Ngươi đâu phải pháp trụ,
Xử sự quá chuyên chế,
Bậc trí cần phân biệt
Cả hai chánh và tà!
Không chuyên chế, đúng pháp,
Công bằng, dắt dẫn người,
Bậc trí sống đúng pháp,
Thật xứng danh Pháp trụ.
Chuyện 6 vị Tỳ-kheo gây rối
Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh bậc trí.
An ổn, không oán sợ.
Thật đáng gọi bậc Trí.
Chuyện Pháp sư Ekudāna
Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh trì pháp,
Những ai tuy nghe ít,
Nhưng thân hành đúng pháp,
Không phóng túng chánh pháp,
Mới xứng danh trì pháp.
Chuyện Trưởng lão Lakuṇṭaka Bhaddiya
Không phải là trưởng lão,
Nếu cho có bạc đầu.
Người chỉ tuổi tác cao,
Ðược gọi là “Lão ngu”.
Ai chân thật, đúng pháp,
Không hại, biết chế phục,
Bậc trí không cấu uế,
Mới xứng danh “Trưởng Lão”.
Chuyện các Tỳ-kheo tham vọng
Không phải nói lưu loát,
Không phải sắc mặt đẹp,
Thành được người lương thiện,
Nếu ganh, tham, dối trá.
Ai cắt được, phá được
Tận gốc nhổ tâm ấy
Người trí ấy diệt sân,
Ðược gọi người hiền thiện.
Chuyện vè Hatthaka
Ðầu trọc, không Sa-môn
Nếu phóng túng, nói láo.
Ai còn đầy dục tham,
Sao được gọi Sa-môn?
Ai lắng dịu hoàn toàn,
Các điều ác lớn nhỏ,
Vì lắng dịu ác pháp,
Ðược gọi là Sa-môn.
Chuyện người Bà-la-môn khất sĩ
Chỉ khất thực nhờ người,
Ðâu phải là Tỳ-kheo!
Phải theo pháp toàn diện,
Khất sĩ không, không đủ.
Ai vượt qua thiện ác,
Chuyên sống đời Phạm Hạnh,
Sống thẩm sát ở đời,
Mới xứng danh tỳ-kheo.
Chuyện ngoại đạo im lặng
Im lặng nhưng ngu si,
Ðâu được gọi ẩn sĩ?
Như người cầm cán cân,
Bậc trí chọn điều lành.
Từ bỏ các ác pháp,
Mới thật là ẩn sĩ.
Ai thật hiểu hai đời
Mới được gọi ẩn sĩ.
Chuyện ngư dân Ariya
Còn sát hại sinh linh,
Ðâu được gọi Hiền thánh.
Không hại mọi hữu tình,
Mới được gọi Hiền thánh.
Chuyện các Tỳ-kheo tự mãn
Chẳng phải chỉ giới cấm
Cũng không phải học nhiều,
Chẳng phải chứng thiền định,
Sống thanh vắng một mình.
“Ta hưởng an ổn lạc,
Phàm phu chưa hưởng được”:
Tỳ-kheo, chớ tự tin
Khi lậu hoặc chưa diệt.
Hết phẩm Pháp Trụ
Na tena hoti dhammaṭṭho,
yenatthaṁ sāhasā naye;
Yo ca atthaṁ anatthañca,
ubho niccheyya paṇḍito.
Asāhasena dhammena,
samena nayatī pare;
Dhammassa gutto medhāvī,
“dhammaṭṭho”ti pavuccati.
Chabbaggiyavatthu
Na tena paṇḍito hoti,
yāvatā bahu bhāsati;
Khemī averī abhayo,
“paṇḍito”ti pavuccati.
Ekudānakhīṇāsavavatthu
Na tāvatā dhammadharo,
yāvatā bahu bhāsati;
Yo ca appampi sutvāna,
dhammaṁ kāyena passati;
Sa ve dhammadharo hoti,
yo dhammaṁ nappamajjati.
Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu
Na tena thero so hoti,
yenassa palitaṁ siro;
Paripakko vayo tassa,
“moghajiṇṇo”ti vuccati.
Yamhi saccañca dhammo ca,
ahiṁsā saṁyamo damo;
Sa ve vantamalo dhīro,
“thero” iti pavuccati.
Sambahulabhikkhuvatthu
Na vākkaraṇamattena,
vaṇṇapokkharatāya vā;
Sādhurūpo naro hoti,
issukī maccharī saṭho.
Yassa cetaṁ samucchinnaṁ,
mūlaghaccaṁ samūhataṁ;
Sa vantadoso medhāvī,
“sādhurūpo”ti vuccati.
Hatthakavatthu
Na muṇḍakena samaṇo,
abbato alikaṁ bhaṇaṁ;
Icchālobhasamāpanno,
samaṇo kiṁ bhavissati.
Yo ca sameti pāpāni,
aṇuṁthūlāni sabbaso;
Samitattā hi pāpānaṁ,
“samaṇo”ti pavuccati.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Na tena bhikkhu so hoti,
yāvatā bhikkhate pare;
Vissaṁ dhammaṁ samādāya,
bhikkhu hoti na tāvatā.
Yodha puññañca pāpañca,
bāhetvā brahmacariyavā;
Saṅkhāya loke carati,
sa ve “bhikkhū”ti vuccati.
Titthiyavatthu
Na monena munī hoti,
mūḷharūpo aviddasu;
Yo ca tulaṁva paggayha,
varamādāya paṇḍito.
Pāpāni parivajjeti,
sa munī tena so muni;
Yo munāti ubho loke,
“muni” tena pavuccati.
Bālisikavatthu
Na tena ariyo hoti,
yena pāṇāni hiṁsati;
Ahiṁsā sabbapāṇānaṁ,
“ariyo”ti pavuccati.
Sambahulasīlādisampannabhikkhuvatthu
Na sīlabbatamattena,
bāhusaccena vā pana;
Atha vā samādhilābhena,
vivittasayanena vā.
Phusāmi nekkhammasukhaṁ,
aputhujjanasevitaṁ;
Bhikkhu vissāsamāpādi,
appatto āsavakkhayaṁ.
Dhammaṭṭhavaggo ekūnavīsatimo.
SC 256One who hastily assesses what is good
Is not established in Dhamma.
The wise one investigates both good and bad,
SC 257And judges others thoughtfully, justly, and
impartially.
This intelligent one, this protector of the Dhamma,
Is called established in the Dhamma.
SC 258One is not wise in virtue of speaking much.
One who is called wise is peaceful, friendly, and
fearless.
SC 259One does not uphold the Dhamma simply by many
words.
One upholds the Dhamma when it is not neglected;
When, having heard but a little, observes it with
one’s own body.
SC 260One is not an elder just by a gray head.
Ripe only in years, he is called grown old in vain.
SC 261But one in whom there is truth and Dhamma,
Non-violence, restraint, and moderation,
With impurities discarded,
This wise one is truly called elder.
SC 262Not by eloquence or lotus-like beauty,
does one who is envious, selfish, and deceitful,
become exemplary.
SC 263The wise one who has cut off, destroyed at the root,
and removed these;
Who has discarded ill will altogether;
This one is called exemplary.
SC 264Not by a bald head is one a renunciant—
One who does not observe the precepts, who lies.
What renunciant is possessed by longing and greed!
SC 265But one who subdues evil thoroughly, whether big
or small,
Is by so doing truly called renunciant.
SC 266One is not a monk just by begging from another.
Having undertaken a foul tradition, one is not then
a monk.
SC 267But the one who sets aside both merit and demerit,
who leads a holy life,
Who lives in the world perceptively,
This one is truly is called monk.
SC 268One deluded and ignorant is not a sage by silence.
But one who takes up the best as if holding a scale is
wise.
SC 269One who avoids evils thereby is a sage.
One who knows both best and worst in the world is
thereby called sage.
SC 270One is not a noble by hurting living beings.
One who is gentle to all beings is thereby called
noble.
SC 271Neither by precept and virtue, nor by great
learning;
Neither by attaining samādhi, nor inhabiting a
solitary dwelling;
SC 272Nor by thinking, “I touch the happiness of
renunciation, unknown to the ordinary,” Do you, O monk, find contentment,
If you have not attained the dissolution of the
toxins.
Ngươi đâu phải pháp trụ,
Xử sự quá chuyên chế,
Bậc trí cần phân biệt
Cả hai chánh và tà!
Không chuyên chế, đúng pháp,
Công bằng, dắt dẫn người,
Bậc trí sống đúng pháp,
Thật xứng danh Pháp trụ.
Chuyện 6 vị Tỳ-kheo gây rối
Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh bậc trí.
An ổn, không oán sợ.
Thật đáng gọi bậc Trí.
Chuyện Pháp sư Ekudāna
Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh trì pháp,
Những ai tuy nghe ít,
Nhưng thân hành đúng pháp,
Không phóng túng chánh pháp,
Mới xứng danh trì pháp.
Chuyện Trưởng lão Lakuṇṭaka Bhaddiya
Không phải là trưởng lão,
Nếu cho có bạc đầu.
Người chỉ tuổi tác cao,
Ðược gọi là “Lão ngu”.
Ai chân thật, đúng pháp,
Không hại, biết chế phục,
Bậc trí không cấu uế,
Mới xứng danh “Trưởng Lão”.
Chuyện các Tỳ-kheo tham vọng
Không phải nói lưu loát,
Không phải sắc mặt đẹp,
Thành được người lương thiện,
Nếu ganh, tham, dối trá.
Ai cắt được, phá được
Tận gốc nhổ tâm ấy
Người trí ấy diệt sân,
Ðược gọi người hiền thiện.
Chuyện vè Hatthaka
Ðầu trọc, không Sa-môn
Nếu phóng túng, nói láo.
Ai còn đầy dục tham,
Sao được gọi Sa-môn?
Ai lắng dịu hoàn toàn,
Các điều ác lớn nhỏ,
Vì lắng dịu ác pháp,
Ðược gọi là Sa-môn.
Chuyện người Bà-la-môn khất sĩ
Chỉ khất thực nhờ người,
Ðâu phải là Tỳ-kheo!
Phải theo pháp toàn diện,
Khất sĩ không, không đủ.
Ai vượt qua thiện ác,
Chuyên sống đời Phạm Hạnh,
Sống thẩm sát ở đời,
Mới xứng danh tỳ-kheo.
Chuyện ngoại đạo im lặng
Im lặng nhưng ngu si,
Ðâu được gọi ẩn sĩ?
Như người cầm cán cân,
Bậc trí chọn điều lành.
Từ bỏ các ác pháp,
Mới thật là ẩn sĩ.
Ai thật hiểu hai đời
Mới được gọi ẩn sĩ.
Chuyện ngư dân Ariya
Còn sát hại sinh linh,
Ðâu được gọi Hiền thánh.
Không hại mọi hữu tình,
Mới được gọi Hiền thánh.
Chuyện các Tỳ-kheo tự mãn
Chẳng phải chỉ giới cấm
Cũng không phải học nhiều,
Chẳng phải chứng thiền định,
Sống thanh vắng một mình.
“Ta hưởng an ổn lạc,
Phàm phu chưa hưởng được”:
Tỳ-kheo, chớ tự tin
Khi lậu hoặc chưa diệt.
Hết phẩm Pháp Trụ
Na tena hoti dhammaṭṭho,
yenatthaṁ sāhasā naye;
Yo ca atthaṁ anatthañca,
ubho niccheyya paṇḍito.
Asāhasena dhammena,
samena nayatī pare;
Dhammassa gutto medhāvī,
“dhammaṭṭho”ti pavuccati.
Chabbaggiyavatthu
Na tena paṇḍito hoti,
yāvatā bahu bhāsati;
Khemī averī abhayo,
“paṇḍito”ti pavuccati.
Ekudānakhīṇāsavavatthu
Na tāvatā dhammadharo,
yāvatā bahu bhāsati;
Yo ca appampi sutvāna,
dhammaṁ kāyena passati;
Sa ve dhammadharo hoti,
yo dhammaṁ nappamajjati.
Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu
Na tena thero so hoti,
yenassa palitaṁ siro;
Paripakko vayo tassa,
“moghajiṇṇo”ti vuccati.
Yamhi saccañca dhammo ca,
ahiṁsā saṁyamo damo;
Sa ve vantamalo dhīro,
“thero” iti pavuccati.
Sambahulabhikkhuvatthu
Na vākkaraṇamattena,
vaṇṇapokkharatāya vā;
Sādhurūpo naro hoti,
issukī maccharī saṭho.
Yassa cetaṁ samucchinnaṁ,
mūlaghaccaṁ samūhataṁ;
Sa vantadoso medhāvī,
“sādhurūpo”ti vuccati.
Hatthakavatthu
Na muṇḍakena samaṇo,
abbato alikaṁ bhaṇaṁ;
Icchālobhasamāpanno,
samaṇo kiṁ bhavissati.
Yo ca sameti pāpāni,
aṇuṁthūlāni sabbaso;
Samitattā hi pāpānaṁ,
“samaṇo”ti pavuccati.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Na tena bhikkhu so hoti,
yāvatā bhikkhate pare;
Vissaṁ dhammaṁ samādāya,
bhikkhu hoti na tāvatā.
Yodha puññañca pāpañca,
bāhetvā brahmacariyavā;
Saṅkhāya loke carati,
sa ve “bhikkhū”ti vuccati.
Titthiyavatthu
Na monena munī hoti,
mūḷharūpo aviddasu;
Yo ca tulaṁva paggayha,
varamādāya paṇḍito.
Pāpāni parivajjeti,
sa munī tena so muni;
Yo munāti ubho loke,
“muni” tena pavuccati.
Bālisikavatthu
Na tena ariyo hoti,
yena pāṇāni hiṁsati;
Ahiṁsā sabbapāṇānaṁ,
“ariyo”ti pavuccati.
Sambahulasīlādisampannabhikkhuvatthu
Na sīlabbatamattena,
bāhusaccena vā pana;
Atha vā samādhilābhena,
vivittasayanena vā.
Phusāmi nekkhammasukhaṁ,
aputhujjanasevitaṁ;
Bhikkhu vissāsamāpādi,
appatto āsavakkhayaṁ.
Dhammaṭṭhavaggo ekūnavīsatimo.