Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo
”
SC 3. “Thưa vâng, Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau
SC 4—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 5—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Tóm lược)
SC 6Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 7—Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
(Liệt kê)
SC 8Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết ”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ nhất.
SC 9Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ hai.
SC 10Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ ba.
SC 11Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ tư.
SC 12Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ năm.
SC 13Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ sáu.
(Giảng về vô ngã)
SC 14Nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt củ mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
SC 15Nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.
SC 16Nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
SC 17Nếu có ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
SC 18Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
SC 19Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
SC 20Nếu có ai nói rằng: “Tai là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “” Mũi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Lưỡi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Thân là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã.
SC 21Nếu có ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã. Nếu có ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã.
SC 22Nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã ”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.
SC 23Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã dược thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên đưa phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
SC 24Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
(Nguồn gốc và đoạn diệt thân kiến)
SC 25Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Ai quán các sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán ái: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
SC 26Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: “” Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Ai quán sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
(Ba độc tùy miên)
SC 27Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 28Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muốn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
(Ðoạn tận ba độc)
SC 29Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ, mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
SC 30Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên cảm xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
(Giải thoát)
SC 31Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng…; yếm ly mũi, yếm ly các hương…; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị…; yếm ly thân, yếm ly các xúc…; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.
SC 32Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Và vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“dhammaṁ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsessāmi, yadidaṁ—
cha chakkāni.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā veditabbā, cha vedanākāyā veditabbā, cha taṇhākāyā veditabbā.
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ.
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ paṭhamaṁ chakkaṁ.
‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Rūpāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ, dhammāyatanaṁ.
‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ dutiyaṁ chakkaṁ.
‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ,
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ,
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ,
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ,
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ,
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.
‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ tatiyaṁ chakkaṁ.
‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso.
‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ catutthaṁ chakkaṁ.
‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā.
‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ pañcamaṁ chakkaṁ.
‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā;
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe…
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā.
‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ chaṭṭhaṁ chakkaṁ.
‘Cakkhu attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘cakkhu attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā.
‘Rūpā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Rūpānaṁ uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘rūpā attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā.
‘Cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Cakkhuviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā.
‘Cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Cakkhusamphassassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā.
‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘vedanā attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā.
‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘taṇhā attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.
‘Sotaṁ attā’ti yo vadeyya …pe…
‘ghānaṁ attā’ti yo vadeyya …pe…
‘jivhā attā’ti yo vadeyya …pe…
‘kāyo attā’ti yo vadeyya …pe…
‘mano attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Manassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘mano attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā.
‘Dhammā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Dhammānaṁ uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘dhammā attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā.
‘Manoviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Manoviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘manoviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā.
‘Manosamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Manosamphassassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘manosamphasso attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā.
‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘vedanā attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā.
‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘taṇhā attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā—
cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
cakkhuviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
cakkhusamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
sotaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
ghānaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
kāyaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manoviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manosamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā—
cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Rūpe ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Cakkhuviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Cakkhusamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Sotaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
ghānaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
kāyaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Manoviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Manosamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo anuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo anuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa avijjānusayo anuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe…
ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe…
jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe…
kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe…
manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo anuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo anuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa avijjānusayo anuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo nānuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo nānuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa avijjānusayo nānuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe….
Ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe….
Jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe….
Kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe….
“Manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo nānuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo nānuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa avijjānusayo nānuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmiṁ nibbindati, rūpesu nibbindati, cakkhuviññāṇe nibbindati, cakkhusamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati.
Sotasmiṁ nibbindati, saddesu nibbindati …pe…
ghānasmiṁ nibbindati, gandhesu nibbindati …
jivhāya nibbindati, rasesu nibbindati …
kāyasmiṁ nibbindati, phoṭṭhabbesu nibbindati …
manasmiṁ nibbindati, dhammesu nibbindati, manoviññāṇe nibbindati, manosamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Imasmiṁ kho pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
Chachakkasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was living at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. There he addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus.”—“Venerable sir,” they replied. The Blessed One said this:
SC 2“Bhikkhus, I shall teach you the Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing; I shall reveal a holy life that is utterly perfect and pure, that is, the six sets of six. Listen and attend closely to what I shall say.”—“Yes, venerable sir,” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:
Synopsis
SC 3“The six internal bases should be understood. The six external bases should be understood. The six classes of consciousness should be understood. The six classes of contact should be understood. The six classes of feeling should be understood. The six classes of craving should be understood.
Enumeration
SC 4i “‘The six internal bases should be understood.’ So it was said. And with reference to what was this said? There are the eye-base, the ear-base, the nose-base, the tongue-base, the body-base, and the mind-base. So it was with reference to this that it was said: ‘The six internal bases should be understood.’ This is the first set of six. mn.iii.281
SC 5ii “‘The six external bases should be understood.’ So it was said. And with reference to what was this said? There are the form-base, the sound-base, the odour-base, the flavour-base, the tangible-base, and the mind-object-base. So it was with reference to this that it was said: ‘The six external bases should be understood. ’ This is the second set of six.
SC 6iii “‘The six classes of consciousness should be understood. ’ So it was said. And with reference to what was this said? Dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; dependent on the ear and sounds, ear-consciousness arises; dependent on the nose and odours, nose-consciousness arises; dependent on the tongue and flavours, tongue-consciousness arises; dependent on the body and tangibles, body-consciousness arises; dependent on the mind and mind-objects, mind-consciousness arises. So it was with reference to this that it was said: ‘The six classes of consciousness should be understood.’ This is the third set of six.
SC 7iv “‘The six classes of contact should be understood.’ So it was said. And with reference to what was this said? Dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; the meeting of the three is contact. Dependent on the ear and sounds, ear-consciousness arises; the meeting of the three is contact. Dependent on the nose and odours, nose-consciousness arises; the meeting of the three is contact. Dependent on the tongue and flavours, tongue-consciousness arises; the meeting of the three is contact. Dependent on the body and tangibles, body-consciousness arises; the meeting of the three is contact. Dependent on the mind and mind-objects, mind-consciousness arises; the meeting of the three is contact. So it was with reference to this that it was said: ‘The six classes of contact should be understood. ’ This is the fourth set of six.
SC 8v “‘The six classes of feeling should be understood.’ So it was said. And with reference to what was this said? Dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling. Dependent on the ear and sounds, ear-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling. Dependent on the nose and odours, nose-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling. Dependent on the tongue and flavours, tongue-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling. Dependent on the body and tangibles, body-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling. Dependent on the mind and mind-objects, mind-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling. So it was with reference to this that it was said: ‘The six classes of feeling should be understood. ’ mn.iii.282 This is the fifth set of six.
SC 9vi “‘The six classes of craving should be understood.’ So it was said. And with reference to what was this said? Dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling; with feeling as condition there is craving. Dependent on the ear and sounds, ear-consciousness arises…with feeling as condition there is craving. Dependent on the nose and odours, nose-consciousness arises…with feeling as condition there is craving. Dependent on the tongue and flavours, tongue-consciousness arises…with feeling as condition there is craving. Dependent on the body and tangibles, body-consciousness arises…with feeling as condition there is craving. Dependent on the mind and mind-objects, mind-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there is feeling; with feeling as condition there is craving. So it was with reference to this that it was said: ‘The six classes of craving should be understood.’ This is the sixth set of six.
Demonstration of not Self
SC 10i “If anyone says, ‘The eye is self,’ that is not tenable. The rise and fall of the eye are discerned, and since its rise and fall are discerned, it would follow: ‘My self rises and falls.’ That is why it is not tenable for anyone to say, ‘The eye is self.’ Thus the eye is not self.
SC 11“If anyone says, ‘Forms are self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Forms are self.’ Thus the eye is not self, forms are not self.
SC 12“If anyone says, ‘Eye-consciousness is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Eye-consciousness is self.’ Thus the eye is not self, forms are not self, eye-consciousness is not self.
SC 13“If anyone says, ‘Eye-contact is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Eye-contact is self.’ Thus the eye is not self, forms are not self, eye-consciousness is not self, eye-contact is not self.
SC 14“If anyone says, ‘Feeling is self’ mn.iii.283 …That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Feeling is self.’ Thus the eye is not self, forms are not self, eye-consciousness is not self, eye-contact is not self, feeling is not self.
SC 15“If anyone says, ‘Craving is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Craving is self.’ Thus the eye is not self, forms are not self, eye-consciousness is not self, eye-contact is not self, feeling is not self, craving is not self.
SC 16ii “If anyone says, ‘The ear is self,’ that is not tenable. The rise and fall of the ear are discerned, and since its rise and fall are discerned, it would follow: ‘My self rises and falls.’ That is why it is not tenable for anyone to say, ‘The ear is self.’ Thus the ear is not self.
SC 17“If anyone says, ‘Sounds are self,’…‘Ear-consciousness is self,’…‘Ear-contact is self,’…‘Feeling is self,’…‘Craving is self’… That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Craving is self.’ Thus the ear is not self, sounds are not self, ear-consciousness is not self, ear-contact is not self, feeling is not self, craving is not self.
SC 18iii “If anyone says, ‘The nose is self,’ that is not tenable. The rise and fall of the nose are discerned, and since its rise and fall are discerned, it would follow: ‘My self rises and falls.’ That is why it is not tenable for anyone to say, ‘The nose is self.’ Thus the nose is not self.
SC 19“If anyone says, ‘Odours are self,’…‘Nose-consciousness is self,’ …‘Nose-contact is self,’…‘Feeling is self,’…‘Craving is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Craving is self.’ Thus the nose is not self, odours are not self, nose-consciousness is not self, nose-contact is not self, feeling is not self, craving is not self.
SC 20iv “If anyone says, ‘The tongue is self,’ that is not tenable. The rise and fall of the tongue are discerned, and since its rise and fall are discerned, it would follow: ‘My self rises and falls.’ That is why it is not tenable for anyone to say, ‘The tongue is self.’ Thus the tongue is not self.
SC 21“If anyone says, ‘Flavours are self,’…‘Tongue-consciousness is self,’…‘Tongue-contact is self,’…‘Feeling is self,’…‘Craving is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Craving is self.’ Thus the tongue is not self, flavours are not self, tongue-consciousness is not self, tongue-contact is not self, feeling is not self, craving is not self.
SC 22v “If anyone says, ‘The body is self,’ that is not tenable. The rise and fall of the body are discerned, and since its rise and fall are discerned, it would follow: ‘My self rises and falls.’ That is why it is not tenable for anyone to say, ‘The body is self.’ Thus the body is not self.
SC 23“If anyone says, ‘Tangibles are self,’…‘Body-consciousness is self,’…‘Body-contact is self,’…‘Feeling is self,’…‘Craving is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Craving is self.’ Thus the body is not self, tangibles are not self, body-consciousness is not self, body-contact is not self, feeling is not self, craving is not self.
SC 24vi “If anyone says, ‘The mind is self,’ that is not tenable. The rise and fall of the mind are discerned, and since its rise and fall are discerned, it would follow: ‘My self rises and falls.’ That is why it is not tenable for anyone to say, ‘The mind is self.’ Thus the mind is not self.
SC 25“If anyone says, ‘Mind-objects are self,’…‘Mind-consciousness is self,’…‘Mind-contact is self,’…‘Feeling is self,’…mn.iii.284 … ‘Craving is self’…That is why it is not tenable for anyone to say, ‘Craving is self.’ Thus the mind is not self, mind-objects are not self, mind-consciousness is not self, mind-contact is not self, feeling is not self, craving is not self.
The Origination of Identity
SC 26“Now, bhikkhus, this is the way leading to the origination of identity. i One regards the eye thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’ One regards forms thus…One regards eye-consciousness thus…One regards eye-contact thus…One regards feeling thus…One regards craving thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’
SC 27ii–vi “One regards the ear thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’…One regards the nose thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’…One regards the tongue thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’…One regards the body thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’…One regards the mind thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’ One regards mind-objects thus…One regards mind-consciousness thus…One regards mind-contact thus…One regards feeling thus…One regards craving thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’
The Cessation of Identity
SC 28“Now, bhikkhus, this is the way leading to the cessation of identity. i One regards the eye thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ One regards forms thus…One regards eye-consciousness thus…One regards eye-contact thus…One regards feeling thus…One regards craving thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 29ii–vi “One regards the ear thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’…One regards the nose thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’…One regards the tongue thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’…One regards the body thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’…One regards the mind thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ One regards mind-objects thus…One regards mind-consciousness thus…One regards mind-contact thus…One regards feeling mn.iii.285 thus…One regards craving thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
The Underlying Tendencies
SC 30i “Bhikkhus, dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there arises a feeling felt as pleasant or painful or neither-painful-nor-pleasant. When one is touched by a pleasant feeling, if one delights in it, welcomes it, and remains holding to it, then the underlying tendency to lust lies within one. When one is touched by a painful feeling, if one sorrows, grieves and laments, weeps beating one’s breast and becomes distraught, then the underlying tendency to aversion lies within one. When one is touched by a neither-painful-nor-pleasant feeling, if one does not understand as it actually is the origination, the disappearance, the gratification, the danger, and the escape in regard to that feeling, then the underlying tendency to ignorance lies within one. Bhikkhus, that one shall here and now make an end of suffering without abandoning the underlying tendency to lust for pleasant feeling, without abolishing the underlying tendency to aversion towards painful feeling, without extirpating the underlying tendency to ignorance in regard to neither-painful-nor-pleasant feeling, without abandoning ignorance and arousing true knowledge—this is impossible.
SC 31ii–vi “Bhikkhus, dependent on the ear and sounds, ear-consciousness arises…Dependent on the mind and mind-objects, mind-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there arises a feeling felt as pleasant or painful or neither-painful-nor-pleasant…Bhikkhus, that one should here and now make an end of suffering without abandoning the underlying tendency to lust for pleasant feeling…without abandoning ignorance and arousing true knowledge—this is impossible. mn.iii.286
The Abandonment of the Underlying Tendencies
SC 32i “Bhikkhus, dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there arises a feeling felt as pleasant or painful or neither-painful-nor-pleasant. When one is touched by a pleasant feeling, if one does not delight in it, welcome it, and remain holding to it, then the underlying tendency to lust does not lie within one. When one is touched by a painful feeling, if one does not sorrow, grieve and lament, does not weep beating one’s breast and become distraught, then the underlying tendency to aversion does not lie within one. When one is touched by a neither-painful-nor-pleasant feeling, if one understands as it actually is the origination, the disappearance, the gratification, the danger, and the escape in regard to that feeling, then the underlying tendency to ignorance does not lie within one. Bhikkhus, that one shall here and now make an end of suffering by abandoning the underlying tendency to lust for pleasant feeling, by abolishing the underlying tendency to aversion towards painful feeling, by extirpating the underlying tendency to ignorance in regard to neither-painful-nor-pleasant feeling, by abandoning ignorance and arousing true knowledge—this is possible.
SC 33ii–vi “Bhikkhus, dependent on the ear and sounds, ear-consciousness arises…Dependent on the mind and mind-objects, mind-consciousness arises; the meeting of the three is contact; with contact as condition there arises a feeling felt as pleasant or painful or neither-painful-nor-pleasant…Bhikkhus, that one shall here and now make an end of suffering by abandoning the underlying tendency to lust for pleasant feeling…by abandoning ignorance and arousing true knowledge—this is possible.
Liberation
SC 34“Seeing thus, bhikkhus, a well-taught noble disciple becomes disenchanted with the eye, disenchanted with forms, disenchanted with eye-consciousness, disenchanted with eye-contact, disenchanted with feeling, disenchanted with craving.
SC 35“He becomes disenchanted with the ear…He becomes disenchanted with the nose…He becomes disenchanted with the tongue…Hebecomes disenchanted with the body…He becomes disenchanted with the mind, disenchanted with mind-objects, disenchanted with mind-consciousness, disenchanted with mind-contact, disenchanted with feeling, disenchanted with craving.
SC 36“Being disenchanted, mn.iii.287 he becomes dispassionate. Through dispassion his mind is liberated. When it is liberated, there comes the knowledge: ‘It is liberated.’ He understands: ‘Birth is destroyed, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more coming to any state of being.’”
SC 37That is what the Blessed One said. The bhikkhus were satisfied and delighted in the Blessed One’s words. Now while this discourse was being spoken, through not clinging the minds of sixty bhikkhus were liberated from the taints.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo
”
SC 3. “Thưa vâng, Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau
SC 4—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 5—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Tóm lược)
SC 6Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 7—Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
(Liệt kê)
SC 8Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải được biết ”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ nhất.
SC 9Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ hai.
SC 10Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ ba.
SC 11Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ tư.
SC 12Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Khi được nói đến: “Sáu thọ thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ năm.
SC 13Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến: “Sáu ái thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ sáu.
(Giảng về vô ngã)
SC 14Nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt củ mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
SC 15Nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.
SC 16Nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
SC 17Nếu có ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
SC 18Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
SC 19Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
SC 20Nếu có ai nói rằng: “Tai là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “” Mũi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Lưỡi là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Thân là tự ngã” …; nếu có ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã.
SC 21Nếu có ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã. Nếu có ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã.
SC 22Nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã ”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.
SC 23Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã dược thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên đưa phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
SC 24Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
(Nguồn gốc và đoạn diệt thân kiến)
SC 25Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Ai quán các sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán ái: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
SC 26Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: “” Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Ai quán sắc … Ai quán nhãn thức … Ai quán nhãn xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái … Ai quán tai … Ai quán mũi … Ai quán lưỡi … Ai quán thân … Ai quán ý … Ai quán các pháp … Ai quán ý thức … Ai quán ý xúc … Ai quán thọ … Ai quán ái: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
(Ba độc tùy miên)
SC 27Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 28Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muốn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
(Ðoạn tận ba độc)
SC 29Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ, mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
SC 30Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức … Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên cảm xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
(Giải thoát)
SC 31Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng…; yếm ly mũi, yếm ly các hương…; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị…; yếm ly thân, yếm ly các xúc…; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.
SC 32Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Và vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“dhammaṁ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsessāmi, yadidaṁ—
cha chakkāni.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā veditabbā, cha vedanākāyā veditabbā, cha taṇhākāyā veditabbā.
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ.
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ paṭhamaṁ chakkaṁ.
‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Rūpāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ, dhammāyatanaṁ.
‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ dutiyaṁ chakkaṁ.
‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ,
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ,
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ,
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ,
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ,
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ.
‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ tatiyaṁ chakkaṁ.
‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso;
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso.
‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ catutthaṁ chakkaṁ.
‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā;
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā.
‘Cha vedanākāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ pañcamaṁ chakkaṁ.
‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti—
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā;
sotañca paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe…
ghānañca paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …
jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …
kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā.
‘Cha taṇhākāyā veditabbā’ti—
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Idaṁ chaṭṭhaṁ chakkaṁ.
‘Cakkhu attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Cakkhussa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘cakkhu attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā.
‘Rūpā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Rūpānaṁ uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘rūpā attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā.
‘Cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Cakkhuviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘cakkhuviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā.
‘Cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Cakkhusamphassassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘cakkhusamphasso attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā.
‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘vedanā attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā.
‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘taṇhā attā’ti yo vadeyya.
Iti cakkhu anattā, rūpā anattā, cakkhuviññāṇaṁ anattā, cakkhusamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.
‘Sotaṁ attā’ti yo vadeyya …pe…
‘ghānaṁ attā’ti yo vadeyya …pe…
‘jivhā attā’ti yo vadeyya …pe…
‘kāyo attā’ti yo vadeyya …pe…
‘mano attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Manassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘mano attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā.
‘Dhammā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Dhammānaṁ uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘dhammā attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā.
‘Manoviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Manoviññāṇassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘manoviññāṇaṁ attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā.
‘Manosamphasso attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Manosamphassassa uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘manosamphasso attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā.
‘Vedanā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Vedanāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘vedanā attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā.
‘Taṇhā attā’ti yo vadeyya taṁ na upapajjati.
Taṇhāya uppādopi vayopi paññāyati.
Yassa kho pana uppādopi vayopi paññāyati, ‘attā me uppajjati ca veti cā’ti iccassa evamāgataṁ hoti.
Tasmā taṁ na upapajjati:
‘taṇhā attā’ti yo vadeyya.
Iti mano anattā, dhammā anattā, manoviññāṇaṁ anattā, manosamphasso anattā, vedanā anattā, taṇhā anattā.
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyasamudayagāminī paṭipadā—
cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
rūpe ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
cakkhuviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
cakkhusamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
sotaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
ghānaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
kāyaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati …pe…
manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, dhamme ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manoviññāṇaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, manosamphassaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, taṇhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā—
cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Rūpe ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Cakkhuviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Cakkhusamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Sotaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
ghānaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
kāyaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe…
manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Manoviññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Manosamphassaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Taṇhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo anuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo anuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa avijjānusayo anuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe…
ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe…
jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe…
kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe…
manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo anuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo anuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti.
Tassa avijjānusayo anuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ appahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ appaṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ asamūhanitvā avijjaṁ appahāya vijjaṁ anuppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Cakkhuñca, bhikkhave, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo nānuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo nānuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa avijjānusayo nānuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Sotañca, bhikkhave, paṭicca sadde ca uppajjati sotaviññāṇaṁ …pe….
Ghānañca, bhikkhave, paṭicca gandhe ca uppajjati ghānaviññāṇaṁ …pe….
Jivhañca, bhikkhave, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe….
Kāyañca, bhikkhave, paṭicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāyaviññāṇaṁ …pe….
“Manañca, bhikkhave, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa rāgānusayo nānuseti.
Dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Tassa paṭighānusayo nānuseti.
Adukkhamasukhāya vedanāya phuṭṭho samāno tassā vedanāya samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa avijjānusayo nānuseti.
So vata, bhikkhave, sukhāya vedanāya rāgānusayaṁ pahāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayaṁ paṭivinodetvā adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayaṁ samūhanitvā avijjaṁ pahāya vijjaṁ uppādetvā diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro bhavissatīti—ṭhānametaṁ vijjati.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmiṁ nibbindati, rūpesu nibbindati, cakkhuviññāṇe nibbindati, cakkhusamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati.
Sotasmiṁ nibbindati, saddesu nibbindati …pe…
ghānasmiṁ nibbindati, gandhesu nibbindati …
jivhāya nibbindati, rasesu nibbindati …
kāyasmiṁ nibbindati, phoṭṭhabbesu nibbindati …
manasmiṁ nibbindati, dhammesu nibbindati, manoviññāṇe nibbindati, manosamphasse nibbindati, vedanāya nibbindati, taṇhāya nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Imasmiṁ kho pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
Chachakkasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.