Vị chiến thắng không bại,
Vị bước đi trên đời, Không dấu tích chiến thắng,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi Bậc không để dấu tích?
Ai giải tỏa lưới tham,
Ái phược hết dắt dẫn,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi Bậc không để dấu tích?
Chuyện thể hiện thần thông nhiếp phục ngoại đạo
Người trí chuyên thiền định,
Thích an tịnh viễn ly,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc chánh giác, chánh niệm.
Chuyện long vương Erakapatta.
Khó thay, được làm người,
Khó thay, được sống còn,
Khó thay, nghe Diệu Pháp,
Khó thay, Phật ra đời!
Chuyện Trưởng lão Ānanda vấn đạo
Không làm mọi điều ác.
Thành tựu các hạnh lành,
Tâm ý giữ trong sạch,
Chính lời chư Phật dạy.
Chư Phật thường giảng dạy; Nhẫn, khổ hạnh tối thượng;
Niết-bàn quả tối thượng;
Xuất gia không phá người;
Sa môn không hại người.
Không phỉ báng, phá hoại,
Hộ trì giới căn bản,
Ăn uống có tiết độ,
Sàng tọa chỗ nhàn tịnh
Chuyên chú tăng thượng tâm,
Chính lời chư Phật dạy.
Chuyện vị Tỳ-kheo không hoan hỷ
Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Biết vậy là bậc trí.
Ðệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt.
Chuyện quốc sư Aggidatta
Loài người sợ hoảng hốt,
Tìm nhiều chỗ quy y,
Hoặc rừng rậm, núi non,
Hoặc vườn cây, đền tháp.
Quy y ấy không ổn,
Không quy y tối thượng.
Quy y các chỗ ấy,
Không thoát mọi khổ đau?
Ai quy y Ðức Phật,
Chánh Pháp và chư Tăng,
Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế.
Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ não tận.
Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau.
Chuyện Trưởng lão Ānanda vấn đạo
Khó gặp bậc thánh nhân,
Không phải đâu cũng có.
Chỗ nào bậc trí sanh,
Gia đình tất an lạc.
Chuyện chư Tỳ-kheo
Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay!
Chuyện bảo tháp Phật Kassapa (Ca-diếp)
Cúng dường bậc đáng cúng,
Chư Phật hoặc đệ tử,
Các bậc vượt hý luận,
Ðoạn diệt mọi sầu bi.
Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.
Hết phẩm Phật-đà
Hết phẩm
Yassa jitaṁ nāvajīyati,
Jitaṁ yassa noyāti koci loke;
Taṁ buddhamanantagocaraṁ,
Apadaṁ kena padena nessatha.
Yassa jālinī visattikā,
Taṇhā natthi kuhiñci netave;
Taṁ buddhamanantagocaraṁ,
Apadaṁ kena padena nessatha.
Devorohaṇavatthu
Ye jhānapasutā dhīrā,
nekkhammūpasame ratā;
Devāpi tesaṁ pihayanti,
sambuddhānaṁ satīmataṁ.
Erakapattanāgarājavatthu
Kiccho manussapaṭilābho,
kicchaṁ maccāna jīvitaṁ;
Kicchaṁ saddhammassavanaṁ,
kiccho buddhānamuppādo.
Ānandattherapañhavatthu
Sabbapāpassa akaraṇaṁ,
kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodapanaṁ,
etaṁ buddhāna sāsanaṁ.
Khantī paramaṁ tapo titikkhā,
Nibbānaṁ paramaṁ vadanti buddhā;
Na hi pabbajito parūpaghātī,
Na samaṇo hoti paraṁ viheṭhayanto.
Anūpavādo anūpaghāto,
Pātimokkhe ca saṁvaro;
Mattaññutā ca bhattasmiṁ,
Pantañca sayanāsanaṁ;
Adhicitte ca āyogo,
Etaṁ buddhāna sāsanaṁ.
Anabhiratabhikkhuvatthu
Na kahāpaṇavassena,
titti kāmesu vijjati;
Appassādā dukhā kāmā,
iti viññāya paṇḍito.
Api dibbesu kāmesu,
ratiṁ so nādhigacchati;
Taṇhakkhayarato hoti,
sammāsambuddhasāvako.
Aggidattabrāhmaṇavatthu
Bahuṁ ve saraṇaṁ yanti,
pabbatāni vanāni ca;
Ārāmarukkhacetyāni,
manussā bhayatajjitā.
Netaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,
netaṁ saraṇamuttamaṁ;
Netaṁ saraṇamāgamma,
sabbadukkhā pamuccati.
Yo ca buddhañca dhammañca,
saṅghañca saraṇaṁ gato;
Cattāri ariyasaccāni,
sammappaññāya passati.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Etaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,
etaṁ saraṇamuttamaṁ;
Etaṁ saraṇamāgamma,
sabbadukkhā pamuccati.
Ānandattherapañhavatthu
Dullabho purisājañño,
na so sabbattha jāyati;
Yattha so jāyati dhīro,
taṁ kulaṁ sukhamedhati.
Sambahulabhikkhuvatthu
Sukho buddhānamuppādo,
sukhā saddhammadesanā;
Sukhā saṅghassa sāmaggī,
samaggānaṁ tapo sukho.
Kassapadasabalassasuvaṇṇacetiyavatthu
Pūjārahe pūjayato,
buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.
Te tādise pūjayato,
nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ,
imettamapi kenaci.
Buddhavaggo cuddasamo.
Paṭhamabhāṇavāraṁ.
SC 179He whose victory cannot be undone,
A conquest no one in the world can pursue:
This is the Buddha, trackless in an endless field.
By what path would you guide him?
SC 180The one who has no snare,
No craving, no thirst to carry him anywhere:
This is the Buddha, trackless in an endless field.
By what path would you guide him?
SC 181The wise, intent on meditation,
Delighting in renunciation and calm,
Wholly awakened and mindful:
Even the gods envy them.
SC 182Difficult it is to gain a human birth;
Difficult is the life of mortals;
Difficult is the chance to hear the true Dhamma;
Difficult is the arising of Buddhas.
SC 183Doing no evil,
Undertaking the good,
Purifying one’s mind:
This is the teaching of the Buddhas.
SC 184One who hurts another is no monk.
One who harms another is no renunciant.
Patience and endurance make the highest asceticism.
The Buddhas teach that Nibbāna is supreme.
SC 185Not disparaging or hurting others,
Restrained by the precepts, moderate in food,
Dwelling in solitude, pursuing high states of mind:
This is the teaching of the Buddhas.
SC 186Not even by a rain of coins would people have their
fill of sense pleasures.
The wise one knows they satisfy little and cause
pain.
SC 187He does not even delight in heavenly pleasures.
The disciple of the Wholly Awakened One is
devoted to craving’s destruction.
SC 188People driven by fear seek many refuges,
Whether mountains, forests, or shrine parks.
SC 189But such a refuge is not safe, surely not supreme.
Arriving at such a refuge, one is not free from all
suffering.
SC 190But one who has gone for refuge to the Buddha, the
Dhamma, and the Sangha,
Sees, with true wisdom, the Four Noble Truths:
SC 191Suffering, the origin of suffering, the overcoming of
suffering,
And the Eightfold Path leading to the cessation of
suffering.
SC 192Truly, this refuge is safe, this refuge is supreme.
Having come to this refuge, one is truly freed from
all suffering.
SC 193A remarkable man is hard to find;
He is not born everywhere.
Where such a wise one is born
His family happily flourishes.
SC 194Happy the birth of the Buddhas;
Happy the teaching of the true Dhamma;
Happy the harmony of the Sangha;
Happy the austere practice of those in harmony.
SC 195If one venerates those worthy of veneration,
Buddhas or their disciples,
Beings who have transcended proliferations
And passed beyond grief and sorrow,
SC 196Beings who are free and fear nothing—
If one venerates such beings, the merit cannot be
measured.
Vị chiến thắng không bại,
Vị bước đi trên đời, Không dấu tích chiến thắng,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi Bậc không để dấu tích?
Ai giải tỏa lưới tham,
Ái phược hết dắt dẫn,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi Bậc không để dấu tích?
Chuyện thể hiện thần thông nhiếp phục ngoại đạo
Người trí chuyên thiền định,
Thích an tịnh viễn ly,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc chánh giác, chánh niệm.
Chuyện long vương Erakapatta.
Khó thay, được làm người,
Khó thay, được sống còn,
Khó thay, nghe Diệu Pháp,
Khó thay, Phật ra đời!
Chuyện Trưởng lão Ānanda vấn đạo
Không làm mọi điều ác.
Thành tựu các hạnh lành,
Tâm ý giữ trong sạch,
Chính lời chư Phật dạy.
Chư Phật thường giảng dạy; Nhẫn, khổ hạnh tối thượng;
Niết-bàn quả tối thượng;
Xuất gia không phá người;
Sa môn không hại người.
Không phỉ báng, phá hoại,
Hộ trì giới căn bản,
Ăn uống có tiết độ,
Sàng tọa chỗ nhàn tịnh
Chuyên chú tăng thượng tâm,
Chính lời chư Phật dạy.
Chuyện vị Tỳ-kheo không hoan hỷ
Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Biết vậy là bậc trí.
Ðệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt.
Chuyện quốc sư Aggidatta
Loài người sợ hoảng hốt,
Tìm nhiều chỗ quy y,
Hoặc rừng rậm, núi non,
Hoặc vườn cây, đền tháp.
Quy y ấy không ổn,
Không quy y tối thượng.
Quy y các chỗ ấy,
Không thoát mọi khổ đau?
Ai quy y Ðức Phật,
Chánh Pháp và chư Tăng,
Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế.
Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ não tận.
Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau.
Chuyện Trưởng lão Ānanda vấn đạo
Khó gặp bậc thánh nhân,
Không phải đâu cũng có.
Chỗ nào bậc trí sanh,
Gia đình tất an lạc.
Chuyện chư Tỳ-kheo
Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay!
Chuyện bảo tháp Phật Kassapa (Ca-diếp)
Cúng dường bậc đáng cúng,
Chư Phật hoặc đệ tử,
Các bậc vượt hý luận,
Ðoạn diệt mọi sầu bi.
Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.
Hết phẩm Phật-đà
Hết phẩm
Yassa jitaṁ nāvajīyati,
Jitaṁ yassa noyāti koci loke;
Taṁ buddhamanantagocaraṁ,
Apadaṁ kena padena nessatha.
Yassa jālinī visattikā,
Taṇhā natthi kuhiñci netave;
Taṁ buddhamanantagocaraṁ,
Apadaṁ kena padena nessatha.
Devorohaṇavatthu
Ye jhānapasutā dhīrā,
nekkhammūpasame ratā;
Devāpi tesaṁ pihayanti,
sambuddhānaṁ satīmataṁ.
Erakapattanāgarājavatthu
Kiccho manussapaṭilābho,
kicchaṁ maccāna jīvitaṁ;
Kicchaṁ saddhammassavanaṁ,
kiccho buddhānamuppādo.
Ānandattherapañhavatthu
Sabbapāpassa akaraṇaṁ,
kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodapanaṁ,
etaṁ buddhāna sāsanaṁ.
Khantī paramaṁ tapo titikkhā,
Nibbānaṁ paramaṁ vadanti buddhā;
Na hi pabbajito parūpaghātī,
Na samaṇo hoti paraṁ viheṭhayanto.
Anūpavādo anūpaghāto,
Pātimokkhe ca saṁvaro;
Mattaññutā ca bhattasmiṁ,
Pantañca sayanāsanaṁ;
Adhicitte ca āyogo,
Etaṁ buddhāna sāsanaṁ.
Anabhiratabhikkhuvatthu
Na kahāpaṇavassena,
titti kāmesu vijjati;
Appassādā dukhā kāmā,
iti viññāya paṇḍito.
Api dibbesu kāmesu,
ratiṁ so nādhigacchati;
Taṇhakkhayarato hoti,
sammāsambuddhasāvako.
Aggidattabrāhmaṇavatthu
Bahuṁ ve saraṇaṁ yanti,
pabbatāni vanāni ca;
Ārāmarukkhacetyāni,
manussā bhayatajjitā.
Netaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,
netaṁ saraṇamuttamaṁ;
Netaṁ saraṇamāgamma,
sabbadukkhā pamuccati.
Yo ca buddhañca dhammañca,
saṅghañca saraṇaṁ gato;
Cattāri ariyasaccāni,
sammappaññāya passati.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Etaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,
etaṁ saraṇamuttamaṁ;
Etaṁ saraṇamāgamma,
sabbadukkhā pamuccati.
Ānandattherapañhavatthu
Dullabho purisājañño,
na so sabbattha jāyati;
Yattha so jāyati dhīro,
taṁ kulaṁ sukhamedhati.
Sambahulabhikkhuvatthu
Sukho buddhānamuppādo,
sukhā saddhammadesanā;
Sukhā saṅghassa sāmaggī,
samaggānaṁ tapo sukho.
Kassapadasabalassasuvaṇṇacetiyavatthu
Pūjārahe pūjayato,
buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.
Te tādise pūjayato,
nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ,
imettamapi kenaci.
Buddhavaggo cuddasamo.
Paṭhamabhāṇavāraṁ.