Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya.
SC 2Rồi Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, nói lời hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên lời hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên, ngồi chõ hỏ như con chó. Sau khi ngồi một bên, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng xuống đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
SC 4—Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
SC 5Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng dưới đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
SC 7—Này Puñña, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Puñña, người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này, hay chư Thiên khác”, thời này Puñña, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Puñña, nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
SC 8Khi được nói vậy, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, khóc than chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò
SC 9—Này Puñña, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.
SC 10—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con chó này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò này, đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này, trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
SC 11—Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
SC 12Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn
SC 13—Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta này đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
SC 14—Này Seniya, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Seniya, người nào hạnh trì hạnh con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con bò một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh thân hữu cùng với các loài bò. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời này Seniya, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Seniya, nếu hạnh con bò được thành tựu, thời được sanh trong loài bò, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
SC 15Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, khóc than, chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó
SC 16—Này Seniya, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thồi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.
SC 17—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì, bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, con có lòng tin tưởng đối với Thế Tôn: Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để con có thể từ bỏ hạnh con bò này và để lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, có thể bỏ hạnh con chó này.
SC 18—Này Puñña, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
SC 19—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 20Puñña Koliyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 21—Này Puñña có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Puñña, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Puñña, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Puñña, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Puñña, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.
SC 22Và này Puñña, thế nào là nghiệp đen đưa đến quả báo đen? Ở đây, này Puñña có người tạo ra thân hành có tổn hại, tạo ra khẩu hành có tổn hại, tạo ra ý hành có tổn hại. Sau khi tạo ra thân hành có tổn hại, khẩu hành có tổn hại, ý hành có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ thọ, như các chúng sanh trong địa ngục. Như vậy, này Puñña, là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình, và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích mình. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp đen đưa đến quả báo đen.
SC 23Và này Puñña, thế nào là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng? Ở đây, này Puñña, có người làm thân hành không không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không không có tổn hại. Sau khi làm thân hành không không có tổn hại, khẩu hành không không có tổn hại, ý hành không không có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới không không có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới không không có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ không không có tổn hại, thuần nhất lạc thọ, như chư Thiên Subhakinha (Biến Tịnh thiên). Như vậy này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng.
SC 24Và này Puñña, thế nào là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng? Ở đây, này Puñña, có người làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, các khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, các ý hành có tổn hại và không tổn hại. Sau khi làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, ý hành có tổn hại và không tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại, có lạc thọ khổ thọ xen lẫn, như một số loài Người, một số chư Thiên và một số chúng sanh trong đọa xứ. Như vậy, này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy này Puñña, được gọi là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng.
SC 25Và này Puñña, thế nào là nghiệp không đen trắng, đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp? Ở đây, này Puñña chỗ nào có ý chí (Cetana: Tư tâm sở) đoạn trừ nghiệp đen đưa đến quả báo đen, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng. Ở đây, này Puñña, chỗ nào có ý chí như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Này Puñña, bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết.
SC 26Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 28Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn
SC 29—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
SC 30—Này Seniya, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy ở đây là tánh con người sai biệt nhau.
SC 31—Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này, phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, để thành vị Tỷ-kheo, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm. Sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chư Tỷ-kheo đồng ý, mong chư Tỷ-kheo hãy xuất gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.
SC 32Và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Seniya sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Và Tôn giả Seniya trở thành một vị A-la-hán nữa.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.
Atha kho puṇṇo ca koliyaputto govatiko acelo ca seniyo kukkuravatiko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā kukkurova palikujjitvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati.
Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko …pe…
tatiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati.
Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Addhā kho te ahaṁ, puṇṇa, na labhāmi.
Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti;
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Idha, puṇṇa, ekacco kukkuravataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ.
So kukkuravataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, puṇṇa, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
Iti kho, puṇṇa, sampajjamānaṁ kukkuravataṁ kukkurānaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Evaṁ vutte, acelo seniyo kukkuravatiko parodi, assūni pavattesi.
Atha kho bhagavā puṇṇaṁ koliyaputtaṁ govatikaṁ etadavoca:
“etaṁ kho te ahaṁ, puṇṇa, nālatthaṁ.
Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api ca me idaṁ, bhante, kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko.
Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho acelo seniyo …pe…
tatiyampi kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko.
Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Addhā kho te ahaṁ, seniya, na labhāmi.
Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti;
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Idha, seniya, ekacco govataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ.
So govataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, seniya, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
Iti kho, seniya, sampajjamānaṁ govataṁ gunnaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko parodi, assūni pavattesi.
Atha kho bhagavā acelaṁ seniyaṁ kukkuravatikaṁ etadavoca:
“etaṁ kho te ahaṁ, seniya, nālatthaṁ.
Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api ca me idaṁ, bhante, govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
pahoti bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ yathā ahaṁ cevimaṁ govataṁ pajaheyyaṁ, ayañceva acelo seniyo kukkuravatiko taṁ kukkuravataṁ pajaheyyā”ti.
“Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Cattārimāni, puṇṇa, kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni.
Katamāni cattāri?
Atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ;
atthi, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ;
atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ;
atthi, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ?
Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
So sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati.
Tamenaṁ sabyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhā phassā phusanti.
So sabyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantadukkhaṁ, seyyathāpi sattā nerayikā.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
yaṁ karoti tena upapajjati,
upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ?
Idha, puṇṇa, ekacco abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
So abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā abyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati.
Tamenaṁ abyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ abyābajjhā phassā phusanti.
So abyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno abyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantasukhaṁ, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
yaṁ karoti tena upapajjati,
upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ?
Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
So sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapajjati.
Tamenaṁ sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhāpi abyābajjhāpi phassā phusanti.
So sabyābajjhehipi abyābajjhehipi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhampi abyābajjhampi vedanaṁ vedeti vokiṇṇasukhadukkhaṁ, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati?
Tatra, puṇṇa, yamidaṁ kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā—
idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattatīti.
Imāni kho, puṇṇa, cattāri kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditānī”ti.
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante …pe… pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, seniya, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya.
Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ te cattāro māse parivasanti catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya, ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu, upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
Alattha kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā seniyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, Tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā seniyo arahataṁ ahosīti.
Kukkuravatikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was living in the Koliyan country where there was a town of the Koliyans named Haliddavasana.
SC 2Then Puṇṇa, son of the Koliyans, an ox-duty ascetic, and also Seniya, a naked dog-duty ascetic, went to the Blessed One. Puṇṇa, the ox-duty ascetic, paid homage to the Blessed One and sat down at one side, while Seniya, the naked dog-duty ascetic, exchanged greetings with the Blessed One, and when this courteous and amiable talk was finished, he too sat down at one side curled up like a dog. Puṇṇa, the ox-duty ascetic, said to the Blessed One: “Venerable sir, this Seniya is a naked dog-duty ascetic who does what is hard to do: he eats his food when it is thrown to the ground. He has long taken up and practised that dog-duty. What will be his destination? What will be his future course?”
“Enough, Puṇṇa, let that be. Do not ask me that.”
SC 3A second time…And a third time Puṇṇa, the ox-duty ascetic, said to the Blessed One: “Venerable sir, this Seniya is a naked dog-duty ascetic who does what is hard to do: he eats his food when it is thrown to the ground. He has long taken up and practised that dog-duty. What will be his destination? What will be his future course?”
SC 4“Well, Puṇṇa, since I certainly cannot persuade you when I say: ‘Enough, Puṇṇa, let that be. Do not ask me that,’ I shall therefore answer you.
SC 5“Here, Puṇṇa, someone develops the dog-duty fully and uninterruptedly; he develops the dog-habit fully and uninterruptedly; he develops the dog-mind fully mn.i.388 and uninterruptedly; he develops dog-behaviour fully and uninterruptedly. Having done so, on the dissolution of the body, after death, he reappears in the company of dogs. But if he has such a view as this: ‘By this virtue or observance or asceticism or holy life I shall become a great god or some lesser god,’ that is wrong view in his case. Now there are two destinations for one with wrong view, I say: hell or the animal realm. So, Puṇṇa, if his dog-duty succeeds, it will lead him to the company of dogs; if it fails, it will lead him to hell.”
SC 6When this was said, Seniya the naked dog-duty ascetic cried out and burst into tears. Then the Blessed One told Puṇṇa, son of the Koliyans, the ox-duty ascetic: “Puṇṇa, I could not persuade you when I said: ‘Enough, Puṇṇa, let that be. Do not ask me that.’” Then Seniya the naked dog-duty ascetic said: “Venerable sir, I am not crying because the Blessed One has said this about me, but because I have long taken up and practised this dog-duty. Venerable sir, this Puṇṇa, son of the Koliyans, is an ox-duty ascetic. He has long taken up and practised that ox-duty. What will be his destination? What will be his future course?”
“Enough, Seniya, let that be. Do not ask me that.”
SC 7A second time…And a third time Seniya the naked dog-duty ascetic asked the Blessed One: “Venerable sir, this Puṇṇa, son of the Koliyans, is an ox-duty ascetic. He has long taken up and practised that ox-duty. What will be his destination? What will be his future course?”
SC 8“Well, Seniya, since I certainly cannot persuade you when I say: ‘Enough, Seniya, let that be. Do not ask me that,’ I shall therefore answer you.
SC 9“Here, Seniya, someone develops the ox-duty fully and uninterruptedly; he develops the ox-habit fully and uninterruptedly; he develops the ox-mind fully and uninterruptedly; he develops ox-behaviour fully and uninterruptedly. Having done so, on the dissolution of the body, after death, he reappears in the company of oxen. mn.i.389 But if he has such a view as this: ‘By this virtue or observance or asceticism or holy life I shall become a great god or some lesser god,’ that is wrong view in his case. Now there are two destinations for one with wrong view, I say: hell or the animal realm. So, Seniya, if his ox-duty succeeds, it will lead him to the company of oxen; if it fails, it will lead him to hell.”
SC 10When this was said, Puṇṇa, son of the Koliyans, the ox-duty ascetic cried out and burst into tears. Then the Blessed One told Seniya the naked dog-duty ascetic: “Seniya, I could not persuade you when I said: ‘Enough, Seniya, let that be. Do not ask me that.’”
SC 11Then Puṇṇa the ox-duty ascetic said: “Venerable sir, I am not crying because the Blessed One has said this about me, but because I have long taken up and practised this ox-duty. Venerable sir, I have confidence in the Blessed One thus: ‘The Blessed One is capable of teaching me the Dhamma in such a way that I can abandon this ox-duty and that this Seniya the naked dog-duty ascetic can abandon that dog-duty.’”
SC 12“Then, Puṇṇa, listen and attend closely to what I shall say.”—“Yes, venerable sir,” he replied. The Blessed One said this:
SC 13“Puṇṇa, there are four kinds of action proclaimed by me after realising them for myself with direct knowledge. What are the four? There is dark action with dark result; there is bright action with bright result; there is dark-and-bright action with dark-and-bright result; and there is action that is neither dark nor bright with neither-dark-nor-bright result, action that leads to the destruction of action.
SC 14“And what, Puṇṇa, is dark action with dark result? Here someone generates an afflictive bodily formation, an afflictive verbal formation, an afflictive mental formation. Having generated an afflictive bodily formation, an afflictive verbal formation, an afflictive mental formation, he reappears in an afflictive world. When he has reappeared in an afflictive world, afflictive contacts touch him. Being touched by afflictive contacts, he feels afflictive feelings, exclusively painful, as in the case of the beings in mn.i.390 hell. Thus a being’s reappearance is due to a being: one reappears through the actions one has performed. When one has reappeared, contacts touch one. Thus I say beings are the heirs of their actions. This is called dark action with dark result.
SC 15“And what, Puṇṇa, is bright action with bright result? Here someone generates an unafflictive bodily formation, an unafflictive verbal formation, an unafflictive mental formation. Having generated an unafflictive bodily formation, an unafflictive verbal formation, an unafflictive mental formation, he reappears in an unafflictive world. When he has reappeared in an unafflictive world, unafflictive contacts touch him. Being touched by unafflictive contacts, he feels unafflictive feelings, exclusively pleasant, as in the case of the gods of Refulgent Glory. Thus a being’s reappearance is due to a being; one reappears through the actions one has performed. When one has reappeared, contacts touch one. Thus I say beings are the heirs of their actions. This is called bright action with bright result.
SC 16“And what, Puṇṇa, is dark-and-bright action with dark-and-bright result? Here someone generates a bodily formation that is both afflictive and unafflictive, a verbal formation that is both afflictive and unafflictive, a mental formation that is both afflictive and unafflictive. Having generated a bodily formation, a verbal formation, a mental formation that is both afflictive and unafflictive, he reappears in a world that is both afflictive and unafflictive. When he has reappeared in a world that is both afflictive and unafflictive, both afflictive and unafflictive contacts touch him. Being touched by both afflictive and unafflictive contacts, he feels both afflictive and unafflictive feelings, mingled pleasure and pain, as in the case of human beings and some gods and some beings in the lower worlds. Thus a being’s reappearance is due to a being: one reappears through the actions one has performed. When one has reappeared, contacts touch one. Thus I say beings are the heirs to their actions. This is called dark-and-bright action with dark-and-bright result. mn.i.391
SC 17“And what, Puṇṇa, is action that is neither dark nor bright with neither-dark-nor-bright result, action that leads to the destruction of action? Therein, the volition for abandoning the kind of action that is dark with dark result, and the volition for abandoning the kind of action that is bright with bright result, and the volition for abandoning the kind of action that is dark and bright with dark-and-bright result: this is called action that is neither dark nor bright with neither-dark-nor-bright result, action that leads to the destruction of action. These are the four kinds of action proclaimed by me after realising them for myself with direct knowledge.”
SC 18When this was said, Puṇṇa, son of the Koliyans, the ox-duty ascetic said to the Blessed One: “Magnificent, venerable sir! Magnificent, venerable sir! The Blessed One has made the Dhamma clear in many ways…From today let the Blessed One remember me as a lay follower who has gone to him for refuge for life.”
SC 19But Seniya the naked dog-duty ascetic said to the Blessed One: “Magnificent, venerable sir! Magnificent, venerable sir! The Blessed One has made the Dhamma clear in many ways, as though he were turning upright what had been overthrown, revealing what was hidden, showing the way to one who was lost, or holding up a lamp in the dark for those with eyesight to see forms. I go to the Blessed One for refuge and to the Dhamma and to the Sangha of bhikkhus. I would receive the going forth under the Blessed One, I would receive the full admission.”
SC 20“Seniya, one who formerly belonged to another sect and desires the going forth and the full admission in this Dhamma and Discipline lives on probation for four months. At the end of four months, if the bhikkhus are satisfied with him, they give him the going forth and the full admission to the bhikkhus’ state. But I recognise individual differences in this matter.”
SC 21“Venerable sir, if those who formerly belonged to another sect and desire the going forth and the full admission in this Dhamma and Discipline live on probation for four months, and if at the end of the four months the bhikkhus being satisfied with them give them the going forth and the full admission to the bhikkhus’ state, then I will live on probation for four years. At the end of the four years if the bhikkhus are satisfied with me, let them give me the going forth and the full admission to the bhikkhus’ state.”
SC 22Then Seniya the naked dog-duty ascetic received the going forth under the Blessed One, and he received the full admission. And soon, not long after his full admission, dwelling alone, withdrawn, mn.i.392 diligent, ardent, and resolute, the venerable Seniya, by realising for himself with direct knowledge, here and now entered upon and abided in that supreme goal of the holy life for the sake of which clansmen rightly go forth from the home life into homelessness. He directly knew: “Birth is destroyed, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more coming to any state of being.” And the venerable Seniya became one of the arahants.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya.
SC 2Rồi Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, nói lời hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên lời hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên, ngồi chõ hỏ như con chó. Sau khi ngồi một bên, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng xuống đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
SC 4—Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
SC 5Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng dưới đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?
SC 7—Này Puñña, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Puñña, người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này, hay chư Thiên khác”, thời này Puñña, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Puñña, nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
SC 8Khi được nói vậy, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, khóc than chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò
SC 9—Này Puñña, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.
SC 10—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con chó này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò này, đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này, trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
SC 11—Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.
SC 12Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn
SC 13—Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta này đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?
SC 14—Này Seniya, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Seniya, người nào hạnh trì hạnh con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con bò một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh thân hữu cùng với các loài bò. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời này Seniya, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Seniya, nếu hạnh con bò được thành tựu, thời được sanh trong loài bò, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.
SC 15Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, khóc than, chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó
SC 16—Này Seniya, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thồi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.
SC 17—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì, bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, con có lòng tin tưởng đối với Thế Tôn: Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để con có thể từ bỏ hạnh con bò này và để lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, có thể bỏ hạnh con chó này.
SC 18—Này Puñña, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
SC 19—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 20Puñña Koliyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 21—Này Puñña có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Puñña, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Puñña, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Puñña, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Puñña, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.
SC 22Và này Puñña, thế nào là nghiệp đen đưa đến quả báo đen? Ở đây, này Puñña có người tạo ra thân hành có tổn hại, tạo ra khẩu hành có tổn hại, tạo ra ý hành có tổn hại. Sau khi tạo ra thân hành có tổn hại, khẩu hành có tổn hại, ý hành có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ thọ, như các chúng sanh trong địa ngục. Như vậy, này Puñña, là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình, và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích mình. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp đen đưa đến quả báo đen.
SC 23Và này Puñña, thế nào là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng? Ở đây, này Puñña, có người làm thân hành không không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không không có tổn hại. Sau khi làm thân hành không không có tổn hại, khẩu hành không không có tổn hại, ý hành không không có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới không không có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới không không có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ không không có tổn hại, thuần nhất lạc thọ, như chư Thiên Subhakinha (Biến Tịnh thiên). Như vậy này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng.
SC 24Và này Puñña, thế nào là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng? Ở đây, này Puñña, có người làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, các khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, các ý hành có tổn hại và không tổn hại. Sau khi làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, ý hành có tổn hại và không tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại, có lạc thọ khổ thọ xen lẫn, như một số loài Người, một số chư Thiên và một số chúng sanh trong đọa xứ. Như vậy, này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña, Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy này Puñña, được gọi là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng.
SC 25Và này Puñña, thế nào là nghiệp không đen trắng, đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp? Ở đây, này Puñña chỗ nào có ý chí (Cetana: Tư tâm sở) đoạn trừ nghiệp đen đưa đến quả báo đen, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng. Ở đây, này Puñña, chỗ nào có ý chí như vậy, này Puñña, được gọi là nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Này Puñña, bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết.
SC 26Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 28Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn
SC 29—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
SC 30—Này Seniya, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy ở đây là tánh con người sai biệt nhau.
SC 31—Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này, phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, để thành vị Tỷ-kheo, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm. Sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chư Tỷ-kheo đồng ý, mong chư Tỷ-kheo hãy xuất gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.
SC 32Và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Seniya sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Và Tôn giả Seniya trở thành một vị A-la-hán nữa.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.
Atha kho puṇṇo ca koliyaputto govatiko acelo ca seniyo kukkuravatiko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā kukkurova palikujjitvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati.
Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko …pe…
tatiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati.
Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Addhā kho te ahaṁ, puṇṇa, na labhāmi.
Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti;
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Idha, puṇṇa, ekacco kukkuravataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ.
So kukkuravataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, puṇṇa, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
Iti kho, puṇṇa, sampajjamānaṁ kukkuravataṁ kukkurānaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Evaṁ vutte, acelo seniyo kukkuravatiko parodi, assūni pavattesi.
Atha kho bhagavā puṇṇaṁ koliyaputtaṁ govatikaṁ etadavoca:
“etaṁ kho te ahaṁ, puṇṇa, nālatthaṁ.
Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api ca me idaṁ, bhante, kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko.
Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho acelo seniyo …pe…
tatiyampi kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko.
Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Addhā kho te ahaṁ, seniya, na labhāmi.
Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti;
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Idha, seniya, ekacco govataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ.
So govataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, seniya, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
Iti kho, seniya, sampajjamānaṁ govataṁ gunnaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko parodi, assūni pavattesi.
Atha kho bhagavā acelaṁ seniyaṁ kukkuravatikaṁ etadavoca:
“etaṁ kho te ahaṁ, seniya, nālatthaṁ.
Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api ca me idaṁ, bhante, govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
Evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
pahoti bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ yathā ahaṁ cevimaṁ govataṁ pajaheyyaṁ, ayañceva acelo seniyo kukkuravatiko taṁ kukkuravataṁ pajaheyyā”ti.
“Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Cattārimāni, puṇṇa, kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni.
Katamāni cattāri?
Atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ;
atthi, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ;
atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ;
atthi, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ?
Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
So sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati.
Tamenaṁ sabyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhā phassā phusanti.
So sabyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantadukkhaṁ, seyyathāpi sattā nerayikā.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
yaṁ karoti tena upapajjati,
upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ?
Idha, puṇṇa, ekacco abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
So abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā abyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati.
Tamenaṁ abyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ abyābajjhā phassā phusanti.
So abyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno abyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantasukhaṁ, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
yaṁ karoti tena upapajjati,
upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ?
Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
So sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapajjati.
Tamenaṁ sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhāpi abyābajjhāpi phassā phusanti.
So sabyābajjhehipi abyābajjhehipi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhampi abyābajjhampi vedanaṁ vedeti vokiṇṇasukhadukkhaṁ, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati?
Tatra, puṇṇa, yamidaṁ kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā—
idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattatīti.
Imāni kho, puṇṇa, cattāri kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditānī”ti.
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante …pe… pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, seniya, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya.
Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ te cattāro māse parivasanti catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya, ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu, upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
Alattha kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā seniyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, Tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā seniyo arahataṁ ahosīti.
Kukkuravatikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.