Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Isigili (Thôn tiên). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”:: “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vebhāra (Phụ Trọng) này không?
SC 3—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 4—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vebhāra này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Paṇḍava (Bạch Thiện) này không?
SC 5—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 6—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Paṇḍava này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vepulla (Quảng Phổ) này không?
SC 7—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 8—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vepulla này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Gijjhakūta (Linh Thứu) này không?
SC 9—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 10—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Gijjhakūta này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Isigili (Thôn tiên) này không?
SC 11—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 12—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng của núi Isigili, một tên gọi khác.
SC 13Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có năm trăm vị Ðộc Giác Phật sống trong một thời gian khá dài, trong núi Isigili này. Những vị ấy được thấy đi vào trong ngọn núi này, nhưng khi đi vào rồi thời không được thấy nữa. Quần chúng thấy vậy nói như sau: “Ngọn núi này nuốt những ẩn sĩ ấy (Ime Isi gilatiti) nên được danh xưng là Isigili. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ kể tên các vị Ðộc Giác Phật; này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng tên các vị Ðộc Giác Phật. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
SC 14—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 15—Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau
SC 16—Ariṭṭha (A-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upariṭṭha (Bà-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tagarasikhī, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Yasassi, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sudassana (Thiện Kiến), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Piyadassī, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Gandhara, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Piṇḍola, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upasabha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Nitha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tatha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sutava, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Bhavitatta, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.
SC 17Chư hữu tình tinh hoa,
Không khổ, không tham ái,
Riêng tự mình chứng đắc,
Chánh Ðẳng Giác (vô thượng).
Chư vị thượng thắng nhân,
Vượt ngoài mũi tên bắn,
Hãy lóng tai nghe kỹ,
Ta sẽ xướng danh hiệu:
SC 18Ariṭṭha, Upariṭṭha, Tagarasikhī, Yasassi
Sudassan, Phật Piyadassī
Gandhara, Piṇḍola,
Upasabha, Nitha, Tatha, Sutava, Bhavitatta.
SC 19Sumbha, Subha, Methula,
Atthama, Athassumegha,
Anigha, Sudatha
Chư vị Ðộc Giác Phật,
Ðoạn trừ nguồn tái sanh.
SC 20Hingu và Hinga
Chư vị Ðại Uy lực,
Hai ẩn sĩ Jali
Rồi đến Aṭṭhaka,
Ðức Phật Kosala,
Tiếp đến Subahu.
SC 21Ngài Upanemi, cả Ngài Nemi này,
Ngài Santacitta, các Ngài bậc Chân thực,
Sống như chân, ly trần,
Cũng là bậc Hiền triết.
SC 22Kāla, Upakala, Vijita, Jita
Anga, Panga và Gutijjita
Passi bỏ chấp thủ
Căn rễ của khổ đau.
SC 23Aparajita, đánh bại ma quân lực,
Satthà, Pavatta, Sarabhanga, Lomahansa,
Uccangamaya, Asita, Anasava,
Manomaya đoạn trừ được nạn,
Và Bandhuma,
Tadadhimutta vô cấu uế,
Và Ketuma.
SC 24Ketumbaraga và Matanga Ariya,
Accuta, Accutagama, Byamaka,
Sumangala, Dabbila, Supatitthita
Asayha, Khemabhirata và Sorata,
Durannaya, Sangha, rồi đến Ujjaya,
Rồi đến ẩn sĩ Sayha,
Với can đảm phi thường
Ānanda, Nanda, Upananda,
Tất cả là mười hai.
SC 25Bhāradvāja thọ trì thân cuối cùng,
Bodhi, Mahānāma, kể cả Bhāradvāja
Thượng thắng, có chóp tóc và đẹp trai,
Tissa, Upatissa, Upasidari
Ðã đoạn hữu kiết sữ,
Và Sidari, đã đoạn trừ tham ái.
SC 26Ðức Phật tên Mangala,
Với tham được đoạn trừ,
Usabha đã cắt lưới khổ căn
Upanita, vị chứng an tịnh đạo.
SC 27Uposatha, Sundara, Saccanama,
Jeta, Jayanta, Paduma, Uppala và
Padumuttara,
Rakkhita và Pabbata,
Manatthaddha, Sobhita, Vitaraga,
Và Ðức Phật Kaṇha
Với tâm được giải thoát.
SC 28Những vị này, vị khác
Là những bậc Ðộc Giác,
Những bậc Ðại Uy Lực,
Ðã đoạn nguồn tái sanh.
SC 29Hãy đảnh lễ chư vị,
Ðại Ẩn sĩ vô lượng,
Ðã thắng mọi chiến trận,
Ðã đạt bát Niết-bàn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati isigilismiṁ pabbate.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ vebhāraṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, vebhārassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ paṇḍavaṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, paṇḍavassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ vepullaṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, vepullassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ gijjhakūṭaṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, gijjhakūṭassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, imaṁ isigiliṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imassa kho pana, bhikkhave, isigilissa pabbatassa esāva samaññā ahosi esā paññatti.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, pañca paccekabuddhasatāni imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsino ahesuṁ.
Te imaṁ pabbataṁ pavisantā dissanti, paviṭṭhā na dissanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu:
‘ayaṁ pabbato ime isī gilatī’ti;
‘isigili isigili’ tveva samaññā udapādi.
Ācikkhissāmi, bhikkhave, paccekabuddhānaṁ nāmāni;
kittayissāmi, bhikkhave, paccekabuddhānaṁ nāmāni;
desessāmi, bhikkhave, paccekabuddhānaṁ nāmāni.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Ariṭṭho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
upariṭṭho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
tagarasikhī nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
yasassī nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
sudassano nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
piyadassī nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
gandhāro nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
piṇḍolo nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
upāsabho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
nīto nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
tatho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi,
sutavā nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
bhāvitatto nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi.
Ye sattasārā anīghā nirāsā,
Paccekamevajjhagamaṁsu bodhiṁ;
Tesaṁ visallāna naruttamānaṁ,
Nāmāni me kittayato suṇātha.
Ariṭṭho upariṭṭho tagarasikhī yasassī,
Sudassano piyadassī ca susambuddho;
Gandhāro piṇḍolo upāsabho ca,
Nīto tatho sutavā bhāvitatto.
Sumbho subho matulo aṭṭhamo ca,
Athassumegho anīgho sudāṭho;
Paccekabuddhā bhavanettikhīṇā,
Hiṅgū ca hiṅgo ca mahānubhāvā.
Dve jālino munino aṭṭhako ca,
Atha kosallo buddho atho subāhu;
Upanemiso nemiso santacitto,
Sacco tatho virajo paṇḍito ca.
Kāḷūpakāḷā vijito jito ca,
Aṅgo ca paṅgo ca guttijito ca;
Passi jahi upadhidukkhamūlaṁ,
Aparājito mārabalaṁ ajesi.
Satthā pavattā sarabhaṅgo lomahaṁso,
Uccaṅgamāyo asito anāsavo;
Manomayo mānacchido ca bandhumā,
Tadādhimutto vimalo ca ketumā.
Ketumbharāgo ca mātaṅgo ariyo,
Athaccuto accutagāmabyāmako;
Sumaṅgalo dabbilo supatiṭṭhito,
Asayho khemābhirato ca sorato.
Durannayo saṅgho athopi ujjayo,
Aparo muni sayho anomanikkamo;
Ānando nando upanando dvādasa,
Bhāradvājo antimadehadhārī.
Bodhi mahānāmo athopi uttaro,
Kesī sikhī sundaro dvārabhājo;
Tissūpatissā bhavabandhanacchidā,
Upasikhi taṇhacchido ca sikhari.
Buddho ahu maṅgalo vītarāgo,
Usabhacchidā jāliniṁ dukkhamūlaṁ;
Santaṁ padaṁ ajjhagamopanīto,
Uposatho sundaro saccanāmo.
Jeto jayanto padumo uppalo ca,
Padumuttaro rakkhito pabbato ca;
Mānatthaddho sobhito vītarāgo,
Kaṇho ca buddho suvimuttacitto.
Ete ca aññe ca mahānubhāvā,
Paccekabuddhā bhavanettikhīṇā;
Te sabbasaṅgātigate mahesī,
Parinibbute vandatha appameyye”ti.
Isigilisuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Isigili Mountain.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, do you see that Mount Vebhāra?”
“Yes, sir.”
“It used to have a different label and description.
Do you see that Mount Paṇḍava?”
“Yes, sir.”
“It too used to have a different label and description.
Do you see that Mount Vepulla?”
“Yes, sir.”
“It too used to have a different label and description.
Do you see that Mount Vulture’s Peak?”
“Yes, sir.”
“It too used to have a different label and description.
Do you see that Mount Isigili?”
“Yes, sir.”
“It used to have exactly the same label and description.
Once upon a time, five hundred Independent Buddhas dwelt for a long time on this Isigili.
They were seen entering the mountain, but after entering were seen no more.
When people noticed this they said:
‘That mountain swallows these seers!’
That’s how it came to be known as Isigili, the “seer-swallower”.
I shall declare the names of the Independent Buddhas;
I shall extol the names of the Independent Buddhas;
I shall teach the names of the Independent Buddhas.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied.
The Buddha said this:
“The independent Buddhas who dwelt for a long time on this Isigili were named Ariṭṭha,
Upariṭṭha,
Tagarasikhī,
Yasassin,
Sudassana,
Piyadassin,
Gandhāra,
Piṇḍola,
Upāsabha,
Nīta,
Tatha,
Sutavā,
and Bhāvitatta.
Those saintly beings, untroubled, with no need for hope,
who each achieved awakening independently;
hear me extol their names,
the supreme men, free of thorns.
Ariṭṭha, Upariṭṭha, Tagarasikhī, Yasassin,
Sudassana, and Piyadassin the awakened;
Gandhāra, Piṇḍola, and Upāsabha,
Nīta, Tatha, Sutavā, and Bhāvitatta.
Sumbha, Subha, Methula, and Aṭṭhama,
then Assumegha, Anīgha, and Sudāṭha,
Independent Buddhas, enders of the leash to existence;
and Hiṅgū and Hiṅga the mighty.
Two sages named Jāli, and Aṭṭhaka;
then the awakened one Kosala, then Subāhu;
Upanemi, Nemi, and Santacitta,
right and true, stainless and astute.
Kāḷa and Upakāḷa, Vijita and Jita,
Aṅga and Paṅga, and Guttijita too;
Passin gave up attachment, suffering’s root,
while Aparājita defeated Māra’s power.
Satthar, Pavattar, Sarabhaṅga, Lomahaṁsa,
Uccaṅgamāya, Asita, Anāsava,
Manomaya, and Bandhumā the cutter of conceit,
then Adhimutta, and Ketumā the immaculate.
Ketumbharāga, Mātaṅga, and Ariya,
then Accuta, Accutagāma, and Byāmaka,
Sumaṅgala, Dabbila, Supatiṭṭhita,
Asayha, Khemābhirata, and Sorata.
Durannaya, Saṅgha, and also Ujjaya,
another sage, Sayha of peerless effort.
There are twelve Ānandas, Nandas, and Upanandas,
and Bhāradvāja, bearing his final body.
Bodhi, Mahānāma, and also Uttara,
Kesī, Sikhī, Sundara, and Bhāradvāja,
Tissa and Upatissa, who’ve both cut the bonds to rebirth,
Upasīdarī and Sīdarī, who’ve both cut off craving.
Maṅgala was awakened, free of greed,
Usabha cut the net, the root of suffering,
Upanīta who attained the state of peace,
Uposatha, Sundara, and Saccanāma.
Jeta, Jayanta, Paduma, and Uppala;
Padumuttara, Rakkhita, and Pabbata,
Mānatthaddha, beautiful and free of greed,
and the Buddha Kaṇha, his mind well freed.
These and other mighty ones awakened independently,
enders of the leash to existence—
honor these great seers who have slipped all chains,
fully quenched, limitless.”
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Isigili (Thôn tiên). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”:: “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vebhāra (Phụ Trọng) này không?
SC 3—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 4—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vebhāra này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Paṇḍava (Bạch Thiện) này không?
SC 5—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 6—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Paṇḍava này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vepulla (Quảng Phổ) này không?
SC 7—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 8—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vepulla này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Gijjhakūta (Linh Thứu) này không?
SC 9—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 10—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Gijjhakūta này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Isigili (Thôn tiên) này không?
SC 11—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.
SC 12—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng của núi Isigili, một tên gọi khác.
SC 13Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có năm trăm vị Ðộc Giác Phật sống trong một thời gian khá dài, trong núi Isigili này. Những vị ấy được thấy đi vào trong ngọn núi này, nhưng khi đi vào rồi thời không được thấy nữa. Quần chúng thấy vậy nói như sau: “Ngọn núi này nuốt những ẩn sĩ ấy (Ime Isi gilatiti) nên được danh xưng là Isigili. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ kể tên các vị Ðộc Giác Phật; này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng tên các vị Ðộc Giác Phật. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
SC 14—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 15—Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau
SC 16—Ariṭṭha (A-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upariṭṭha (Bà-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tagarasikhī, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Yasassi, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sudassana (Thiện Kiến), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Piyadassī, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Gandhara, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Piṇḍola, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upasabha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Nitha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tatha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sutava, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Bhavitatta, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.
SC 17Chư hữu tình tinh hoa,
Không khổ, không tham ái,
Riêng tự mình chứng đắc,
Chánh Ðẳng Giác (vô thượng).
Chư vị thượng thắng nhân,
Vượt ngoài mũi tên bắn,
Hãy lóng tai nghe kỹ,
Ta sẽ xướng danh hiệu:
SC 18Ariṭṭha, Upariṭṭha, Tagarasikhī, Yasassi
Sudassan, Phật Piyadassī
Gandhara, Piṇḍola,
Upasabha, Nitha, Tatha, Sutava, Bhavitatta.
SC 19Sumbha, Subha, Methula,
Atthama, Athassumegha,
Anigha, Sudatha
Chư vị Ðộc Giác Phật,
Ðoạn trừ nguồn tái sanh.
SC 20Hingu và Hinga
Chư vị Ðại Uy lực,
Hai ẩn sĩ Jali
Rồi đến Aṭṭhaka,
Ðức Phật Kosala,
Tiếp đến Subahu.
SC 21Ngài Upanemi, cả Ngài Nemi này,
Ngài Santacitta, các Ngài bậc Chân thực,
Sống như chân, ly trần,
Cũng là bậc Hiền triết.
SC 22Kāla, Upakala, Vijita, Jita
Anga, Panga và Gutijjita
Passi bỏ chấp thủ
Căn rễ của khổ đau.
SC 23Aparajita, đánh bại ma quân lực,
Satthà, Pavatta, Sarabhanga, Lomahansa,
Uccangamaya, Asita, Anasava,
Manomaya đoạn trừ được nạn,
Và Bandhuma,
Tadadhimutta vô cấu uế,
Và Ketuma.
SC 24Ketumbaraga và Matanga Ariya,
Accuta, Accutagama, Byamaka,
Sumangala, Dabbila, Supatitthita
Asayha, Khemabhirata và Sorata,
Durannaya, Sangha, rồi đến Ujjaya,
Rồi đến ẩn sĩ Sayha,
Với can đảm phi thường
Ānanda, Nanda, Upananda,
Tất cả là mười hai.
SC 25Bhāradvāja thọ trì thân cuối cùng,
Bodhi, Mahānāma, kể cả Bhāradvāja
Thượng thắng, có chóp tóc và đẹp trai,
Tissa, Upatissa, Upasidari
Ðã đoạn hữu kiết sữ,
Và Sidari, đã đoạn trừ tham ái.
SC 26Ðức Phật tên Mangala,
Với tham được đoạn trừ,
Usabha đã cắt lưới khổ căn
Upanita, vị chứng an tịnh đạo.
SC 27Uposatha, Sundara, Saccanama,
Jeta, Jayanta, Paduma, Uppala và
Padumuttara,
Rakkhita và Pabbata,
Manatthaddha, Sobhita, Vitaraga,
Và Ðức Phật Kaṇha
Với tâm được giải thoát.
SC 28Những vị này, vị khác
Là những bậc Ðộc Giác,
Những bậc Ðại Uy Lực,
Ðã đoạn nguồn tái sanh.
SC 29Hãy đảnh lễ chư vị,
Ðại Ẩn sĩ vô lượng,
Ðã thắng mọi chiến trận,
Ðã đạt bát Niết-bàn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati isigilismiṁ pabbate.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ vebhāraṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, vebhārassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ paṇḍavaṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, paṇḍavassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ vepullaṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, vepullassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ gijjhakūṭaṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Etassapi kho, bhikkhave, gijjhakūṭassa pabbatassa aññāva samaññā ahosi aññā paññatti.
Passatha no tumhe, bhikkhave, imaṁ isigiliṁ pabbatan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imassa kho pana, bhikkhave, isigilissa pabbatassa esāva samaññā ahosi esā paññatti.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, pañca paccekabuddhasatāni imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsino ahesuṁ.
Te imaṁ pabbataṁ pavisantā dissanti, paviṭṭhā na dissanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu:
‘ayaṁ pabbato ime isī gilatī’ti;
‘isigili isigili’ tveva samaññā udapādi.
Ācikkhissāmi, bhikkhave, paccekabuddhānaṁ nāmāni;
kittayissāmi, bhikkhave, paccekabuddhānaṁ nāmāni;
desessāmi, bhikkhave, paccekabuddhānaṁ nāmāni.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Ariṭṭho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
upariṭṭho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
tagarasikhī nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
yasassī nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
sudassano nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
piyadassī nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
gandhāro nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
piṇḍolo nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
upāsabho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
nīto nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
tatho nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi,
sutavā nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi;
bhāvitatto nāma, bhikkhave, paccekasambuddho imasmiṁ isigilismiṁ pabbate ciranivāsī ahosi.
Ye sattasārā anīghā nirāsā,
Paccekamevajjhagamaṁsu bodhiṁ;
Tesaṁ visallāna naruttamānaṁ,
Nāmāni me kittayato suṇātha.
Ariṭṭho upariṭṭho tagarasikhī yasassī,
Sudassano piyadassī ca susambuddho;
Gandhāro piṇḍolo upāsabho ca,
Nīto tatho sutavā bhāvitatto.
Sumbho subho matulo aṭṭhamo ca,
Athassumegho anīgho sudāṭho;
Paccekabuddhā bhavanettikhīṇā,
Hiṅgū ca hiṅgo ca mahānubhāvā.
Dve jālino munino aṭṭhako ca,
Atha kosallo buddho atho subāhu;
Upanemiso nemiso santacitto,
Sacco tatho virajo paṇḍito ca.
Kāḷūpakāḷā vijito jito ca,
Aṅgo ca paṅgo ca guttijito ca;
Passi jahi upadhidukkhamūlaṁ,
Aparājito mārabalaṁ ajesi.
Satthā pavattā sarabhaṅgo lomahaṁso,
Uccaṅgamāyo asito anāsavo;
Manomayo mānacchido ca bandhumā,
Tadādhimutto vimalo ca ketumā.
Ketumbharāgo ca mātaṅgo ariyo,
Athaccuto accutagāmabyāmako;
Sumaṅgalo dabbilo supatiṭṭhito,
Asayho khemābhirato ca sorato.
Durannayo saṅgho athopi ujjayo,
Aparo muni sayho anomanikkamo;
Ānando nando upanando dvādasa,
Bhāradvājo antimadehadhārī.
Bodhi mahānāmo athopi uttaro,
Kesī sikhī sundaro dvārabhājo;
Tissūpatissā bhavabandhanacchidā,
Upasikhi taṇhacchido ca sikhari.
Buddho ahu maṅgalo vītarāgo,
Usabhacchidā jāliniṁ dukkhamūlaṁ;
Santaṁ padaṁ ajjhagamopanīto,
Uposatho sundaro saccanāmo.
Jeto jayanto padumo uppalo ca,
Padumuttaro rakkhito pabbato ca;
Mānatthaddho sobhito vītarāgo,
Kaṇho ca buddho suvimuttacitto.
Ete ca aññe ca mahānubhāvā,
Paccekabuddhā bhavanettikhīṇā;
Te sabbasaṅgātigate mahesī,
Parinibbute vandatha appameyye”ti.
Isigilisuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.