Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1001-1100
SA1079 Kinh 1079. bạt-chẩn
SA1001 Kinh 1001. xâm bức SA1002 Kinh 1002. đoạn trừ SA1003 Kinh 1003. tỉnh ngủ SA1004 Kinh 1004. hỗ tương hoan hỷ SA1005 Kinh 1005. người vật SA1006 Kinh 1006. yêu ai hơn con SA1007 Kinh 1007. sát-lợi SA1008 Kinh 1008. chủng tử SA1009 Kinh 1009. tâm SA1010 Kinh 1010. phược SA1011 Kinh 1011. yểm SA1012 Kinh 1012. vô minh SA1013 Kinh 1013. tín SA1014 Kinh 1014. đệ nhị SA1015 Kinh 1015. trì giới SA1016 Kinh 1016. chúng sanh (1) SA1017 Kinh 1017. chúng sanh (2) SA1018 Kinh 1018. chúng sanh (3) SA1019 Kinh 1019. phi đạo SA1020 Kinh 1020. vô thượng SA1021 Kinh 1021. kệ nhân SA1022 Kinh 1022. biết xe SA1023 Kinh 1023. phả-cầu-na SA1024 Kinh 1024. a-thấp-ba-thệ SA1025 Kinh 1025. tật bệnh (1) SA1026 Kinh 1026. tật bệnh (2) SA1027 Kinh 1027. tỳ-kheo bệnh SA1028 Kinh 1028. tật bệnh (3) SA1029 Kinh 1029. tật bệnh (4) SA1030 Kinh 1030. cấp cô độc (1) SA1031 Kinh 1031. cấp cô độc (2) SA1032 Kinh 1032. cấp cô độc (3) SA1033 Kinh 1033. đạt-ma-đề-ly SA1034 Kinh 1034. trường thọ SA1035 Kinh 1035. bà-tẩu SA1036 Kinh 1036. sa-la SA1037 Kinh 1037. da-thâu SA1038 Kinh 1038. ma-na-đề-na SA1039 Kinh 1039. thuần-đà SA1040 Kinh 1040. xả hành SA1041 Kinh 1041. sanh văn SA1042 Kinh 1042. bề-la-ma (1) SA1043 Kinh 1043. bề-la-ma (2) SA1044 Kinh 1044. bề-nữu-đa-la SA1045 Kinh 1045. tùy loại SA1046 Kinh 1046. xà hành SA1047 Kinh 1047. viên châu (1) SA1048 Kinh 1048. viên châu (2) SA1049 Kinh 1049. na nhân SA1050 Kinh 1050. pháp xuất không xuất SA1051 Kinh 1051. bờ kia bờ này SA1052 Kinh 1052. chân thật SA1053 Kinh 1053. ác pháp SA1054 Kinh 1054. pháp chân nhân SA1055 Kinh 1055. mười pháp (1) SA1056 Kinh 1056. mười pháp (2) SA1057 Kinh 1057. hai mươi pháp SA1058 Kinh 1058. ba mươi pháp SA1059 Kinh 1059. bốn mươi SA1060 Kinh 1060. pháp phi pháp khổ SA1061 Kinh 1061. phi luật chánh luật SA1062 Kinh 1062. thiện sanh SA1063 Kinh 1063. xú lậu SA1064 Kinh 1064. đề-bà SA1065 Kinh 1065. tượng thủ SA1066 Kinh 1066. nan-đà (1) SA1067 Kinh 1067. nan-đà (2) SA1068 Kinh 1068. đê-sa SA1069 Kinh 1069. tỳ-xá-khư SA1070 Kinh 1070. niên thiếu SA1071 Kinh 1071. trưởng lão SA1072 Kinh 1072. tăng-ca-lam SA1073 Kinh 1073. a-nan SA1074 Kinh 1074. bện tóc SA1075 Kinh 1075. đà-phiêu (1) SA1076 Kinh 1076. đà-phiêu (2) SA1077 Kinh 1077. giặc SA1078 Kinh 1078. tán-đảo-tra SA1079 Kinh 1079. bạt-chẩn SA1080 Kinh 1080. tàm quý SA1081 Kinh 1081. khổ chúng SA1082 Kinh 1082. ung nhọt SA1083 Kinh 1083. ăn củ rễ SA1084 Kinh 1084. trường thọ SA1085 Kinh 1085. thọ mạng SA1086 Kinh 1086. ma trói SA1087 Kinh 1087. ngủ nghỉ SA1088 Kinh 1088. kinh hành SA1089 Kinh 1089. đại long SA1090 Kinh 1090. ngủ yên SA1091 Kinh 1091. cù-đề-ca SA1092 Kinh 1092. ma nữ SA1093 Kinh 1093. tịnh bất tịnh SA1094 Kinh 1094. khổ hành SA1095 Kinh 1095. khất thực SA1096 Kinh 1096. sợi dây SA1097 Kinh 1097. thuyết pháp SA1098 Kinh 1098. làm vua SA1099 Kinh 1099. số đông SA1100 Kinh 1100. thiện giác
SA1079

Kinh 1079. bạt-chẩn

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo kia cuối đêm đến bên bờ sông Tháp-bổ, cởi y phục để trên bờ, xuống sông tắm rửa, tắm xong lên bờ khoác sơ một cái y đợi thân khô. Khi ấy có một Thiên tử từ thân tỏa ra ánh sáng, chiếu sáng bên sông Tháp-bổ, bảo Tỳ-kheo rằng:

“Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Đây là gò mả, ban đêm bốc khói, ban ngày bốc lửa. Người Bà-la-môn kia thấy vậy, nói rằng: ‘Hãy phá cái gò mả này đi. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy con rùa lớn. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi con rùa này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy có cái cù lâu, Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi cái cù lâu này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy có miếng thịt. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi miếng thịt này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy chỗ giết chóc. ‘Trừ đi chỗ giết chóc này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy cái lăng-kỳ, Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi cái lăng-kỳ này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy có hai đường. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi hai đường này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy có một cánh cửa. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi cánh cửa này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’

“Lại thấy có con rồng lớn. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Dừng lại, chớ bỏ qua con rồng to. Phải nên cung kính.’

“Này Tỳ-kheo, ông hãy đem luận này đến hỏi Thế Tôn. Như lời Phật dạy, ông theo đó thọ trì. Vì sao? Vì trừ Như Lai ra, tôi không thấy ai trong thế gian này, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa môn, Bà-la-môn nào, mà đối với luận này có tâm ưa thích. Trừ các đệ tử, hay những người nghe từ tôi rồi nói lại.”

Bấy giờ, vị Tỳ-kheo sau khi nghe luận này từ Thiên tử ấy, liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ Phật, rồi lui ngồi một bên. Tỳ-kheo đem các luận của Thiên tử kia hỏi Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, thế nào là gò mả? Thế nào là đêm thì bốc khói? Thế nào là ngày thì lửa cháy? Thế nào là Bà-la-môn? Thế nào là đào lên? Thế nào là người trí? Thế nào là gươm đao? Thế nào là con rùa lớn? Thế nào là cù lâu? Thế nào là miếng thịt? Thế nào là chỗ giết chóc? Thế nào là lăng-kỳ? Thế nào là hai đường? Thế nào là cánh cửa? Thế nào là con rồng lớn?”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Gò mả là cái thân sắc gồm sắc đại thô phù của chúng sanh, bẩm thọ di thể của cha mẹ, ăn uống, y phục che chở, tắm rửa trau chuốt, nuôi dưỡng. Tất cả đều là pháp biến hoại, ma diệt. Ban đêm bốc khói nghĩa là giữa đêm có người thức dậy tùy giác tùy quán. Ban ngày lửa cháy nghĩa là thực hành theo lời dạy tạo các nghiệp thân, miệng. Bà-la-môn nghĩa là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Đào lên, nghĩa là nỗ lực tinh tấn. Người trí nghĩa là đa văn Thánh đệ tử. Gươm đao là gươm đao trí tuệ. Con rùa lớn nghĩa là năm cái. Cù lâu nghĩa là phẫn hận. Khúc thịt là bỏn xẻn tật đố. Giết chóc nghĩa là công năng năm dục. Lăng-kỳ nghĩa là vô minh. Hai đường là nghi hoặc. Cánh cửa là ngã mạn. Con rồng to là bậc Lậu tận A-la-hán.

“Như vậy, này Tỳ-kheo, những gì Đại Sư cần làm cho đệ tử, do thương yêu, nghĩ tưởng đến, vì lợi ích mà an ủi. Đối với ông, việc Ta đã làm rồi. Các ông nên làm những việc cần làm. Hãy ở chỗ vắng trong rừng, trong nhà trống, chỗ núi non, nơi hẻo lánh, trong hang núi v.v… trải cỏ hoặc lá cây để ngồi, tư duy thiền định, không khởi buông lung, chớ để sau này phải hối tiếc. Đó là giáo huấn của Ta.”

Phật liền nói kệ:

Nói thân là gò mả,
Giác, quán đêm bốc khói;
Nghiệp là lửa ban ngày.

Bà-la-môn: Chánh giác.

Tinh tấn: chăm khai quật,
Người trí tuệ sáng suốt,
Dùng gươm bén trí tuệ.
Bậc thăng tiến, chán lìa.

Năm cái là rùa to,
Phẫn hận là cù lâu;
Xan tật là khúc thịt,
Năm dục, nơi giết chóc.

Vô minh là lăng-kỳ,
Nghi hoặc là hai đường;
Cánh cửa hiện ngã mạn,
Rồng, La-hán lậu tận.

Cứu cánh dứt các luận,
Nên Ta nói như vậy.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1080...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc