm; ba là thức ăn bằng ý chí; bốn là thức ăn của thức. Khi ấy, có Tỳ-kheo tên là Phả-cầu-na đang đứng sau, quạt hầu, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn ai ăn thức này?”

Phật bảo Phả-cầu-na:

“Ta không nói có người ăn thức. Nếu Ta nói có người ăn thức, thì ngươi nên hỏi câu ấy. Ở đây Ta nói thức là thức ăn, vậy ngươi nên hỏi như vầy: ‘Do nhân duyên gì mà có thức ăn của thức?’ Ta sẽ đáp: ‘Thức ăn của thức, có thể chiêu cảm hữu trong vị lai khiến cho nó tiếp tục sanh; do có hữu nên có sáu nhập xứ; do sáu nhập xứ làm duyên nên có xúc.’”

Phả-cầu-na lại hỏi:

“Ai xúc?”

Phật bảo Phả-cầu-na:

“Ta không nói có người xúc. Nếu Ta nói có người xúc thì ngươi nên hỏi câu này: ‘Ai xúc?’ Ở đây ngươi nên hỏi như vầy: ‘Do nhân duyên gì mà sanh xúc?’ Ta sẽ đáp như vầy: ‘Do sáu nhập xứ làm duyên nên sanh xúc; do xúc làm duyên nên sanh thọ.’”

Lại hỏi:

“Ai thọ?”

Phật bảo Phả-cầu-na:

“Ta không nói có người thọ. Nếu Ta nói có người thọ, thì ngươi nên hỏi: ‘Ai thọ?’ Ở đây ngươi nên hỏi: ‘Do nhân duyên gì nên có thọ?’ Ta sẽ đáp như vầy: ‘Do xúc làm duyên nên có thọ; thọ làm duyên nên có ái.’”

Lại hỏi:

“Bạch Thế Tôn, ai ái?”

Phật bảo Phả-cầu-na:

“Ta không nói có người ái. Nếu Ta nói có người ái, thì ngươi nên hỏi: ‘Ai ái?’ Ở đây ngươi nên hỏi: ‘Do nhân duyên gì nên có ái?’ Ta sẽ đáp như vầy: ‘Do duyên thọ nên có ái; do ái làm duyên nên có thủ.’”

Lại hỏi:

“Bạch Thế Tôn, ai thủ?”

Phật bảo Phả-cầu-na:

“Ta không nói có người thủ. Nếu Ta nói có người thủ thì ngươi nên hỏi: ‘Ai thủ?’ Ở đây ngươi nên hỏi: ‘Vì duyên gì nên có thủ?’ Ta sẽ đáp: ‘Do duyên ái nên có thủ; do thủ làm duyên nên có hữu.’”

Lại hỏi:

“Bạch Thế Tôn, ai hữu?”

Phật bảo Phả-cầu-na:

“Ta không nói có người hữu. Nếu Ta nói có người hữu thì ngươi nên hỏi: ‘Ai hữu?’ Ở đây ngươi nên hỏi: ‘Do duyên gì nên có hữu?’ Ta sẽ đáp: ‘Do duyên thủ nên có hữu; có thể chiêu cảm sự chuyện hiện của hữu trong vị lai.’ Đó gọi là do có hữu nên có sáu nhập xứ; sáu nhập xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não và thuần một khối khổ tụ tập như vậy. Ngược lại nếu lục nhập xứ diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não diệt và thuần một khối khổ lớn đã tụ tập bị diệt.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA373...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc