Ðêm dài cho kẻ thức,
Ðường dài cho kẻ mệt,
Luân hồi dài, kẻ ngu,
Không biết chơn diệu pháp.
Chuyện đệ tử của Trưởng lão Mahā Kassapa (Ca-diếp)
Tìm không được bạn đường,
Hơn mình hay bằng mình,
Thà quyết sống một mình,
Không làm bạn kẻ ngu.
Chuyện Trưởng giả Ānanda
“Con tôi, tài sản tôi”,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?
Chuyện tên trộm
Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu.
Chuyện Trưởng lão Udāyi
Người ngu, dầu trọn đời,
Thân cận người có trí,
Không biết được Chánh pháp,
Như muỗng với vị canh.
Chuyện nhóm Tỳ-kheo ở xứ Pāveyyaka
Người trí, dù một khắc,
Thân cận người có trí,
Biết ngay chân diệu pháp,
Như lưỡi với vị canh.
Chuyện ông Suppabuddhakuṭṭhi (Thiện Giác cùi)
Người ngu si thiếu trí,
Tự ngã thành kẻ thù.
Làm các nghiệp không thiện,
Phải chịu quả đắng cay.
Chuyện người nông phu mắc cạn
Nghiệp làm không chánh thiện,
Làm rồi sanh ăn năn,
Mặt nhuốm lệ, khóc than,
Lãnh chịu quả dị thục.
Chuyện người kết tràng hoa Sumana (Hảo Ý)
Và nghiệp làm chánh thiện,
Làm rồi không ăn năn,
Hoan hỷ, ý đẹp lòng,
Hưởng thọ quả dị thục.
Chuyện Thánh nữ Uppalavaṇṇā (Thanh Liên Sắc)
Người ngu nghĩ là ngọt,
Khi ác chưa chín muồi;
Ác nghiệp chín muồi rồi,
Người ngu chịu khổ đau.
Chuyện tu sĩ ngoại đạo Jambūka (Hào Cẩu)
Tháng tháng với ngọn cỏ,
Người ngu có ăn uống
Không bằng phần mười sáu,
Người hiểu pháp hữu vi.
Chuyện ngạ quỷ mình rắn
Nghiệp ác đã được làm,
Như sữa, không đông ngay,
Cháy ngầm theo kẻ ngu,
Như lửa tro che đậy.
Chuyện ngạ quỷ bị búa đập đầu
Tự nó chịu bất hạnh,
Khi danh đến kẻ ngu.
Vận may bị tổn hại,
Ðầu nó bị nát tan.
Chuyện Trưởng lão Suddhamma (Thiện Pháp)
Ưa danh không tương xứng,
Muốn ngồi trước tỳ-kheo,
ưa quyền tại tịnh xá,
Muốn mọi người lễ kính.
“Mong cả hai tăng, tục,
Nghĩ rằng chính ta làm.
Trong mọi việc lớn nhỏ,
Phải theo mệnh lệnh ta”
Người ngu nghĩ như vậy
Dục và mạn tăng trưởng.
Chuyện Trưởng lão Tissa ở rừng Vanavāsi
Khác thay duyên thế lợi,
Khác thay đường Niết-bàn.
Tỳ-kheo, đệ tử Phật,
Hãy như vậy thắng tri.
Chớ ưa thích cung kính,
Hãy tu hạnh viễn ly.
Hết phẩm Ngu
Dīghā jāgarato ratti,
dīghaṁ santassa yojanaṁ;
Dīgho bālāna saṁsāro,
saddhammaṁ avijānataṁ.
Mahākassapasaddhivihārikavatthu
Carañce nādhigaccheyya,
Seyyaṁ sadisamattano;
Ekacariyaṁ daḷhaṁ kayirā,
Natthi bāle sahāyatā.
Ānandaseṭṭhivatthu
Puttā matthi dhanaṁ matthi,
iti bālo vihaññati;
Attā hi attano natthi,
kuto puttā kuto dhanaṁ.
Gaṇṭhibhedakacoravatthu
Yo bālo maññati bālyaṁ,
paṇḍito vāpi tena so;
Bālo ca paṇḍitamānī,
sa ve “bālo”ti vuccati.
Udāyittheravatthu
Yāvajīvampi ce bālo,
paṇḍitaṁ payirupāsati;
Na so dhammaṁ vijānāti,
dabbī sūparasaṁ yathā.
Tiṁsapāveyyakabhikkhuvatthu
Muhuttamapi ce viññū,
paṇḍitaṁ payirupāsati;
Khippaṁ dhammaṁ vijānāti,
jivhā sūparasaṁ yathā.
Suppabuddhakuṭṭhivatthu
Caranti bālā dummedhā,
amitteneva attanā;
Karontā pāpakaṁ kammaṁ,
yaṁ hoti kaṭukapphalaṁ.
Kassakavatthu
Na taṁ kammaṁ kataṁ sādhu,
yaṁ katvā anutappati;
Yassa assumukho rodaṁ,
vipākaṁ paṭisevati.
Sumanamālākāravatthu
Tañca kammaṁ kataṁ sādhu,
yaṁ katvā nānutappati;
Yassa patīto sumano,
vipākaṁ paṭisevati.
Uppalavaṇṇattherīvatthu
Madhuṁvā maññati bālo,
yāva pāpaṁ na paccati;
Yadā ca paccati pāpaṁ,
atha dukkhaṁ nigacchati.
Jambukattheravatthu
Māse māse kusaggena,
bālo bhuñjeyya bhojanaṁ;
Na so saṅkhātadhammānaṁ,
kalaṁ agghati soḷasiṁ.
Ahipetavatthu
Na hi pāpaṁ kataṁ kammaṁ,
Sajjukhīraṁva muccati;
Ḍahantaṁ bālamanveti,
Bhasmacchannova pāvako.
Saṭṭhikūṭapetavatthu
Yāvadeva anatthāya,
ñattaṁ bālassa jāyati;
Hanti bālassa sukkaṁsaṁ,
muddhamassa vipātayaṁ.
Cittagahapativatthu
Asantaṁ bhāvanamiccheyya,
Purekkhārañca bhikkhusu;
Āvāsesu ca issariyaṁ,
Pūjaṁ parakulesu ca.
Mameva kata maññantu,
gihī pabbajitā ubho;
Mamevātivasā assu,
kiccākiccesu kismici;
Iti bālassa saṅkappo,
icchā māno ca vaḍḍhati.
Vanavāsitissasāmaṇeravatthu
Aññā hi lābhūpanisā,
aññā nibbānagāminī;
Evametaṁ abhiññāya,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Sakkāraṁ nābhinandeyya,
vivekamanubrūhaye.
Bālavaggo pañcamo.
SC 60Long is the night for the wakeful,
Long is a trek for the weary,
Long is samsara for fools,
Who do not understand the true Dhamma.
SC 61If a traveler should not find another better or equal
to himself,
Then he should resolutely travel alone.
With fools there is no companionship.
SC 62The fool worries: “I have sons, I have wealth.” He does not even possess himself.
How then sons? How then wealth?
SC 63A fool who considers himself foolish is,
In this, like a sage.
But a fool who is proud of his cleverness
Is truly called fool.
SC 64A fool who spends a lifetime attending on a sage,
Will not apprehend the Dhamma,
Just as a spoon can never know the soup’s flavor.
SC 65An intelligent person who attends on a sage,
Even for a moment,
Will quickly apprehend the Dhamma,
Like the tongue perceiving the soup’s flavor.
SC 66Thoughtless fools act as their own enemies,
Doing evil deeds that bear bitter fruit.
SC 67That deed is not well-done,
Which one regrets when accomplished,
Which results in crying and a tear-streaked face.
SC 68That deed is well-done,
Which one does not regret when accomplished,
Which results in delight and joy.
SC 69As long as evil has not ripened,
The fool thinks it honey;
When evil ripens, the fool suffers.
SC 70Though month after month
He may eat his food with the tip of the grass blade,
The fool is not worth a fraction
Of one who has realized the Dhamma.
SC 71Indeed, like fresh milk,
An evil deed does not immediately curdle.
Burning, it follows the fool,
Like a fire concealed by ashes.
SC 72Only to his detriment does knowledge arise in the
fool.
It destroys his good fortune and splits his head.
SC 73He seeks undue respect, honor among monks,
Authority in monasteries, and devotion by families
not his own.
SC 74“Let both householder and monk think that alone I have done this,
Let them be under my will in every task.” So thinks the fool, whose desire and pride grow.
SC 75There is one path to worldly gains,
And a very different path to Nibbāna.
Let the monk who knows this,
The disciple of the Awakened One,
Not rejoice in honor, but cultivate solitude.
Ðêm dài cho kẻ thức,
Ðường dài cho kẻ mệt,
Luân hồi dài, kẻ ngu,
Không biết chơn diệu pháp.
Chuyện đệ tử của Trưởng lão Mahā Kassapa (Ca-diếp)
Tìm không được bạn đường,
Hơn mình hay bằng mình,
Thà quyết sống một mình,
Không làm bạn kẻ ngu.
Chuyện Trưởng giả Ānanda
“Con tôi, tài sản tôi”,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?
Chuyện tên trộm
Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu.
Chuyện Trưởng lão Udāyi
Người ngu, dầu trọn đời,
Thân cận người có trí,
Không biết được Chánh pháp,
Như muỗng với vị canh.
Chuyện nhóm Tỳ-kheo ở xứ Pāveyyaka
Người trí, dù một khắc,
Thân cận người có trí,
Biết ngay chân diệu pháp,
Như lưỡi với vị canh.
Chuyện ông Suppabuddhakuṭṭhi (Thiện Giác cùi)
Người ngu si thiếu trí,
Tự ngã thành kẻ thù.
Làm các nghiệp không thiện,
Phải chịu quả đắng cay.
Chuyện người nông phu mắc cạn
Nghiệp làm không chánh thiện,
Làm rồi sanh ăn năn,
Mặt nhuốm lệ, khóc than,
Lãnh chịu quả dị thục.
Chuyện người kết tràng hoa Sumana (Hảo Ý)
Và nghiệp làm chánh thiện,
Làm rồi không ăn năn,
Hoan hỷ, ý đẹp lòng,
Hưởng thọ quả dị thục.
Chuyện Thánh nữ Uppalavaṇṇā (Thanh Liên Sắc)
Người ngu nghĩ là ngọt,
Khi ác chưa chín muồi;
Ác nghiệp chín muồi rồi,
Người ngu chịu khổ đau.
Chuyện tu sĩ ngoại đạo Jambūka (Hào Cẩu)
Tháng tháng với ngọn cỏ,
Người ngu có ăn uống
Không bằng phần mười sáu,
Người hiểu pháp hữu vi.
Chuyện ngạ quỷ mình rắn
Nghiệp ác đã được làm,
Như sữa, không đông ngay,
Cháy ngầm theo kẻ ngu,
Như lửa tro che đậy.
Chuyện ngạ quỷ bị búa đập đầu
Tự nó chịu bất hạnh,
Khi danh đến kẻ ngu.
Vận may bị tổn hại,
Ðầu nó bị nát tan.
Chuyện Trưởng lão Suddhamma (Thiện Pháp)
Ưa danh không tương xứng,
Muốn ngồi trước tỳ-kheo,
ưa quyền tại tịnh xá,
Muốn mọi người lễ kính.
“Mong cả hai tăng, tục,
Nghĩ rằng chính ta làm.
Trong mọi việc lớn nhỏ,
Phải theo mệnh lệnh ta”
Người ngu nghĩ như vậy
Dục và mạn tăng trưởng.
Chuyện Trưởng lão Tissa ở rừng Vanavāsi
Khác thay duyên thế lợi,
Khác thay đường Niết-bàn.
Tỳ-kheo, đệ tử Phật,
Hãy như vậy thắng tri.
Chớ ưa thích cung kính,
Hãy tu hạnh viễn ly.
Hết phẩm Ngu
Dīghā jāgarato ratti,
dīghaṁ santassa yojanaṁ;
Dīgho bālāna saṁsāro,
saddhammaṁ avijānataṁ.
Mahākassapasaddhivihārikavatthu
Carañce nādhigaccheyya,
Seyyaṁ sadisamattano;
Ekacariyaṁ daḷhaṁ kayirā,
Natthi bāle sahāyatā.
Ānandaseṭṭhivatthu
Puttā matthi dhanaṁ matthi,
iti bālo vihaññati;
Attā hi attano natthi,
kuto puttā kuto dhanaṁ.
Gaṇṭhibhedakacoravatthu
Yo bālo maññati bālyaṁ,
paṇḍito vāpi tena so;
Bālo ca paṇḍitamānī,
sa ve “bālo”ti vuccati.
Udāyittheravatthu
Yāvajīvampi ce bālo,
paṇḍitaṁ payirupāsati;
Na so dhammaṁ vijānāti,
dabbī sūparasaṁ yathā.
Tiṁsapāveyyakabhikkhuvatthu
Muhuttamapi ce viññū,
paṇḍitaṁ payirupāsati;
Khippaṁ dhammaṁ vijānāti,
jivhā sūparasaṁ yathā.
Suppabuddhakuṭṭhivatthu
Caranti bālā dummedhā,
amitteneva attanā;
Karontā pāpakaṁ kammaṁ,
yaṁ hoti kaṭukapphalaṁ.
Kassakavatthu
Na taṁ kammaṁ kataṁ sādhu,
yaṁ katvā anutappati;
Yassa assumukho rodaṁ,
vipākaṁ paṭisevati.
Sumanamālākāravatthu
Tañca kammaṁ kataṁ sādhu,
yaṁ katvā nānutappati;
Yassa patīto sumano,
vipākaṁ paṭisevati.
Uppalavaṇṇattherīvatthu
Madhuṁvā maññati bālo,
yāva pāpaṁ na paccati;
Yadā ca paccati pāpaṁ,
atha dukkhaṁ nigacchati.
Jambukattheravatthu
Māse māse kusaggena,
bālo bhuñjeyya bhojanaṁ;
Na so saṅkhātadhammānaṁ,
kalaṁ agghati soḷasiṁ.
Ahipetavatthu
Na hi pāpaṁ kataṁ kammaṁ,
Sajjukhīraṁva muccati;
Ḍahantaṁ bālamanveti,
Bhasmacchannova pāvako.
Saṭṭhikūṭapetavatthu
Yāvadeva anatthāya,
ñattaṁ bālassa jāyati;
Hanti bālassa sukkaṁsaṁ,
muddhamassa vipātayaṁ.
Cittagahapativatthu
Asantaṁ bhāvanamiccheyya,
Purekkhārañca bhikkhusu;
Āvāsesu ca issariyaṁ,
Pūjaṁ parakulesu ca.
Mameva kata maññantu,
gihī pabbajitā ubho;
Mamevātivasā assu,
kiccākiccesu kismici;
Iti bālassa saṅkappo,
icchā māno ca vaḍḍhati.
Vanavāsitissasāmaṇeravatthu
Aññā hi lābhūpanisā,
aññā nibbānagāminī;
Evametaṁ abhiññāya,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Sakkāraṁ nābhinandeyya,
vivekamanubrūhaye.
Bālavaggo pañcamo.