Hỡi này Bà-la-môn, Hãy tinh tấn đoạn lòng,
Từ bỏ các dục lạc,
Biết được hành đoạn diệt,
Ngươi là bậc vô vi.
Chuyện chư Tỳ-kheo
Nhờ thường trú hai pháp
Ðến được bờ bên kia.
Bà-la-môn có trí,
Mọi kiết sử dứt sạch.
Chuyện Ma Vương
Không bờ này, bờ kia
Cả hai bờ không có,
Lìa khổ, không trói buộc
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện người Bà-la-môn
Tu thiền, trú ly trần
Phận sự xong, vô lậu,
Ðạt được đích tối thượng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Ānanda
Mặt trời sáng ban ngày,
Mặt trăng sáng ban đêm.
Khí giới sáng Sát-lỵ,
Thiền định sáng Phạm chí.
Còn hào quang đức Phật,
Chói sáng cả ngày đêm.
Chuyện một người xuất gia
Dứt ác gọi Phạm chí,
Tịnh hạnh gọi Sa-môn,
Tự mình xuất cấu uế,
Nên gọi bậc xuất gia.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Chớ có đập Phạm chí!
Phạm chí chớ đập lại!
Xấu thay đập Phạm chí
Đập trả lại xấu hơn!
Đối vị Bà-la-môn, Đây không lợi ích nhỏ.
Khi ý không ái luyến,
Tâm hại được chận đứng,
Chỉ khi ấy khổ diệt,
Chuyện Trưởng lão ni Mahā Pajāpatigotamī
Với người thân miệng ý,
Không làm các ác hạnh
Ba nghiệp được phòng hộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Từ ai, biết chánh pháp
Bậc Chánh Giác thuyết giảng,
Hãy kính lễ vị ấy,
Như phạm chí thờ lửa.
Chuyện Bà-la-môn Jātila
Được gọi Bà-la-môn, Không vì đầu bện tóc,
Không chủng tộc, thọ sanh,
Ai thật chân, chánh, tịnh,
Mới gọi Bà-la-môn.
Chuyện Bà-la-môn Kuhaka
Kẻ ngu, có ích gì
Bện tóc với da dê,
Nội tâm toàn phiền não,
Ngoài mặt đánh bóng suông.
Chuyện nàng Kisāgotamī
Người mặc áo đống rác,
Gầy ốm, lộ mạch gân,
Độc thân thiền trong rừng.
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện một vị Bà-la-môn
Ta không gọi Phạm chí,
Vì chỗ sanh, mẹ sanh.
Chỉ được gọi tên suông
Nếu tâm còn phiền não.
Không phiền não, chấp trước
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện con trai Trưởng giả Uggasena
Đoạn hết các kiết sử,
Không còn gì lo sợ
Không đắm trước buộc ràng
Ta gọi Bà-la-môn
Chuyện 2 vị Bà-la-môn
Bỏ đai da, bỏ cương
Bỏ dây, đồ sở thuộc,
Bỏ then chốt, sáng suốt,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Bà-la-môn Akkosaka Bhāradvāja
Không ác ý, nhẫn chịu,
Phỉ báng, đánh, phạt hình,
Lấy nhẫn làm quân lực,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Không hận, hết bổn phận,
Trì giới, không tham ái,
Nhiếp phục, thân cuối cùng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā
Như nước trên lá sen,
Như hột cải đầu kim,
Người không nhiễm ái dục,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện người Bà-la-môn
Ai tự trên đời này,
Giác khổ, diệt trừ khổ,
Bỏ gánh nặng, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Tỳ-kheo-ni Khemā
Người trí tuệ sâu xa,
Khéo biết đạo, phi đạo
Chứng đạt đích vô thượng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Tissa ngụ trong núi
Không liên hệ cả hai,
Xuất gia và thế tục,
Sống độc thân, ít dục,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện chư Tỳ-kheo
Bỏ trượng, đối chúng sanh,
Yếu kém hay kiên cường,
Không giết, không bảo giết,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện các Sa-di
Thân thiện giữa thù địch
Ôn hòa giữa hung hăng.
Không nhiễm, giữa nhiễm trước,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Mahā Panthaka
Người bỏ rơi tham sân,
Không mạn không ganh tị,
Như hột cải đầu kim,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Pilindavaccha
Nói lên lời ôn hòa,
Lợi ích và chân thật,
Không mất lòng một ai,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện một vị Tỳ-kheo
Ở đời, vật dài, ngắn,
Nhỏ, lớn, đẹp hay xấu
Phàm không cho không lấy,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Người không có hy cầu,
Đời này và đời sau,
Không hy cầu, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Mahā Moggallāna (Mục-kiền-liên)
Người không còn tham ái,
Có trí, không nghi hoặc,
Thể nhập vào bất tử,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Revata
Người sống ở đời này
Không nhiễm cả thiện ác,
Không sầu, sạch không bụi
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Candābha
Như trăng, sạch không uế
Sáng trong và tịnh lặng,
Hữu ái, được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sīvali
Vượt đường nguy hiểm này,
Nhiếp phục luân hồi, si,
Đến bờ kia thiền định
Không dục ái, không nghi,
Không chấp trước, tịch tịnh,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sundarasamudda
Ai ở đời, đoạn dục,
Bỏ nhà, sống xuất gia,
Dục hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Jaṭila
Ai ở đời đoạn ái
Bỏ nhà, sống xuất gia,
Ái hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Jotika
(dị bản)
(dị bản)
(dị bản)
(dị bản)
Chuyện vị Tỳ-kheo đã từng khiêu vũ
Bỏ trói buộc loài người,
Vượt trói buộc cõi trời.
Giải thoát mọi buộc ràng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện vị Tỳ-kheo đã từng khiêu vũ
Bỏ điều ưa, điều ghét,
Mát lạnh, diệt sanh y
Bậc anh hùng chiến thắng, Nhiếp phục mọi thế giới,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Vaṅgīsa
Ai hiểu rõ hoàn toàn
Sanh tử các chúng sanh,
Không nhiễm, khéo vượt qua, Sáng suốt chân giác ngộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Với ai, loài trời, người Cùng với Càn-thát-bà,
Không biết chỗ thọ sanh
Lậu tận bậc La-hán.
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão ni Dhammadinnā
Ai quá, hiện, vị lai
Không một sở hữu gì,
Không sở hữu không nắm,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Angulimāla
Bậc trâu chúa, thù thắng Bậc anh hùng, đại sĩ,
Bậc chiến thắng, không nhiễm,
Bậc tẩy sạch, giác ngộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Bà-la-môn Devahita
Ai biết được đời trước,
Thấy thiên giới, đọa xứ,
Đạt được sanh diệt tận
Thắng trí, tự viên thành Bậc mâu-ni đạo sĩ.
Viên mãn mọi thành tựu
Ta gọi Bà-la-môn.
Hết phẩm Bà-la-môn
Hết kinh Pháp Cú
Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Saṅkhārānaṁ khayaṁ ñatvā,
akataññūsi brāhmaṇa.
Sambahulabhikkhuvatthu
Yadā dvayesu dhammesu,
pāragū hoti brāhmaṇo;
Athassa sabbe saṁyogā,
atthaṁ gacchanti jānato.
Māravatthu
Yassa pāraṁ apāraṁ vā,
pārāpāraṁ na vijjati;
Vītaddaraṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Jhāyiṁ virajamāsīnaṁ,
katakiccamanāsavaṁ;
Uttamatthamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ānandattheravatthu
Divā tapati ādicco,
rattimābhāti candimā;
Sannaddho khattiyo tapati,
jhāyī tapati brāhmaṇo;
Atha sabbamahorattiṁ,
buddho tapati tejasā.
Aññatarabrāhmaṇapabbajitavatthu
Bāhitapāpoti brāhmaṇo,
Samacariyā samaṇoti vuccati;
Pabbājayamattano malaṁ,
Tasmā “pabbajito”ti vuccati.
Sāriputtattheravatthu
Na brāhmaṇassa pahareyya,
nāssa muñcetha brāhmaṇo;
Dhī brāhmaṇassa hantāraṁ,
tato dhī yassa muñcati.
Na brāhmaṇassetadakiñci seyyo,
Yadā nisedho manaso piyehi;
Yato yato hiṁsamano nivattati,
Tato tato sammatimeva dukkhaṁ.
Mahāpajāpatigotamīvatthu
Yassa kāyena vācāya,
manasā natthi dukkaṭaṁ;
Saṁvutaṁ tīhi ṭhānehi,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāriputtattheravatthu
Yamhā dhammaṁ vijāneyya,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sakkaccaṁ taṁ namasseyya,
aggihuttaṁva brāhmaṇo.
Jaṭilabrāhmaṇavatthu
Na jaṭāhi na gottena,
na jaccā hoti brāhmaṇo;
Yamhi saccañca dhammo ca,
so sucī so ca brāhmaṇo.
Kuhakabrāhmaṇavatthu
Kiṁ te jaṭāhi dummedha,
kiṁ te ajinasāṭiyā;
Abbhantaraṁ te gahanaṁ,
bāhiraṁ parimajjasi.
Kisāgotamīvatthu
Paṁsukūladharaṁ jantuṁ,
kisaṁ dhamanisanthataṁ;
Ekaṁ vanasmiṁ jhāyantaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ekabrāhmaṇavatthu
Na cāhaṁ brāhmaṇaṁ brūmi,
yonijaṁ mattisambhavaṁ;
Bhovādi nāma so hoti,
sace hoti sakiñcano;
Akiñcanaṁ anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Uggasenaseṭṭhiputtavatthu
Sabbasaṁyojanaṁ chetvā,
yo ve na paritassati;
Saṅgātigaṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Dvebrāhmaṇavatthu
Chetvā naddhiṁ varattañca,
sandānaṁ sahanukkamaṁ;
Ukkhittapalighaṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Akkosakabhāradvājavatthu
Akkosaṁ vadhabandhañca,
aduṭṭho yo titikkhati;
Khantībalaṁ balānīkaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāriputtattheravatthu
Akkodhanaṁ vatavantaṁ,
sīlavantaṁ anussadaṁ;
Dantaṁ antimasārīraṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Uppalavaṇṇāttherīvatthu
Vāri pokkharapatteva,
āraggeriva sāsapo;
Yo na limpati kāmesu,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Yo dukkhassa pajānāti,
idheva khayamattano;
Pannabhāraṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Khemābhikkhunīvatthu
Gambhīrapaññaṁ medhāviṁ,
maggāmaggassa kovidaṁ;
Uttamatthamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Pabbhāravāsitissattheravatthu
Asaṁsaṭṭhaṁ gahaṭṭhehi,
anāgārehi cūbhayaṁ;
Anokasārimappicchaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarabhikkhuvatthu
Nidhāya daṇḍaṁ bhūtesu,
tasesu thāvaresu ca;
Yo na hanti na ghāteti,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāmaṇerānaṁvatthu
Aviruddhaṁ viruddhesu,
attadaṇḍesu nibbutaṁ;
Sādānesu anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Mahāpanthakattheravatthu
Yassa rāgo ca doso ca,
māno makkho ca pātito;
Sāsaporiva āraggā,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Pilindavacchattheravatthu
Akakkasaṁ viññāpaniṁ,
giraṁ saccamudīraye;
Yāya nābhisaje kañci,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarattheravatthu
Yodha dīghaṁ va rassaṁ vā,
aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ;
Loke adinnaṁ nādiyati,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāriputtattheravatthu
Āsā yassa na vijjanti,
asmiṁ loke paramhi ca;
Nirāsāsaṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Mahāmoggallānattheravatthu
Yassālayā na vijjanti,
aññāya akathaṅkathī;
Amatogadhamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Revatattheravatthu
Yodha puññañca pāpañca,
ubho saṅgamupaccagā;
Asokaṁ virajaṁ suddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Candābhattheravatthu
Candaṁva vimalaṁ suddhaṁ,
vippasannamanāvilaṁ;
Nandībhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sīvalittheravatthu
Yomaṁ palipathaṁ duggaṁ,
saṁsāraṁ mohamaccagā;
Tiṇṇo pāraṅgato jhāyī,
anejo akathaṅkathī;
Anupādāya nibbuto,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sundarasamuddattheravatthu
Yodha kāme pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Kāmabhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Jaṭilattheravatthu
Yodha taṇhaṁ pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Jotikattheravatthu
Yodha taṇhaṁ pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Naṭaputtakattheravatthu
Hitvā mānusakaṁ yogaṁ,
dibbaṁ yogaṁ upaccagā;
Sabbayogavisaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Naṭaputtakattheravatthu
Hitvā ratiñca aratiñca,
sītibhūtaṁ nirūpadhiṁ;
Sabbalokābhibhuṁ vīraṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Vaṅgīsattheravatthu
Cutiṁ yo vedi sattānaṁ,
upapattiñca sabbaso;
Asattaṁ sugataṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Yassa gatiṁ na jānanti,
devā gandhabbamānusā;
Khīṇāsavaṁ arahantaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Dhammadinnāttherīvatthu
Yassa pure ca pacchā ca,
majjhe ca natthi kiñcanaṁ;
Akiñcanaṁ anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aṅgulimālattheravatthu
Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ,
mahesiṁ vijitāvinaṁ;
Anejaṁ nhātakaṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Devahitabrāhmaṇavatthu
Pubbenivāsaṁ yo vedi,
saggāpāyañca passati;
Atho jātikkhayaṁ patto,
abhiññāvosito muni;
Sabbavositavosānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Brāhmaṇavaggo chabbīsatimo.
Ettāvatā sabbapaṭhame yamakavagge cuddasa vatthūni, appamādavagge nava, cittavagge nava, pupphavagge dvādasa, bālavagge pannarasa, paṇḍitavagge ekādasa, arahantavagge dasa, sahassavagge cuddasa, pāpavagge dvādasa, daṇḍavagge ekādasa, jarāvagge nava, attavagge dasa, lokavagge ekādasa, buddhavagge nava, sukhavagge aṭṭha, piyavagge nava, kodhavagge aṭṭha, malavagge dvādasa, dhammaṭṭhavagge dasa, maggavagge dvādasa, pakiṇṇakavagge nava, nirayavagge nava, nāgavagge aṭṭha, taṇhāvagge dvādasa, bhikkhuvagge dvādasa, brāhmaṇavagge cattālīsāti pañcādhikāni tīṇi vatthusatāni.
Satevīsacatussatā,
catusaccavibhāvinā;
Satattayañca vatthūnaṁ,
pañcādhikaṁ samuṭṭhitāti.
Dhammapade vaggānamuddānaṁ
Yamakappamādo cittaṁ,
pupphaṁ bālena paṇḍito;
Arahanto sahassañca,
pāpaṁ daṇḍena te dasa.
Jarā attā ca loko ca,
buddho sukhaṁ piyena ca;
Kodho malañca dhammaṭṭho,
maggavaggena vīsati.
Pakiṇṇaṁ nirayo nāgo,
taṇhā bhikkhu ca brāhmaṇo;
Ete chabbīsati vaggā,
desitādiccabandhunā.
Gāthānamuddānaṁ
Yamake vīsati gāthā,
appamādamhi dvādasa;
Ekādasa cittavagge,
pupphavaggamhi soḷasa.
Bāle ca soḷasa gāthā,
paṇḍitamhi catuddasa;
Arahante dasa gāthā,
sahasse honti soḷasa.
Terasa pāpavaggamhi,
daṇḍamhi dasa satta ca;
Ekādasa jarā vagge,
attavaggamhi tā dasa.
Dvādasa lokavaggamhi,
buddhavaggamhi ṭhārasa;
Sukhe ca piyavagge ca,
gāthāyo honti dvādasa.
Cuddasa kodhavaggamhi,
malavaggekavīsati;
Sattarasa ca dhammaṭṭhe,
maggavagge sattarasa.
Pakiṇṇe soḷasa gāthā,
niraye nāge ca cuddasa;
Chabbīsa taṇhāvaggamhi,
tevīsa bhikkhuvaggikā.
Ekatālīsagāthāyo,
brāhmaṇe vaggamuttame;
Gāthāsatāni cattāri,
tevīsa ca punāpare;
Dhammapade nipātamhi,
desitādiccabandhunāti.
Dhammapadapāḷi samattā.
SC 383Strive, cut off the stream, O brahmin,
And drive out sensual craving.
Knowing the dissolution of conditioned things,
You, O brahmin, are a knower of the Uncreated.
SC 384When the brahmin has gone to the other shore
By the twofold practice (of serenity and insight), Then that sage’s every fetter falls away.
SC 385The one who is untroubled and beyond fear,
For whom there exists neither this nor the other
shore,
Nor both this and the other shore:
That one I proclaim a brahmin.
SC 386The pure one who sits absorbed in meditation,
Who has done what ought to be done,
Who is without toxins, having obtained the highest
attainment:
That one I proclaim a brahmin.
SC 387The sun shines by day, the moon by night;
In armor shines the warrior, in meditation the
brahmin.
But all day and night the Buddha shines in splendor.
SC 388One who has warded off evil is a brahmin.
One who lives in tranquility is a renunciant.
One who has driven out one’s own impurities
Is called gone forth.
SC 389Strike not a brahmin,
Nor should a brahmin give way to anger.
Shame on those who would strike a brahmin,
And greater shame on the brahmin who gives way
to anger.
SC 390For the brahmin, there is nothing better
Than restraining his mind from what it cherishes.
Whenever he turns away from the desire to harm,
He thereby appeases suffering.
SC 391The one who does no wrong in body, speech, and
mind,
Who is restrained in these three ways:
That one I proclaim a brahmin.
SC 392You should venerate your teacher by whom
You learned the true Dhamma,
Taught by the Perfectly Awakened One,
Like a brahmin venerates the sacrificial fire.
SC 393Neither by matted hair, nor ancestry, nor birth is
one a brahmin.
The brahmin is the one with whom there is the
truth, purity, and the Dhamma.
SC 394What of your matted hair, O fool?
What of your deerskin clothes?
You are a tangled thicket within,
Yet you groom the exterior!
SC 395The one wearing rags from a dust heap,
Emaciated, with veins exposed,
Alone in the forest, absorbed in meditation:
That one I proclaim a brahmin.
SC 396I do not proclaim a brahmin
Simply by being born of the womb, sprung from a
mother.
If he possesses something he is only called self-
important.
The one who has nothing, who is free from clinging:
That one I proclaim a brahmin.
SC 397The one who has overcome clinging and cut off
every fetter,
Who has overcome clinging and trembles not;
One unbound:
That one I proclaim a brahmin.
SC 398The one awakened,
Having cut off strap and thong,
The cord together with the bridle,
Having lifted the crossbar:
That one I proclaim a brahmin.
SC 399The one who endures insult, binding and beating
without anger,
Whose strength is forbearance, an army’s strength:
That one I proclaim a brahmin.
SC 400The one who is free of anger, who observes the
practice,
Who is virtuous, restrained, and humble,
Who is in the final body:
That one I proclaim a brahmin.
SC 401The one who is unsmeared by sensual craving,
Like water on a lotus leaf,
The one who is like a mustard seed on the point of an
awl:
That one I proclaim a brahmin.
SC 402The one who realizes the dissolution of suffering,
Who has laid down the burden,
Who is unbound:
That one I proclaim a brahmin.
SC 403The one endowed with intelligence and deep
knowledge,
Who knows what is and is not the path,
Who has attained the highest goal:
That one I proclaim a brahmin.
SC 404The one who is not given to society with
householders or monks,
Who is homeless and wants little:
That one I proclaim a brahmin.
SC 405The one who has set down the rod
Toward both the trembling and the firm,
Who does not kill or cause another to kill:
That one I proclaim a brahmin.
SC 406The one unhindered among the obstructed,
Cool among those who take up the rod,
Free from clinging among the attached:
That one I proclaim a brahmin.
SC 407The one who has made passion, ill will,
Conceit, and hypocrisy all fall away,
The one who is like a mustard seed on the point of an
awl:
That one I proclaim a brahmin.
SC 408The one who would utter words that are true,
Instructive, and gentle;
Words that would anger no one:
That one I proclaim a brahmin.
SC 409The one who does not take what is not given here
in the world,
Be it long or short, small or large, beautiful or ugly:
That one I proclaim a brahmin.
SC 410The one whose hopes are found
Neither in this world nor the next,
Who is independent, unyoked:
That one I proclaim a brahmin.
SC 411The one without attachments,
Who by knowing is without doubts,
Who has attained immersion into the Deathless:
That one I proclaim a brahmin.
SC 412The one who clings not to merit or demerit,
Who is free from sorrow, is dustless and pure:
That one I proclaim a brahmin.
SC 413The one who is like the moon,
Spotless, pure, unsullied, perfectly clear,
For whom the delight for becoming is exhausted:
That one I proclaim a brahmin.
SC 414The one who has transcended this mire,
This bad road, this wandering, and delusion,
Who has crossed to the other shore, emancipated,
Who meditates, free from craving, clinging, and
doubt:
That one I proclaim a brahmin.
SC 415The one, having renounced sensual desires,
Would wander about homeless,
His passions and becoming destroyed:
That one I proclaim a brahmin.
SC 416The one, having renounced craving,
Would wander about homeless,
His craving and becoming destroyed:
That one I proclaim a brahmin.
SC 417The one who, having abandoned the human bond
And transcended the divine one,
Who is indeed released from all bonds:
That one I proclaim a brahmin.
SC 418One who, having left behind attraction and
aversion,
Being tranquil, without attachments,
A hero, overcoming the whole world:
That one I proclaim a brahmin.
SC 419The one who has realized the dissipation and arising
of beings,
Who is unattached, well-gone, awakened:
That one I proclaim a brahmin.
SC 420The one whose course gods, divine musicians,
And humans do not know,
Whose toxins are destroyed, an arahant:
That one I proclaim a brahmin.
SC 421The one for whom there is nothing in front,
Behind, and in between,
Who, having nothing, is free from clinging:
That one I proclaim a brahmin.
SC 422The excellent one who is a bull, a hero,
A great sage, a conqueror, free of craving,
The one who has taken the (ritual) bath,
Who is now awake:
That one I proclaim a brahmin.
SC 423The one who knows his former lives,
And sees the heavens and hells,
Who has attained the end of birth,
And obtained the higher knowledge,
The sage who has achieved all accomplishments:
That one I proclaim a brahmin.
Hỡi này Bà-la-môn, Hãy tinh tấn đoạn lòng,
Từ bỏ các dục lạc,
Biết được hành đoạn diệt,
Ngươi là bậc vô vi.
Chuyện chư Tỳ-kheo
Nhờ thường trú hai pháp
Ðến được bờ bên kia.
Bà-la-môn có trí,
Mọi kiết sử dứt sạch.
Chuyện Ma Vương
Không bờ này, bờ kia
Cả hai bờ không có,
Lìa khổ, không trói buộc
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện người Bà-la-môn
Tu thiền, trú ly trần
Phận sự xong, vô lậu,
Ðạt được đích tối thượng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Ānanda
Mặt trời sáng ban ngày,
Mặt trăng sáng ban đêm.
Khí giới sáng Sát-lỵ,
Thiền định sáng Phạm chí.
Còn hào quang đức Phật,
Chói sáng cả ngày đêm.
Chuyện một người xuất gia
Dứt ác gọi Phạm chí,
Tịnh hạnh gọi Sa-môn,
Tự mình xuất cấu uế,
Nên gọi bậc xuất gia.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Chớ có đập Phạm chí!
Phạm chí chớ đập lại!
Xấu thay đập Phạm chí
Đập trả lại xấu hơn!
Đối vị Bà-la-môn, Đây không lợi ích nhỏ.
Khi ý không ái luyến,
Tâm hại được chận đứng,
Chỉ khi ấy khổ diệt,
Chuyện Trưởng lão ni Mahā Pajāpatigotamī
Với người thân miệng ý,
Không làm các ác hạnh
Ba nghiệp được phòng hộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Từ ai, biết chánh pháp
Bậc Chánh Giác thuyết giảng,
Hãy kính lễ vị ấy,
Như phạm chí thờ lửa.
Chuyện Bà-la-môn Jātila
Được gọi Bà-la-môn, Không vì đầu bện tóc,
Không chủng tộc, thọ sanh,
Ai thật chân, chánh, tịnh,
Mới gọi Bà-la-môn.
Chuyện Bà-la-môn Kuhaka
Kẻ ngu, có ích gì
Bện tóc với da dê,
Nội tâm toàn phiền não,
Ngoài mặt đánh bóng suông.
Chuyện nàng Kisāgotamī
Người mặc áo đống rác,
Gầy ốm, lộ mạch gân,
Độc thân thiền trong rừng.
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện một vị Bà-la-môn
Ta không gọi Phạm chí,
Vì chỗ sanh, mẹ sanh.
Chỉ được gọi tên suông
Nếu tâm còn phiền não.
Không phiền não, chấp trước
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện con trai Trưởng giả Uggasena
Đoạn hết các kiết sử,
Không còn gì lo sợ
Không đắm trước buộc ràng
Ta gọi Bà-la-môn
Chuyện 2 vị Bà-la-môn
Bỏ đai da, bỏ cương
Bỏ dây, đồ sở thuộc,
Bỏ then chốt, sáng suốt,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Bà-la-môn Akkosaka Bhāradvāja
Không ác ý, nhẫn chịu,
Phỉ báng, đánh, phạt hình,
Lấy nhẫn làm quân lực,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Không hận, hết bổn phận,
Trì giới, không tham ái,
Nhiếp phục, thân cuối cùng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā
Như nước trên lá sen,
Như hột cải đầu kim,
Người không nhiễm ái dục,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện người Bà-la-môn
Ai tự trên đời này,
Giác khổ, diệt trừ khổ,
Bỏ gánh nặng, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Tỳ-kheo-ni Khemā
Người trí tuệ sâu xa,
Khéo biết đạo, phi đạo
Chứng đạt đích vô thượng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Tissa ngụ trong núi
Không liên hệ cả hai,
Xuất gia và thế tục,
Sống độc thân, ít dục,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện chư Tỳ-kheo
Bỏ trượng, đối chúng sanh,
Yếu kém hay kiên cường,
Không giết, không bảo giết,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện các Sa-di
Thân thiện giữa thù địch
Ôn hòa giữa hung hăng.
Không nhiễm, giữa nhiễm trước,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Mahā Panthaka
Người bỏ rơi tham sân,
Không mạn không ganh tị,
Như hột cải đầu kim,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Pilindavaccha
Nói lên lời ôn hòa,
Lợi ích và chân thật,
Không mất lòng một ai,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện một vị Tỳ-kheo
Ở đời, vật dài, ngắn,
Nhỏ, lớn, đẹp hay xấu
Phàm không cho không lấy,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Người không có hy cầu,
Đời này và đời sau,
Không hy cầu, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Mahā Moggallāna (Mục-kiền-liên)
Người không còn tham ái,
Có trí, không nghi hoặc,
Thể nhập vào bất tử,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Revata
Người sống ở đời này
Không nhiễm cả thiện ác,
Không sầu, sạch không bụi
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Candābha
Như trăng, sạch không uế
Sáng trong và tịnh lặng,
Hữu ái, được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sīvali
Vượt đường nguy hiểm này,
Nhiếp phục luân hồi, si,
Đến bờ kia thiền định
Không dục ái, không nghi,
Không chấp trước, tịch tịnh,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Sundarasamudda
Ai ở đời, đoạn dục,
Bỏ nhà, sống xuất gia,
Dục hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Jaṭila
Ai ở đời đoạn ái
Bỏ nhà, sống xuất gia,
Ái hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Jotika
(dị bản)
(dị bản)
(dị bản)
(dị bản)
Chuyện vị Tỳ-kheo đã từng khiêu vũ
Bỏ trói buộc loài người,
Vượt trói buộc cõi trời.
Giải thoát mọi buộc ràng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện vị Tỳ-kheo đã từng khiêu vũ
Bỏ điều ưa, điều ghét,
Mát lạnh, diệt sanh y
Bậc anh hùng chiến thắng, Nhiếp phục mọi thế giới,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Vaṅgīsa
Ai hiểu rõ hoàn toàn
Sanh tử các chúng sanh,
Không nhiễm, khéo vượt qua, Sáng suốt chân giác ngộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Với ai, loài trời, người Cùng với Càn-thát-bà,
Không biết chỗ thọ sanh
Lậu tận bậc La-hán.
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão ni Dhammadinnā
Ai quá, hiện, vị lai
Không một sở hữu gì,
Không sở hữu không nắm,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Trưởng lão Angulimāla
Bậc trâu chúa, thù thắng Bậc anh hùng, đại sĩ,
Bậc chiến thắng, không nhiễm,
Bậc tẩy sạch, giác ngộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Chuyện Bà-la-môn Devahita
Ai biết được đời trước,
Thấy thiên giới, đọa xứ,
Đạt được sanh diệt tận
Thắng trí, tự viên thành Bậc mâu-ni đạo sĩ.
Viên mãn mọi thành tựu
Ta gọi Bà-la-môn.
Hết phẩm Bà-la-môn
Hết kinh Pháp Cú
Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Saṅkhārānaṁ khayaṁ ñatvā,
akataññūsi brāhmaṇa.
Sambahulabhikkhuvatthu
Yadā dvayesu dhammesu,
pāragū hoti brāhmaṇo;
Athassa sabbe saṁyogā,
atthaṁ gacchanti jānato.
Māravatthu
Yassa pāraṁ apāraṁ vā,
pārāpāraṁ na vijjati;
Vītaddaraṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Jhāyiṁ virajamāsīnaṁ,
katakiccamanāsavaṁ;
Uttamatthamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ānandattheravatthu
Divā tapati ādicco,
rattimābhāti candimā;
Sannaddho khattiyo tapati,
jhāyī tapati brāhmaṇo;
Atha sabbamahorattiṁ,
buddho tapati tejasā.
Aññatarabrāhmaṇapabbajitavatthu
Bāhitapāpoti brāhmaṇo,
Samacariyā samaṇoti vuccati;
Pabbājayamattano malaṁ,
Tasmā “pabbajito”ti vuccati.
Sāriputtattheravatthu
Na brāhmaṇassa pahareyya,
nāssa muñcetha brāhmaṇo;
Dhī brāhmaṇassa hantāraṁ,
tato dhī yassa muñcati.
Na brāhmaṇassetadakiñci seyyo,
Yadā nisedho manaso piyehi;
Yato yato hiṁsamano nivattati,
Tato tato sammatimeva dukkhaṁ.
Mahāpajāpatigotamīvatthu
Yassa kāyena vācāya,
manasā natthi dukkaṭaṁ;
Saṁvutaṁ tīhi ṭhānehi,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāriputtattheravatthu
Yamhā dhammaṁ vijāneyya,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sakkaccaṁ taṁ namasseyya,
aggihuttaṁva brāhmaṇo.
Jaṭilabrāhmaṇavatthu
Na jaṭāhi na gottena,
na jaccā hoti brāhmaṇo;
Yamhi saccañca dhammo ca,
so sucī so ca brāhmaṇo.
Kuhakabrāhmaṇavatthu
Kiṁ te jaṭāhi dummedha,
kiṁ te ajinasāṭiyā;
Abbhantaraṁ te gahanaṁ,
bāhiraṁ parimajjasi.
Kisāgotamīvatthu
Paṁsukūladharaṁ jantuṁ,
kisaṁ dhamanisanthataṁ;
Ekaṁ vanasmiṁ jhāyantaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ekabrāhmaṇavatthu
Na cāhaṁ brāhmaṇaṁ brūmi,
yonijaṁ mattisambhavaṁ;
Bhovādi nāma so hoti,
sace hoti sakiñcano;
Akiñcanaṁ anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Uggasenaseṭṭhiputtavatthu
Sabbasaṁyojanaṁ chetvā,
yo ve na paritassati;
Saṅgātigaṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Dvebrāhmaṇavatthu
Chetvā naddhiṁ varattañca,
sandānaṁ sahanukkamaṁ;
Ukkhittapalighaṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Akkosakabhāradvājavatthu
Akkosaṁ vadhabandhañca,
aduṭṭho yo titikkhati;
Khantībalaṁ balānīkaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāriputtattheravatthu
Akkodhanaṁ vatavantaṁ,
sīlavantaṁ anussadaṁ;
Dantaṁ antimasārīraṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Uppalavaṇṇāttherīvatthu
Vāri pokkharapatteva,
āraggeriva sāsapo;
Yo na limpati kāmesu,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Yo dukkhassa pajānāti,
idheva khayamattano;
Pannabhāraṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Khemābhikkhunīvatthu
Gambhīrapaññaṁ medhāviṁ,
maggāmaggassa kovidaṁ;
Uttamatthamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Pabbhāravāsitissattheravatthu
Asaṁsaṭṭhaṁ gahaṭṭhehi,
anāgārehi cūbhayaṁ;
Anokasārimappicchaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarabhikkhuvatthu
Nidhāya daṇḍaṁ bhūtesu,
tasesu thāvaresu ca;
Yo na hanti na ghāteti,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāmaṇerānaṁvatthu
Aviruddhaṁ viruddhesu,
attadaṇḍesu nibbutaṁ;
Sādānesu anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Mahāpanthakattheravatthu
Yassa rāgo ca doso ca,
māno makkho ca pātito;
Sāsaporiva āraggā,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Pilindavacchattheravatthu
Akakkasaṁ viññāpaniṁ,
giraṁ saccamudīraye;
Yāya nābhisaje kañci,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aññatarattheravatthu
Yodha dīghaṁ va rassaṁ vā,
aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ;
Loke adinnaṁ nādiyati,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sāriputtattheravatthu
Āsā yassa na vijjanti,
asmiṁ loke paramhi ca;
Nirāsāsaṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Mahāmoggallānattheravatthu
Yassālayā na vijjanti,
aññāya akathaṅkathī;
Amatogadhamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Revatattheravatthu
Yodha puññañca pāpañca,
ubho saṅgamupaccagā;
Asokaṁ virajaṁ suddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Candābhattheravatthu
Candaṁva vimalaṁ suddhaṁ,
vippasannamanāvilaṁ;
Nandībhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sīvalittheravatthu
Yomaṁ palipathaṁ duggaṁ,
saṁsāraṁ mohamaccagā;
Tiṇṇo pāraṅgato jhāyī,
anejo akathaṅkathī;
Anupādāya nibbuto,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Sundarasamuddattheravatthu
Yodha kāme pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Kāmabhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Jaṭilattheravatthu
Yodha taṇhaṁ pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Jotikattheravatthu
Yodha taṇhaṁ pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Naṭaputtakattheravatthu
Hitvā mānusakaṁ yogaṁ,
dibbaṁ yogaṁ upaccagā;
Sabbayogavisaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Naṭaputtakattheravatthu
Hitvā ratiñca aratiñca,
sītibhūtaṁ nirūpadhiṁ;
Sabbalokābhibhuṁ vīraṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Vaṅgīsattheravatthu
Cutiṁ yo vedi sattānaṁ,
upapattiñca sabbaso;
Asattaṁ sugataṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Yassa gatiṁ na jānanti,
devā gandhabbamānusā;
Khīṇāsavaṁ arahantaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Dhammadinnāttherīvatthu
Yassa pure ca pacchā ca,
majjhe ca natthi kiñcanaṁ;
Akiñcanaṁ anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Aṅgulimālattheravatthu
Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ,
mahesiṁ vijitāvinaṁ;
Anejaṁ nhātakaṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Devahitabrāhmaṇavatthu
Pubbenivāsaṁ yo vedi,
saggāpāyañca passati;
Atho jātikkhayaṁ patto,
abhiññāvosito muni;
Sabbavositavosānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Brāhmaṇavaggo chabbīsatimo.
Ettāvatā sabbapaṭhame yamakavagge cuddasa vatthūni, appamādavagge nava, cittavagge nava, pupphavagge dvādasa, bālavagge pannarasa, paṇḍitavagge ekādasa, arahantavagge dasa, sahassavagge cuddasa, pāpavagge dvādasa, daṇḍavagge ekādasa, jarāvagge nava, attavagge dasa, lokavagge ekādasa, buddhavagge nava, sukhavagge aṭṭha, piyavagge nava, kodhavagge aṭṭha, malavagge dvādasa, dhammaṭṭhavagge dasa, maggavagge dvādasa, pakiṇṇakavagge nava, nirayavagge nava, nāgavagge aṭṭha, taṇhāvagge dvādasa, bhikkhuvagge dvādasa, brāhmaṇavagge cattālīsāti pañcādhikāni tīṇi vatthusatāni.
Satevīsacatussatā,
catusaccavibhāvinā;
Satattayañca vatthūnaṁ,
pañcādhikaṁ samuṭṭhitāti.
Dhammapade vaggānamuddānaṁ
Yamakappamādo cittaṁ,
pupphaṁ bālena paṇḍito;
Arahanto sahassañca,
pāpaṁ daṇḍena te dasa.
Jarā attā ca loko ca,
buddho sukhaṁ piyena ca;
Kodho malañca dhammaṭṭho,
maggavaggena vīsati.
Pakiṇṇaṁ nirayo nāgo,
taṇhā bhikkhu ca brāhmaṇo;
Ete chabbīsati vaggā,
desitādiccabandhunā.
Gāthānamuddānaṁ
Yamake vīsati gāthā,
appamādamhi dvādasa;
Ekādasa cittavagge,
pupphavaggamhi soḷasa.
Bāle ca soḷasa gāthā,
paṇḍitamhi catuddasa;
Arahante dasa gāthā,
sahasse honti soḷasa.
Terasa pāpavaggamhi,
daṇḍamhi dasa satta ca;
Ekādasa jarā vagge,
attavaggamhi tā dasa.
Dvādasa lokavaggamhi,
buddhavaggamhi ṭhārasa;
Sukhe ca piyavagge ca,
gāthāyo honti dvādasa.
Cuddasa kodhavaggamhi,
malavaggekavīsati;
Sattarasa ca dhammaṭṭhe,
maggavagge sattarasa.
Pakiṇṇe soḷasa gāthā,
niraye nāge ca cuddasa;
Chabbīsa taṇhāvaggamhi,
tevīsa bhikkhuvaggikā.
Ekatālīsagāthāyo,
brāhmaṇe vaggamuttame;
Gāthāsatāni cattāri,
tevīsa ca punāpare;
Dhammapade nipātamhi,
desitādiccabandhunāti.
Dhammapadapāḷi samattā.