Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1001-1100
SA1074 Kinh 1074. bện tóc
SA1001 Kinh 1001. xâm bức SA1002 Kinh 1002. đoạn trừ SA1003 Kinh 1003. tỉnh ngủ SA1004 Kinh 1004. hỗ tương hoan hỷ SA1005 Kinh 1005. người vật SA1006 Kinh 1006. yêu ai hơn con SA1007 Kinh 1007. sát-lợi SA1008 Kinh 1008. chủng tử SA1009 Kinh 1009. tâm SA1010 Kinh 1010. phược SA1011 Kinh 1011. yểm SA1012 Kinh 1012. vô minh SA1013 Kinh 1013. tín SA1014 Kinh 1014. đệ nhị SA1015 Kinh 1015. trì giới SA1016 Kinh 1016. chúng sanh (1) SA1017 Kinh 1017. chúng sanh (2) SA1018 Kinh 1018. chúng sanh (3) SA1019 Kinh 1019. phi đạo SA1020 Kinh 1020. vô thượng SA1021 Kinh 1021. kệ nhân SA1022 Kinh 1022. biết xe SA1023 Kinh 1023. phả-cầu-na SA1024 Kinh 1024. a-thấp-ba-thệ SA1025 Kinh 1025. tật bệnh (1) SA1026 Kinh 1026. tật bệnh (2) SA1027 Kinh 1027. tỳ-kheo bệnh SA1028 Kinh 1028. tật bệnh (3) SA1029 Kinh 1029. tật bệnh (4) SA1030 Kinh 1030. cấp cô độc (1) SA1031 Kinh 1031. cấp cô độc (2) SA1032 Kinh 1032. cấp cô độc (3) SA1033 Kinh 1033. đạt-ma-đề-ly SA1034 Kinh 1034. trường thọ SA1035 Kinh 1035. bà-tẩu SA1036 Kinh 1036. sa-la SA1037 Kinh 1037. da-thâu SA1038 Kinh 1038. ma-na-đề-na SA1039 Kinh 1039. thuần-đà SA1040 Kinh 1040. xả hành SA1041 Kinh 1041. sanh văn SA1042 Kinh 1042. bề-la-ma (1) SA1043 Kinh 1043. bề-la-ma (2) SA1044 Kinh 1044. bề-nữu-đa-la SA1045 Kinh 1045. tùy loại SA1046 Kinh 1046. xà hành SA1047 Kinh 1047. viên châu (1) SA1048 Kinh 1048. viên châu (2) SA1049 Kinh 1049. na nhân SA1050 Kinh 1050. pháp xuất không xuất SA1051 Kinh 1051. bờ kia bờ này SA1052 Kinh 1052. chân thật SA1053 Kinh 1053. ác pháp SA1054 Kinh 1054. pháp chân nhân SA1055 Kinh 1055. mười pháp (1) SA1056 Kinh 1056. mười pháp (2) SA1057 Kinh 1057. hai mươi pháp SA1058 Kinh 1058. ba mươi pháp SA1059 Kinh 1059. bốn mươi SA1060 Kinh 1060. pháp phi pháp khổ SA1061 Kinh 1061. phi luật chánh luật SA1062 Kinh 1062. thiện sanh SA1063 Kinh 1063. xú lậu SA1064 Kinh 1064. đề-bà SA1065 Kinh 1065. tượng thủ SA1066 Kinh 1066. nan-đà (1) SA1067 Kinh 1067. nan-đà (2) SA1068 Kinh 1068. đê-sa SA1069 Kinh 1069. tỳ-xá-khư SA1070 Kinh 1070. niên thiếu SA1071 Kinh 1071. trưởng lão SA1072 Kinh 1072. tăng-ca-lam SA1073 Kinh 1073. a-nan SA1074 Kinh 1074. bện tóc SA1075 Kinh 1075. đà-phiêu (1) SA1076 Kinh 1076. đà-phiêu (2) SA1077 Kinh 1077. giặc SA1078 Kinh 1078. tán-đảo-tra SA1079 Kinh 1079. bạt-chẩn SA1080 Kinh 1080. tàm quý SA1081 Kinh 1081. khổ chúng SA1082 Kinh 1082. ung nhọt SA1083 Kinh 1083. ăn củ rễ SA1084 Kinh 1084. trường thọ SA1085 Kinh 1085. thọ mạng SA1086 Kinh 1086. ma trói SA1087 Kinh 1087. ngủ nghỉ SA1088 Kinh 1088. kinh hành SA1089 Kinh 1089. đại long SA1090 Kinh 1090. ngủ yên SA1091 Kinh 1091. cù-đề-ca SA1092 Kinh 1092. ma nữ SA1093 Kinh 1093. tịnh bất tịnh SA1094 Kinh 1094. khổ hành SA1095 Kinh 1095. khất thực SA1096 Kinh 1096. sợi dây SA1097 Kinh 1097. thuyết pháp SA1098 Kinh 1098. làm vua SA1099 Kinh 1099. số đông SA1100 Kinh 1100. thiện giác
SA1074

Kinh 1074. bện tóc

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hành trong nhân gian ở nước Ma-kiệt-đề, cùng với một ngàn vị Tỳ-kheo. Xưa kia họ là những người xuất gia bện tóc, nay đều đắc quả A-la-hán, các lậu đã tận, việc làm đã xong, xả bỏ các gánh nặng, chóng được tự lợi, sạch các hữu kết, chánh trí thiện giải thoát. Phật cùng các Tỳ-kheo đi đến tại rừng Trượng lâm, tháp Thiện kiến.

Bình-sa vua nước Ma-kiệt-đề, nghe Thế Tôn du hành trong nhân gian tại nước Ma-kiệt-đề, đến trong rừng Trượng lâm, tháp Thiện kiến. Vua cùng với các tiểu vương, quần thần và đoàn tùy tùng, xe cộ một muôn hai ngàn chiếc, ngựa một muôn tám ngàn, người đi bộ theo đông vô số, các Bà-la-môn, gia chủ trong nước Ma-kiệt-đề đều đi theo.

Nhà vua rời khỏi thành Vương xá đi đến chỗ Thế Tôn, cung kính cúng dường. Tới đầu đường, vua xuống đi bộ. Lúc tiến vào đến cửa trong, vua dẹp bỏ năm thứ nghi trượng, giở mão, dẹp bỏ lọng, quạt, dao gươm, cởi giày da. Vua đến trước Phật, sửa lại y phục tề chỉnh, trật vai áo bên phải, đảnh lễ Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, tự xưng danh tánh và bạch Phật:

“Thế Tôn, con là Bình-sa, vua nước Ma-kiệt-đề.”

Phật bảo Bình-sa vương:

“Đại vương, ngài là Bình-sa. Mời Đại vương an tọa.”

Bình-sa vương lại lễ dưới chân Phật, từ tốn ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ Uất-bề-la Ca-diếp cũng đang ngồi tại đấy. Trong khi đó các gia chủ Bà-la-môn nghĩ rằng: “Có phải Đại Sa-môn này theo Uất-bề-la Ca-diếp tu phạm hạnh hay là Uất-bề-la Ca-diếp theo Đại Sa-môn tu phạm hạnh?”

Thế Tôn biết được tâm niệm của các gia chủ, Ngài liền nói kệ hỏi:

Uất-bề-la Ca-diếp,
Nơi đây thấy lợi gì,
Bỏ sự phụng thờ xưa,
Thờ lửa và các việc?
Nay hãy nói nghĩa kia.
Nguyên do bỏ thờ lửa.

Uất-bề-la Ca-diếp nói kệ bạch Phật:

Tiền tài thức ăn ngon,
Nữ sắc, quả ngũ dục;
Quán sát vị lai thọ,
Đều vô cùng nhơ nhớp.

Thế nên đều ném bỏ,
Sự thờ lửa trước kia.

Thế Tôn lại nói kệ hỏi:

Ông chẳng đắm thế gian,
Năm dục tiền, vị, sắc…;
Sao lại bỏ trời, người?
Ca-diếp, tùy nghĩa nói.

Ca-diếp lại nói kệ đáp Thế Tôn:

Thấy đạo lìa hữu dư,
Lối Vô dư tịch diệt,
Vô sở hữu, bất trước,
Không đường khác, đạo khác.

Thế nên đều ném bỏ,
Lối tu thờ lửa trước,
Đại hội đều thọ trì,

Phụng thờ nước, hoặc lửa.
Ngu si chìm trong đó.
Chí cầu đạo giải thoát.

Mù, không mắt trí tuệ,
Hướng sanh, già, bệnh, chết.
Chẳng thấy con đường chánh,
Trọn lìa nẻo sanh tử.

Nay mới nhờ Thế Tôn,
Được thấy đạo vô vi,
Lực mà Đại long nói,
Được qua bên bờ kia.

Mâu-ni rộng cứu giúp,
An úy vô lượng chúng,
Nay mới biết Cù-đàm,
Bậc siêu xuất chân đế.

Đức Phật lại nói kệ khen Ca-diếp:

Lành thay! Này Ca-diếp,
Trước suy xét phi ác,
Kế phân biệt tìm cầu,
Mới đến nơi tốt dẹp.

“Này Ca-diếp, ông nên có lòng an úy tâm đồ chúng của ông.”

Khi ấy Uất-bề-la Ca-diếp liền nhập chánh thọ, do sức thần túc, hướng về phương Đông, bay lên hư không, hiện ra bốn thứ thần biến: đi, đứng, nằm, ngồi. Vào trong lửa tam-muọâi, toàn thân rỗng sáng tỏa ra sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, pha lê, sắc hồng. Trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, trở lại thiêu đốt thân. Trên thân ra nước để rưới nước lên thân. Hoặc trên thân ra lửa để đốt thân kia; dưới thân tuôn nước để tưới ướt thân. Hiện bày các thứ thần thông biến hóa xong, Ca-diếp cúi đầu lễ Phật và bạch:

“Bạch Thế Tôn, Phật là Thầy của con, con là đệ tử.”

Phật bảo Ca-diếp:

“Ta là Thầy ông. Ông là đệ tử. Ông hãy bình an ngồi xuống đi.”

Tôn giả Uất-bề-la Ca-diếp ngồi lại chỗ cũ. Các gia chủ Bà-la-môn xứ Ma-kiệt-đề đều nghĩ thầm: “Uất-bề-la Ca-diếp đã quyết định ở nơi Đại Sa-môn tu hành phạm hạnh.”

Phật nói kinh này xong, Bình-sa vua xứ Ma-kiệt-đề, cùng các gia chủ Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, đều hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ rồi cáo từ.

⏳ Đang tải SA1075...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc