Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1001-1100
SA1028 Kinh 1028. tật bệnh (3)
SA1001 Kinh 1001. xâm bức SA1002 Kinh 1002. đoạn trừ SA1003 Kinh 1003. tỉnh ngủ SA1004 Kinh 1004. hỗ tương hoan hỷ SA1005 Kinh 1005. người vật SA1006 Kinh 1006. yêu ai hơn con SA1007 Kinh 1007. sát-lợi SA1008 Kinh 1008. chủng tử SA1009 Kinh 1009. tâm SA1010 Kinh 1010. phược SA1011 Kinh 1011. yểm SA1012 Kinh 1012. vô minh SA1013 Kinh 1013. tín SA1014 Kinh 1014. đệ nhị SA1015 Kinh 1015. trì giới SA1016 Kinh 1016. chúng sanh (1) SA1017 Kinh 1017. chúng sanh (2) SA1018 Kinh 1018. chúng sanh (3) SA1019 Kinh 1019. phi đạo SA1020 Kinh 1020. vô thượng SA1021 Kinh 1021. kệ nhân SA1022 Kinh 1022. biết xe SA1023 Kinh 1023. phả-cầu-na SA1024 Kinh 1024. a-thấp-ba-thệ SA1025 Kinh 1025. tật bệnh (1) SA1026 Kinh 1026. tật bệnh (2) SA1027 Kinh 1027. tỳ-kheo bệnh SA1028 Kinh 1028. tật bệnh (3) SA1029 Kinh 1029. tật bệnh (4) SA1030 Kinh 1030. cấp cô độc (1) SA1031 Kinh 1031. cấp cô độc (2) SA1032 Kinh 1032. cấp cô độc (3) SA1033 Kinh 1033. đạt-ma-đề-ly SA1034 Kinh 1034. trường thọ SA1035 Kinh 1035. bà-tẩu SA1036 Kinh 1036. sa-la SA1037 Kinh 1037. da-thâu SA1038 Kinh 1038. ma-na-đề-na SA1039 Kinh 1039. thuần-đà SA1040 Kinh 1040. xả hành SA1041 Kinh 1041. sanh văn SA1042 Kinh 1042. bề-la-ma (1) SA1043 Kinh 1043. bề-la-ma (2) SA1044 Kinh 1044. bề-nữu-đa-la SA1045 Kinh 1045. tùy loại SA1046 Kinh 1046. xà hành SA1047 Kinh 1047. viên châu (1) SA1048 Kinh 1048. viên châu (2) SA1049 Kinh 1049. na nhân SA1050 Kinh 1050. pháp xuất không xuất SA1051 Kinh 1051. bờ kia bờ này SA1052 Kinh 1052. chân thật SA1053 Kinh 1053. ác pháp SA1054 Kinh 1054. pháp chân nhân SA1055 Kinh 1055. mười pháp (1) SA1056 Kinh 1056. mười pháp (2) SA1057 Kinh 1057. hai mươi pháp SA1058 Kinh 1058. ba mươi pháp SA1059 Kinh 1059. bốn mươi SA1060 Kinh 1060. pháp phi pháp khổ SA1061 Kinh 1061. phi luật chánh luật SA1062 Kinh 1062. thiện sanh SA1063 Kinh 1063. xú lậu SA1064 Kinh 1064. đề-bà SA1065 Kinh 1065. tượng thủ SA1066 Kinh 1066. nan-đà (1) SA1067 Kinh 1067. nan-đà (2) SA1068 Kinh 1068. đê-sa SA1069 Kinh 1069. tỳ-xá-khư SA1070 Kinh 1070. niên thiếu SA1071 Kinh 1071. trưởng lão SA1072 Kinh 1072. tăng-ca-lam SA1073 Kinh 1073. a-nan SA1074 Kinh 1074. bện tóc SA1075 Kinh 1075. đà-phiêu (1) SA1076 Kinh 1076. đà-phiêu (2) SA1077 Kinh 1077. giặc SA1078 Kinh 1078. tán-đảo-tra SA1079 Kinh 1079. bạt-chẩn SA1080 Kinh 1080. tàm quý SA1081 Kinh 1081. khổ chúng SA1082 Kinh 1082. ung nhọt SA1083 Kinh 1083. ăn củ rễ SA1084 Kinh 1084. trường thọ SA1085 Kinh 1085. thọ mạng SA1086 Kinh 1086. ma trói SA1087 Kinh 1087. ngủ nghỉ SA1088 Kinh 1088. kinh hành SA1089 Kinh 1089. đại long SA1090 Kinh 1090. ngủ yên SA1091 Kinh 1091. cù-đề-ca SA1092 Kinh 1092. ma nữ SA1093 Kinh 1093. tịnh bất tịnh SA1094 Kinh 1094. khổ hành SA1095 Kinh 1095. khất thực SA1096 Kinh 1096. sợi dây SA1097 Kinh 1097. thuyết pháp SA1098 Kinh 1098. làm vua SA1099 Kinh 1099. số đông SA1100 Kinh 1100. thiện giác
SA1028

Kinh 1028. tật bệnh (3)

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo cùng tụ tập ở giảng đường Già-lê-lệ. Lúc đó có nhiều Tỳ-kheo bệnh.

Buổi chiều sau khi Thế Tôn từ thiền tịnh tỉnh giấc, đến giảng đường Già-lê-lệ, trải tòa ngồi trước đại chúng, rồi bảo các Tỳ-kheo:

“Nên chánh niệm, chánh trí để đợi thời. Đó là giáo huấn của Ta. Này các Tỳ-kheo, thế nào là chánh niệm? Là Tỳ-kheo sống quán niệm thân trên thân, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều phục tham ưu thế gian, sống quán niệm ngoại thân trên thân, sống quán niệm nội ngoại thân trên thân; nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ; nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm; sống quán niệm nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp, phương tiện tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều phục tham ưu thế gian. Đó gọi là Tỳ-kheo ức niệm chánh.

“Thế nào là chánh trí? Tỳ-kheo hoặc tới hoặc lui, an trụ chánh trí; nhìn trông, quán sát, co, duỗi, cúi, ngước, nắm cầm y bát, đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức… cho đến năm mươi, sáu mươi người nói năng hay im lặng đều hành với chánh trí. Tỳ-kheo, đó gọi là chánh trí. Cũng thế, Tỳ-kheo nào an trụ vào chánh niệm, chánh trí, có thể khởi cảm thọ lạc, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.

“Thế nào là nhân duyên? Duyên vào thân khởi suy nghĩ: ‘Thân này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ lạc cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ lạc, quán sát vô thường, quán sát sanh diệt, quán sát ly dục, quán sát diệt tận, quán sát xả. Vị ấy quán sát thân cùng với cảm thọ lạc là vô thường… cho đến xả. Nếu ở nơi thân và cảm thọ lạc mà kết sử tham dục vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Cũng vậy, với chánh niệm, chánh trí, biết cảm thọ khổ phát sanh, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.

“Thế nào là nhân duyên? Cũng vậy, duyên vào thân khởi tư duy: ‘Thân này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ khổ cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ khổ, là vô thường cho đến xả. Ở nơi thân này và cảm thọ khổ mà kết sử sân nhuế vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Cũng vậy, với chánh niệm, chánh trí, biết cảm thọ không khổ, không vui phát sanh, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.

“Thế nào là nhân duyên? Là duyên vào thân khởi suy nghĩ: ‘Thân này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ chẳng khổ chẳng lạc, cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ không khổ, không lạc kia, là vô thường cho đến xả. Nếu những gì ở nơi thân và cảm thọ không khổ không lạc mà kết sử vô minh sử vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, đối với sắc yểm ly, đối với thọ, tưởng, hành, thức yểm ly. Đã yểm ly rồi, ly dục. Ly dục rồi, được giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:

Khi đang cảm giác lạc;
Không biết cảm giác lạc.
Vì kết sử tham dục,
Nên không thấy xuất ly.

Khi đang cảm giác khổ,
Không biết cảm giác khổ.
Vì kết sử sân nhuế,
Nên không thấy xuất ly.

Cảm thọ không lạc, khổ,
Đẳng Chánh Giác đã nói,
Người kia không thể biết,
Nên không qua bờ kia.

Nếu Tỳ-kheo tinh tấn,
Chánh trí không xiêu động;
Nơi tất cả thọ kia,
Trí tuệ đều biết hết.

Thường biết các thọ rồi,
Hiện tại hết các lậu;
Mạng chung nương trí tuệ,
Niết-bàn, không đọa lạc.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1029...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc