Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Nālanda, trong rừng Pavārikamba.
SC 2Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta trú tại Nālanda cùng với đại chúng Nigaṇṭha (Ly Hệ Phái). Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi (Trường Khổ Hạnh Giả), sau khi đi khất thực ở Nālanda, ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến rừng Pavārikamba, chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời hỏi thăm Thế Tôn. Sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, vị này đứng một bên. Thế Tôn nói với Nigaṇṭha Dighatapassi đang đứng một bên
SC 3—Này Tapassi, có những ghế ngồi. Nếu ông muốn, hãy ngồi xuống.
SC 4Khi nghe nói vậy, Nigaṇṭha Dighatapassi lấy một ghế thấp, rồi ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Nigaṇṭha Dighatapassi đang ngồi một bên
SC 5—Này Tapassi, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương có bao nhiêu nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 6—Hiền giả Gotama, Nigaṇṭha Nātaputta không có thông lệ chủ trương ‘nghiệp, nghiệp’. Hiền giả Gotama, Nigaṇṭha Nātaputta có thông lệ chủ trương ‘phạt, phạt’.
SC 7—Này Tapassi, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương có bao nhiêu loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 8—Này Hiền giả Gotama, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương có ba loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân phạt, khẩu phạt, ý phạt.
SC 9—Này Tapassi, nhưng có phải thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác?
SC 10—Hiền giả Gotama, thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác.
SC 11—Này Tapassi, ba loại phạt này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương loại phạt nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, thân phạt chăng, khẩu phạt chăng, ý phạt chăng?
SC 12—Hiền giả Gotama, ba loại phạt này được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương thân phạt là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.
SC 13—Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?
SC 14—Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.
SC 15—Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?
SC 16—Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.
SC 17—Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?
SC 18—Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.
SC 19Như vậy Thế Tôn trong cuộc đàm thoại này đã làm Nigaṇṭha Dighatapassi xác nhận cho đến lần thứ ba quan điểm (của mình).
SC 20Khi nghe nói vậy, Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Thế Tôn
SC 21—Hiền giả Gotama, Hiền giả chủ trương có bao nhiêu loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 22—Này Tapassi, Như Lai không có thông lệ chủ trương ‘phạt, phạt’. Này Tapassi, Như Lai có thông lệ chủ trương ‘nghiệp, nghiệp’.
SC 23—Hiền giả Gotama, Hiền giả chủ trương có bao nhiêu loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 24—Này Tapassi, Ta chủ trương có ba loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
SC 25—Hiền giả Gotama, nhưng có phải thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác?
SC 26—Này Tapassi, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác.
SC 27—Hiền giả Gotama, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Hiền giả chủ trương loại nghiệp nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Thân nghiệp chăng, khẩu nghiệp chăng, ý nghiệp chăng?
SC 28—Này Tapassi, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Ta chủ trương ý nghiệp là tối trọng, để tác thành ác ý, để diễn tiến ác nghiệp, thân nghiệp không bằng được, khẩu nghiệp không bằng được.
SC 29—Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?
SC 30—Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.
SC 31—Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?
SC 32—Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.
SC 33—Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?
SC 34—Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.
SC 35Như vậy Nigaṇṭha Dighatapassi trong cuộc đàm thoại này, sau khi đã làm Thế Tôn xác nhận cho đến lần thứ ba quan điểm (của mình), liền từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến chỗ Nigaṇṭha Nātaputta.
SC 36Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta đang ngồi với một đại chúng gia chủ rất đông, do Upāli (Ưu-ba-ly) người thuộc làng Balaka cầm đầu. Nigaṇṭha Nātaputta thấy Nigaṇṭha Dighatapassi từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Nigaṇṭha Dighatapassi
SC 37—Này Tapassi, Ông từ đâu đi đến, trong ban ngày (nóng bức) như thế này?
SC 38—Thưa Tôn giả, con từ Sa-môn Gotama đi đến đây.
SC 39—Này Tapassi, Ông có đàm luận gì với Sa-môn Gotama không?
SC 40—Thưa Tôn giả, con cùng với Sa-môn Gotama có cuộc đàm thoại.
SC 41—Này Tapassi, cuộc đàm thoại của ông với Sa-môn Gotama như thế nào?
SC 42Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi kể lại cho Nigaṇṭha Nātaputta nghe một cách đầy đủ cuộc đàm thoại với Sa-môn Gotama. Ðược nghe vậy, Nigaṇṭha Nātaputta nói với Dighatapassi
SC 43—Tốt lành thay, tốt lành thay, Tapassi! Sa-môn Gotama đã được Nigaṇṭha Dighatapassi trả lời, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được? Thân phạt thật là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu nghiệp không bằng được, ý nghiệp không bằng được.
SC 44Khi được nói vậy, gia chủ Upāli thưa với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 45—Tốt lành thay, tốt lành thay, Tôn giả Tapassi! Sa-môn Gotama đã được Tôn giả Tapassi trả lời như vậy, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được? Thân phạt thật tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được. Thưa Tôn giả, con sẽ đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này. Nếu Sa-môn Gotama làm con xác nhận như đã làm Tôn giả Tapassi xác nhận thời cũng như một người lực sĩ tay nắm chặt lông một con cừu có lông dài, có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy con sẽ dùng lời nói với lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một người lực sĩ nấu rượu, sau khi nhận chìm một thùng rượu lớn xuống hồ nước sâu, nắm một góc thùng, có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy, con dùng lời nói với lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một lực sĩ nghiện rượu sống phóng đãng, sau khi nắm góc một cái sàng, lắc qua, lắc lại, lắc xoay quanh; cũng vậy, con sẽ dùng lời nói với lời nói, lắc qua, lắc lại, lắc xoay quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một con voi lớn sáu mươi tuổi, sau khi lặn xuống một hồ nước sâu, lại chơi trò phun nước; cũng vậy, con nghĩ, con sẽ chơi trò chơi phun nước với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, con sẽ đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này.
SC 46—Này Gia chủ, hãy đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này. Vì rằng, này Gia chủ, chỉ có ta hay Nigaṇṭha Dighatapassi, hay Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama.
SC 47Khi được nói vậy, Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 48—Thưa Tôn giả, con không được hài lòng để Gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo.
SC 49—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp Gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama; có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Này Gia chủ, hãy đi luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này; chỉ có ta, Nigaṇṭha Dighatapassi, hay Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama.
SC 50Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba … Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 51—Thưa Tôn giả, con không được hài lòng để gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo.
SC 52—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama! Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Này Gia chủ, hãy đi luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này; chỉ có ta, Nigaṇṭha Dighatapassi và Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama!
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 53Gia chủ Upāli vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta, thân hữu hướng về Nigaṇṭha Nātaputta, và đi đến rừng xoài Pavārika, chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Upāli bạch Thế Tôn
SC 54—Bạch Thế Tôn, không biết Nigaṇṭha Dighatapassi có đến tại đây không?
SC 55—Này gia chủ, Nigaṇṭha Dighatapassi có đến tại đây.
SC 56—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có đàm thoại với Nigaṇṭha Dighatapassi không?
SC 57—Này Gia chủ, Ta có đàm thoại với Nigaṇṭha Dighatapassi.
SC 58—Bạch Thế Tôn, cuộc đàm thoại của Thế Tôn với Nigaṇṭha Dighatapassi như thế nào?
SC 59Rồi Thế Tôn kể lại cho gia chủ Upāli một cách đầy đủ cuộc đàm thoại với Nigaṇṭha Dighatapassi, Khi nghe nói vậy, gia chủ Upāli bạch Thế Tôn
SC 60—Tốt lành thay, tốt lành thay, Tôn giả Tapassi! Thế Tôn đã được Tôn giả Tapassi trả lời như vậy, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được, vì thân phạt thật là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Khẩu nghiệp không bằng được, ý nghiệp không bằng được.
SC 61—Này Gia chủ, nếu Ông có thể đàm luận y cứ trên sự thật, thời ở đây, có thể có cuộc đàm thoại giữa chúng ta.
SC 62—Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây có cuộc đàm thoại giữa chúng ta.
SC 63—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người Nigaṇṭha, bệnh hoạn, đau khổ, bạo bệnh, từ chối nước lạnh, chỉ uống nước nóng. Người này, vì không được nước lạnh nên mệnh chung. Này Gia chủ, theo Nigaṇṭha Nātaputta, người ấy tái sanh chỗ nào?
SC 64—Bạch Thế Tôn, có hàng chư Thiên được gọi là Manosatta (Ý Trước thiên). Ở đấy người ấy tái sanh. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy chấp trước ý nên mệnh chung.
SC 65—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ kỹ. Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông! Lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông! Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm thoại giữa chúng ta”.
SC 66—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được; ý phạt không bằng được.
SC 67—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người Nigaṇṭha được phòng hộ với sự phòng hộ của bốn loại chế giới, hoàn toàn tự chế ngự đối với nước, hoàn toàn chú tâm (vào sự chế ngự) đối với nước, hoàn toàn loại trừ đối với nước, hoàn toàn thấm nhuần (với sự chế ngự) đối với nước. Vị này khi đi qua, khi đi lại, đã giết hại rất nhiều sinh vật nhỏ bé. Này Gia chủ, theo Nigaṇṭha Nātaputta, người ấy thọ quả báo nào?
SC 68—Bạch Thế Tôn, vì không cố ý, nên Nigaṇṭha Nātaputta xem không phải là một đại tội.
SC 69—Này Gia chủ, nếu người ấy có cố ý thời như thế nào?
SC 70—Bạch Thế Tôn, là một đại tội.
SC 71—Này Gia chủ, ý thức (ấy), Nigaṇṭha Nātaputta xem thuộc về loại gì?
SC 72—Bạch Thế Tôn thuộc về ý phạt.
SC 73—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ. Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp với lời nói sau của Ông, lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông. Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận, y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm thoại giữa chúng ta”.
SC 74—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.
SC 75—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có phải Nālanda này là phú cường và phồn thịnh, dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật?
SC 76—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Nālanda này là phú cường và phồn thịnh, dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật.
SC 77—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người đi đến, với thanh kiếm đưa cao, người này nói: “Trong một sát na, trong một giây phút, ta sẽ làm cho tất cả mọi người ở tại Nālanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt”. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể trong một sát na, trong một giây phút, làm cho tất cả mọi người ở tại Nālanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt không?
SC 78—Bạch Thế Tôn, cho đến mười người, hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người, năm mươi người cũng không có thể, trong một sát na, trong một giây phút, làm cho tất cả mọi người ở tại Nālanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt, huống nữa là chỉ một người nhỏ bé sao có thể sáng chói (làm thành) được?
SC 79—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn đến, có thần thông lực, có tâm tự tại. Vị này nói như sau. “Ta sẽ làm cho Nālanda này trở thành tro tàn với một tâm sân hận”. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn ấy, có thần thông lực, có tâm tự tại, có thể làm cho Nālanda này trở thành tro tàn với một tâm sân hận không?
SC 80—Bạch Thế Tôn, cho đến mười Nālanda, hai mươi, ba mươi Nālanda, bốn mươi Nālanda, năm mươi Nālanda, vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn ấy có thần thông lực, có tâm tự tại có thể làm cho các Nālanda ấy trở thành tro tàn với một tâm sân hận, huống nữa là một Nālanda nhỏ bé này, sao có thể chói sáng được (khỏi bị trở thành tro tàn được)?
SC 81—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ, Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông! Lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông! Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm luận giữa chúng ta”.
SC 82—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.
SC 83—Này Gia chủ. Ông nghĩ thế nào? Ông có nghe các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga đã trở lại thành rừng như trước?
SC 84—Bạch Thế Tôn con có nghe: Các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga đã trở lại thành rừng (như trước).
SC 85—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có thể Ông được nghe vì sao các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga trở thành rừng như trước?
SC 86—Bạch Thế Tôn, con có nghe, các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga trở lại thành rừng (như trước) vì tâm sân hận các vị ẩn sĩ.
SC 87—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông, lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông. Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm luận giữa chúng ta”.
SC 88—Bạch Thế Tôn, với ví dụ đầu tiên, con đã hoan hỷ, con đã thỏa mãn. Những gì con muốn nghe các vấn đáp sai biệt của Thế Tôn, nên con mới nghĩ đóng vai trò đối lập với Thế Tôn. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện, trình bày, giải thích. Vậy nay con quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 89—Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông.
SC 90—Bạch Thế Tôn, con càng bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông”. Bạch Thế Tôn, nếu các ngoại đạo được con làm đệ tử, họ sẽ trương cờ lên và tuyên bố: “Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử chúng tôi”. Nhưng Thế Tôn lại nói với con: “Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông”. Bạch Thế Tôn, lần thứ hai, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 91—Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với Ông!
SC 92—Bạch Thế Tôn, con lại bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình của Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với các Ông”. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Sa-môn Gotama đã nói: “Chỉ bố thí cho Ta, chớ bố thí cho các người khác. Chỉ bố thí cho các đệ tử Ta, chớ bố thí cho đệ tử những người khác. Chỉ bố thí cho Ta mới có phước lớn, bố thí những người khác không được phước lớn. Chỉ bố thí cho những đệ tử của Ta mới có phước lớn, bố thí cho những đệ tử của những người khác không có phước lớn”. Nhưng Thế Tôn lại khuyến khích con bố thí cho các vị Nigaṇṭha. Bạch Thế Tôn, và chúng con ở đây sẽ biết thời nên làm. Bạch Thế Tôn, lần thứ ba, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 93Rồi Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho gia chủ Upāli, tức là thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô các dục lạc, những lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết gia chủ Upāli tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Ngài mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên với gia chủ Upāli: “Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều bị tiêu diệt”. Rồi gia chủ Upāli, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, đạt được vô sở úy, không y cứ người khác đối với các pháp bậc Ðạo sư. Gia chủ Upāli bạch Thế Tôn
SC 94—Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.
SC 95—Này Gia chủ, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
SC 96Rồi Gia chủ Upāli hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi đi về trú xá của mình, sau khi đến bèn nói với người giữ cửa như sau
SC 97—Từ nay trở đi, này người gác cửa, ta sẽ đóng cửa đối với các nam Nigaṇṭha, các nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu có vị Nigaṇṭha nào đến, Ông hãy nói vị ấy như sau: “Tôn giả hãy đứng lại, chớ bước vào! Từ nay trở đi, Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với nam Nigaṇṭha, nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu Tôn giả cần đồ ăn, hãy đứng ở đây. Và có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 98Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upāli.
SC 99Nigaṇṭha Dighatapassi nghe như sau: “Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama”. Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi đi đến chỗ Nigaṇṭha Nātaputta ở, sau khi đến liền nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 100—Thưa Tôn giả, tôi có nghe gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
SC 101—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Và có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.
SC 102Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 103—Thưa Tôn giả, tôi có nghe gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
SC 104—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.
SC 105—Thưa Tôn giả, tôi sẽ đi và tìm biết gia chủ Upāli có trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama hay không.
SC 106—Này Tapassi, hãy đi và tìm biết gia chủ Upāli có trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama hay không.
SC 107Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi đi đến trú xá của gia chủ Upāli. Người giữ cửa thấy Nigaṇṭha Dighatapassi ở đường xa đi đến, khi thấy vậy liền nói với Nigaṇṭha Dighatapassi
SC 108—Thưa Tôn giả, hãy đứng ở đây, chớ có bước vào! Từ nay trở đi, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với nam Nigaṇṭha, nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu Tôn giả cần đồ ăn, hãy đứng ở đây. Có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả.
SC 109—Này Hiền giả, ta không cần đồ ăn.
SC 110Nói xong, Nigaṇṭha Dighatapassi đi trở lui, đến chỗ Nigaṇṭha Nātaputta ở, sau khi đến, liền thưa với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 111—Thưa Tôn giả, sự thật là gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Về vấn đề này, tôi đã không đồng ý với Tôn giả và đã nói: “Thưa Tôn giả, tôi không được hài lòng để gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử các ngoại đạo”. Thưa Tôn giả, nay gia chủ Upāli của Tôn giả đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn rồi.
SC 112—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.
SC 113Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba, Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 114—Thưa Tôn giả, sự thật là gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Về vấn đề này, tôi đã không đồng ý với Tôn giả và đã nói: “Thưa Tôn giả, tôi không được yên lòng để gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư. Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử các ngoại đạo. Thưa Tôn giả, nay gia chủ Upāli của Tôn giả đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn”.
SC 115—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Này Tapassi, ta sẽ đi và tìm biết gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử Sa-môn Gotama hay không.
SC 116Rồi Nigaṇṭha Nātaputta cùng với đại chúng Nigaṇṭha đi đến trú xá của gia chủ Upāli. Người giữ cửa thấy Nigaṇṭha Nātaputta từ xa đi đến, khi thấy vậy liền nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 117—Thưa Tôn giả, hãy đứng ở đây, chớ có bước vào! Từ nay trở đi, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với các nam Nigaṇṭha, các nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả cần các món ăn, hãy đứng ở đây. Có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả.
SC 118—Này người giữ cửa, hãy đi đến gia chủ Upāli, sau khi đến, hãy thưa với gia chủ như sau: “Thưa Tôn giả, Nigaṇṭha Nātaputta cùng với đại chúng Nigaṇṭha đang đứng ở ngoài ngưỡng cửa và muốn yết kiến Tôn giả”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 119Người giữ cửa vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, đi đến gia chủ Upāli, sau khi đến liền thưa với gia chủ Upāli
SC 120—Thưa Tôn giả, có Nigaṇṭha Nātaputta cùng với đại chúng Nigaṇṭha đang đứng ở ngoài ngưỡng cửa và muốn yết kiến Tôn giả.
SC 121—Này Người giữ cửa, hãy vào soạn các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 122Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upāli, sau khi cho vào soạn các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa, đi đến gia chủ Upāli, sau khi đến, liền nói với gia chủ Upāli
SC 123—Thưa Tôn giả, các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa đã được sửa soạn. Tôn giả hãy làm những gì Tôn giả nghĩ là phải thời.
SC 124Rồi gia chủ Upāli đi đến căn phòng chính giữa có cửa, sau khi đến tại chỗ ngồi nào là tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, sau khi ngồi trên chỗ ấy, liền bảo người gác cửa
SC 125—Này Người giữ cửa, hãy đi đến Nigaṇṭha Nātaputta: “Thưa Tôn giả, gia chủ Upāli có nói: “Thưa Tôn giả, nếu muốn, Tôn giả hãy vào”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 126Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upāli, đi đến Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi đến, liền nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 127—Thưa Tôn giả, Gia chủ Upāli có nói: “Thưa Tôn giả, nếu muốn, Tôn giả hãy vào”.
SC 128Rồi Nigaṇṭha Nātaputta với đại chúng Nigaṇṭha đi đến căn phòng ở giữa, có cửa.
SC 129Gia chủ Upāli lúc trước mỗi khi thấy Nigaṇṭha Nātaputta từ xa đi đến, sau khi thấy liền đi ra nghinh tiếp vào tại chỗ nào có chỗ ngồi tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, liền lấy thượng y lau chỗ ngồi ấy, giữ lấy và mời Nigaṇṭha Nātaputta ngồi trên chỗ ngồi ấy. Nhưng tại chỗ có chỗ ngồi tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, gia chủ Upāli lại ngồi trên chỗ ngồi ấy và nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 130—Thưa Tôn giả, có những chỗ ngồi. Nếu muốn, Tôn giả hãy ngồi.
SC 131Khi nghe nói vậy, Nigaṇṭha Nātaputta nói với gia chủ Upāli
SC 132—Này Gia chủ, Ông thật là điên cuồng. Này Gia chủ, Ông thật là ngu si. Ông nói: “Thưa Tôn giả, tôi sẽ đi luận chiến với Sa-môn Gotama”. Sau khi đi, Ông đã trở về bị trói buộc trong lưới lớn luận nghị. Này Gia chủ, ví như người đi với hai cao hoàn, đi về với cao hoàn bị thiến. Này Gia chủ, như người đi với hai con mắt, đi về với hai con mắt bị khoét. Cũng vậy, này Gia chủ, Ông nói: “Thưa Tôn giả, con sẽ đi luận chiến với Sa-môn Gotama, sau khi đi đã trở về bị trói buộc trong lưới lớn luận nghị”. Này Gia chủ, Ông đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn rồi.
SC 133—Thưa Tôn giả, vi diệu thay, huyễn thuật lôi cuốn này! Tốt lành thay, huyễn thuật lôi cuốn này! Thưa Tôn giả, nếu bà con huyết thống thân yêu của tôi được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc, hạnh phúc lâu dài cho các bà con huyết thống của tôi. Thưa Tôn giả, nếu tất cả các người Sát đế ly được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc hạnh phúc lâu dài cho tất cả các vị Sát-đế-lị. Thưa Tôn giả, nếu tất cả các người Bà-la-môn … nếu tất cả các người Vessa (Phệ-xá) … nếu tất cả các người Sudda (Thủ-đà) được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc, và hạnh phúc lâu dài cho tất cả các người Sudda. Thưa Tôn giả, nếu thế giới với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người được huyễn thuật này lôi cuốn, thời như vậy là an lạc, hạnh phúc lâu dài cho thế giới với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người. Thưa Tôn giả, tôi sẽ nói cho Tôn giả ví dụ này. Ở đây, những người có trí nhờ ví dụ sẽ biết rõ ý nghĩa của lời nói.
SC 134Thưa Tôn giả, thuở xưa có người Bà-la-môn đã về già, tuổi đã lớn, bậc trưởng lão, có người vợ còn trẻ, trong tuổi thanh xuân, (người vợ này) đang mang thai, sắp đến kỳ sinh nở. Thưa Tôn giả, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, người Bà-la-môn nói với cô vợ trẻ: “Này mình, hãy chờ cho đến khi mình sanh. Nếu mình sanh con trai, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con đực mang về để cùng chơi với đứa con trai của mình. Còn nếu mình sanh con gái, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con cái và mang về để cùng chơi với đứa con gái của mình”. Thưa Tôn giả, lần thứ hai, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn ấy: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, lần thứ hai, người Bà-la-môn ấy nói với cô vợ trẻ: “Này mình, hãy chờ cho đến khi mình sanh. Nếu mình sanh con trai, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con đực mang về để cùng chơi với đứa con trai của mình. Còn nếu mình sanh con gái, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con cái và mang về để cùng chơi với đứa con gái của mình”. Thưa Tôn giả, lần thứ ba, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn ấy: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy vì quá yêu thương, quá ái luyến cô vợ trẻ của mình nên đi chợ mua một con khỉ đực, đem về và nói với cô vợ trẻ: “Này mình, đây là con khỉ con đực, tôi mua ở chợ và mang về, hãy để nó cùng chơi với con của mình”. Thưa Tôn giả, khi nghe nói vậy cô vợ trẻ ấy nói với người Bà-la-môn: “Này Bà-la-môn hãy đi, đem con khỉ con đực này đến Rattapani con người thợ nhuộm, sau khi đến hãy nói với Rattapani con người thợ nhuộm: “Này bạn Rattapani, tôi muốn con khỉ đực này được nhuộm với màu vàng, được khéo đập, khéo ủi xung quanh và cả hai phía được làm thành mềm dịu” Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy vì quá yêu thương, quá ái luyến cô vợ trẻ của mình đem con khỉ con đực này đi đến Rattapani, con người thợ nhuộm, khi đến xong liền nói với Rattapani, con người thợ nhuộm: “Này bạn Rattapani, tôi muốn con khỉ đực này được nhuộm màu vàng, được khéo đập, khéo ủi xung quanh, và cả hai phía được làm thành mềm dịu”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, Rattapani, con người thợ nhuộm nói với người Bà-la-môn kia: “Này Tôn giả, con khỉ con đực này có thể nhuộm được, nhưng không có thể đập được, ủi được, không có thể làm thành mềm dịu”. Cũng vậy, thưa Tôn giả, là lý thuyết của những Nigaṇṭha ngu si, lý thuyết này có thể ăn nhuộm đối với những người ngu si, chớ không ăn nhuộm đối với người có trí. Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy, sau một thời gian, lấy một cặp áo mới, đi đến chỗ Rattapani, con người thợ nhuộm, sau khi đến, nói với Rattapani, con người thợ nhuộm: “Này Rattapani, tôi muốn nhuộm cặp áo mới này với màu nhuộm màu vàng, được đập và ủi xung quanh, và cả hai phía được làm thành mềm dịu”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, Rattapani, con người thợ nhuộm, nói với người Bà-la-môn ấy: “Thưa Tôn giả, cặp áo mới này của Tôn giả có thể nhuộm được, có thể đập và ủi xung quanh và có thể làm thành mềm dịu”. Cũng vậy, thưa Tôn giả, là lý thuyết của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có thể ăn nhuộm đối với người có trí, không phải đối với người ngu si, có thể đập được, ủi được, và có thể khiến trở thành mềm dịu”.
SC 135—Này Gia chủ, quần chúng này gồm cả các vua chưa được biết như sau: “Gia chủ Upāli là đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta”. Này Gia chủ, nay chúng tôi xem Gia chủ là đệ tử của ai?
SC 136Ðược nói vậy, gia chủ Upāli từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, chắp tay vái chào về hướng Thế Tôn và nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 137—Thưa Tôn giả, hãy nghe, tôi là đệ tử của ai:
SC 138Bậc Trí sáng suốt,
Ðoạn trừ si ám.
Phá tan hoang vu,
Chiến thắng địch quân.
Ðau khổ đoạn diệt,
Tâm an bình tĩnh.
Giới đức trưởng thành,
Tuệ đức viên minh.
Phiền não nội tịnh,
Rời trần ly cấu.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 139Do dự đoạn trừ,
Biết vừa, biết đủ,
Thế lợi tuyệt không,
Tâm tư hoan hỷ,
Làm Sa-môn hạnh,
Sanh ở nhân gian,
Thân này sau cùng,
Làm người nhân thế.
Bậc Thánh cao nhất,
Rời trần ly cấu.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 140Không tâm do dự,
Khéo hành thiện xảo.
Bậc trì giới luật,
Ðiều ngự tối thượng.
Là Vô Thượng Sĩ,
Sáng chói hào quang,
Nghi hoặc đoạn trừ,
Soi sáng mọi nơi.
Kiêu mạn đoạn tận,
Vô nhân anh hùng.
Tôi thật chính là
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 141Ngài bậc Ngưu Vương,
Tâm tư vô lượng,
Thâm sâu khôn lường
Bậc thánh Mâu ni,
Tác thành an ổn,
Bậc có Trí tuệ,
An trú Pháp vị,
Tự phòng hộ thân,
Vượt qua tham ái,
Bậc Giải Thoát Trí.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 142Ngài bậc Long Vương,
Sống xa thế tục.
Kiết sử đoạn trừ,
Siêu đẳng giải thoát.
Biện tài từ tốn,
Trong sạch thanh tịnh,
Cờ xí triệt hạ,
Tham ái đoạn trừ,
Ðiều ngự nhiếp phục,
Hý luận diệt tận.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn,
SC 143Ðệ nhất tiên nhân.
Không tin lời đồn.
Ba minh thành tựu,
Ðạt quả Phạm thiên.
Tắm sạch thân tâm,
Văn cú thông đạt.
Khinh an yên ổn,
Chánh trí chứng đắc.
Công phá thành trì,
Thiên chủ Ðế thích.
Tôi chính thật là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 144Ngài bậc Thánh Giả,
Tự tu tự tập.
Chứng điều phải chứng,
Thuyết giảng hiện tại,
Chánh niệm tỉnh giác,
Thiền quán tinh tế
Không thiên tà dục,
Không nuôi tâm hận.
Giao động không còn,
Thân tâm tự tại.
Tôi chính thật là
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 145Sống theo chánh đạo,
Trầm tư Thiền tưởng,
Nội tâm không nhiễm,
Thanh tịnh trong sạch,
Không trước không chấp,
Không nguyện không cầu,
Ðộc cư độc tọa,
Chứng tối thượng vị,
Ðã vượt qua dòng,
Giúp người vượt qua.
Tôi thật chính là
Ðệ tử Thế Tôn,
SC 146Bậc chứng tịch tịnh,
Trí tuệ vô biên,
Trí tuệ quảng đại,
Tham ái đoạn tận.
Ngài là Như Lai,
Ngài là Thiện Thệ,
Không người sánh bằng,
Không ai đồng đẳng,
Giàu đức tự tin,
Viên mãn thành tựu.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 147Tham ái đoạn tận,
Giác ngộ chánh giác,
Khói mù tiêu tan,
Ô uế trừ sạch
Xứng đáng cúng dường,
Dạ xoa thanh tịnh.
Vô thượng Thánh nhân,
Không thể cân lường
Ðại nhân Ðại giác
Ðạt đến danh xưng.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 148—Này Gia chủ, Ông chất chứa những ưu điểm này về Sa-môn Gotama từ bao giờ?
SC 149—Thưa Tôn giả, ví như một đống hoa, có nhiều loại khác nhau; người làm vòng hoa thiện xảo hay người đệ tử làm vòng hoa có thể kết thành một vòng hoa có những loại hoa sai biệt. Cũng vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn có nhiều đức tánh, có hàng trăm đức tánh. Thưa Tôn giả, và ai lại không tán thán những bậc đáng tán thán!
SC 150Vì Nigaṇṭha Nātaputta không thể nghe lời tán thán Thế Tôn, nên ngay tại chỗ ấy đã thổ ra huyết nóng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto nāḷandāyaṁ paṭivasati mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ.
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho nāḷandāyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena pāvārikambavanaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ bhagavā etadavoca:
“saṁvijjanti kho, tapassi, āsanāni; sace ākaṅkhasi nisīdā”ti.
Evaṁ vutte, dīghatapassī nigaṇṭho aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ bhagavā etadavoca:
“kati pana, tapassi, nigaṇṭho nāṭaputto kammāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Na kho, āvuso gotama, āciṇṇaṁ nigaṇṭhassa nāṭaputtassa ‘kammaṁ, kamman’ti paññapetuṁ;
‘daṇḍaṁ, daṇḍan’ti kho, āvuso gotama, āciṇṇaṁ nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paññapetun”ti.
“Kati pana, tapassi, nigaṇṭho nāṭaputto daṇḍāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Tīṇi kho, āvuso gotama, nigaṇṭho nāṭaputto daṇḍāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyāti, seyyathidaṁ—
kāyadaṇḍaṁ, vacīdaṇḍaṁ, manodaṇḍan”ti.
“Kiṁ pana, tapassi, aññadeva kāyadaṇḍaṁ, aññaṁ vacīdaṇḍaṁ, aññaṁ manodaṇḍan”ti?
“Aññadeva, āvuso gotama, kāyadaṇḍaṁ, aññaṁ vacīdaṇḍaṁ, aññaṁ manodaṇḍan”ti.
“Imesaṁ pana, tapassi, tiṇṇaṁ daṇḍānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ katamaṁ daṇḍaṁ nigaṇṭho nāṭaputto mahāsāvajjataraṁ paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, yadi vā kāyadaṇḍaṁ, yadi vā vacīdaṇḍaṁ, yadi vā manodaṇḍan”ti?
“Imesaṁ kho, āvuso gotama, tiṇṇaṁ daṇḍānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ kāyadaṇḍaṁ nigaṇṭho nāṭaputto mahāsāvajjataraṁ paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍaṁ, no tathā manodaṇḍan”ti.
“Kāyadaṇḍanti, tapassi, vadesi”?
“Kāyadaṇḍanti, āvuso gotama, vadāmi”.
“Kāyadaṇḍanti, tapassi, vadesi”?
“Kāyadaṇḍanti, āvuso gotama, vadāmi”.
“Kāyadaṇḍanti, tapassi, vadesi”?
“Kāyadaṇḍanti, āvuso gotama, vadāmī”ti.
Itiha bhagavā dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ imasmiṁ kathāvatthusmiṁ yāvatatiyakaṁ patiṭṭhāpesi.
Evaṁ vutte, dīghatapassī nigaṇṭho bhagavantaṁ etadavoca:
“tvaṁ panāvuso gotama, kati daṇḍāni paññapesi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Na kho, tapassi, āciṇṇaṁ tathāgatassa ‘daṇḍaṁ, daṇḍan’ti paññapetuṁ;
‘kammaṁ, kamman’ti kho, tapassi, āciṇṇaṁ tathāgatassa paññapetun”ti?
“Tvaṁ panāvuso gotama, kati kammāni paññapesi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Tīṇi kho ahaṁ, tapassi, kammāni paññapemi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, seyyathidaṁ—
kāyakammaṁ, vacīkammaṁ, manokamman”ti.
“Kiṁ panāvuso gotama, aññadeva kāyakammaṁ, aññaṁ vacīkammaṁ, aññaṁ manokamman”ti?
“Aññadeva, tapassi, kāyakammaṁ, aññaṁ vacīkammaṁ, aññaṁ manokamman”ti.
“Imesaṁ panāvuso gotama, tiṇṇaṁ kammānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ katamaṁ kammaṁ mahāsāvajjataraṁ paññapesi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, yadi vā kāyakammaṁ, yadi vā vacīkammaṁ, yadi vā manokamman”ti?
“Imesaṁ kho ahaṁ, tapassi, tiṇṇaṁ kammānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ manokammaṁ mahāsāvajjataraṁ paññapemi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā kāyakammaṁ, no tathā vacīkamman”ti.
“Manokammanti, āvuso gotama, vadesi”?
“Manokammanti, tapassi, vadāmi”.
“Manokammanti, āvuso gotama, vadesi”?
“Manokammanti, tapassi, vadāmi”.
“Manokammanti, āvuso gotama, vadesi”?
“Manokammanti, tapassi, vadāmī”ti.
Itiha dīghatapassī nigaṇṭho bhagavantaṁ imasmiṁ kathāvatthusmiṁ yāvatatiyakaṁ patiṭṭhāpetvā uṭṭhāyāsanā yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto mahatiyā gihiparisāya saddhiṁ nisinno hoti bālakiniyā parisāya upālipamukhāya.
Addasā kho nigaṇṭho nāṭaputto dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ dūratova āgacchantaṁ;
disvāna dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ etadavoca:
“handa kuto nu tvaṁ, tapassi, āgacchasi divā divassā”ti?
“Ito hi kho ahaṁ, bhante, āgacchāmi samaṇassa gotamassa santikā”ti.
“Ahu pana te, tapassi, samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, bhante, samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, tapassi, ahu samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ nigaṇṭhassa nāṭaputtassa ārocesi.
Evaṁ vutte, nigaṇṭho nāṭaputto dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ etadavoca:
“sādhu sādhu, tapassi.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena evameva dīghatapassinā nigaṇṭhena samaṇassa gotamassa byākataṁ.
Kiñhi sobhati chavo manodaṇḍo imassa evaṁ oḷārikassa kāyadaṇḍassa upanidhāya.
Atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
Evaṁ vutte, upāli gahapati nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“sādhu sādhu, bhante dīghatapassī.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena evamevaṁ bhadantena tapassinā samaṇassa gotamassa byākataṁ.
Kiñhi sobhati chavo manodaṇḍo imassa evaṁ oḷārikassa kāyadaṇḍassa upanidhāya.
Atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo.
Handa cāhaṁ, bhante, gacchāmi samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropessāmi.
Sace me samaṇo gotamo tathā patiṭṭhahissati yathā bhadantena tapassinā patiṭṭhāpitaṁ; seyyathāpi nāma balavā puriso dīghalomikaṁ eḷakaṁ lomesu gahetvā ākaḍḍheyya parikaḍḍheyya samparikaḍḍheyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ ākaḍḍhissāmi parikaḍḍhissāmi samparikaḍḍhissāmi.
Seyyathāpi nāma balavā soṇḍikākammakāro mahantaṁ soṇḍikākilañjaṁ gambhīre udakarahade pakkhipitvā kaṇṇe gahetvā ākaḍḍheyya parikaḍḍheyya samparikaḍḍheyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ ākaḍḍhissāmi parikaḍḍhissāmi samparikaḍḍhissāmi.
Seyyathāpi nāma balavā soṇḍikādhutto vālaṁ kaṇṇe gahetvā odhuneyya niddhuneyya nipphoṭeyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ odhunissāmi niddhunissāmi nipphoṭessāmi.
Seyyathāpi nāma kuñjaro saṭṭhihāyano gambhīraṁ pokkharaṇiṁ ogāhetvā sāṇadhovikaṁ nāma kīḷitajātaṁ kīḷati; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ sāṇadhovikaṁ maññe kīḷitajātaṁ kīḷissāmi.
Handa cāhaṁ, bhante, gacchāmi samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropessāmī”ti.
“Gaccha tvaṁ, gahapati, samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropehi.
Ahaṁ vā hi, gahapati, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyyaṁ, dīghatapassī vā nigaṇṭho, tvaṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“na kho metaṁ, bhante, ruccati yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyya.
Samaṇo hi, bhante, gotamo māyāvī āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Gaccha tvaṁ, gahapati, samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropehi.
Ahaṁ vā hi, gahapati, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyyaṁ, dīghatapassī vā nigaṇṭho, tvaṁ vā”ti.
Dutiyampi kho dīghatapassī …pe…
tatiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“na kho metaṁ, bhante, ruccati yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyya.
Samaṇo hi, bhante, gotamo māyāvī āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Gaccha tvaṁ, gahapati, samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropehi.
Ahaṁ vā hi, gahapati, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyyaṁ, dīghatapassī vā nigaṇṭho, tvaṁ vā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho upāli gahapati nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena pāvārikambavanaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho upāli gahapati bhagavantaṁ etadavoca:
“āgamā nu khvidha, bhante, dīghatapassī nigaṇṭho”ti?
“Āgamā khvidha, gahapati, dīghatapassī nigaṇṭho”ti.
“Ahu kho pana te, bhante, dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, gahapati, dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, bhante, ahu dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
Atha kho bhagavā yāvatako ahosi dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ upālissa gahapatissa ārocesi.
Evaṁ vutte, upāli gahapati bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu sādhu, bhante tapassī.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena evamevaṁ dīghatapassinā nigaṇṭhena bhagavato byākataṁ.
Kiñhi sobhati chavo manodaṇḍo imassa evaṁ oḷārikassa kāyadaṇḍassa upanidhāya?
Atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Sace kho tvaṁ, gahapati, sacce patiṭṭhāya manteyyāsi siyā no ettha kathāsallāpo”ti.
“Sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idhassa nigaṇṭho ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno sītodakapaṭikkhitto uṇhodakapaṭisevī.
So sītodakaṁ alabhamāno kālaṁ kareyya.
Imassa pana, gahapati, nigaṇṭho nāṭaputto katthūpapattiṁ paññapetī”ti?
“Atthi, bhante, manosattā nāma devā tattha so upapajjati”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, manopaṭibaddho kālaṁ karotī”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi,
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Kiñcāpi, bhante, bhagavā evamāha, atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idhassa nigaṇṭho nāṭaputto cātuyāmasaṁvarasaṁvuto sabbavārivārito sabbavāriyutto sabbavāridhuto sabbavāriphuṭo.
So abhikkamanto paṭikkamanto bahū khuddake pāṇe saṅghātaṁ āpādeti.
Imassa pana, gahapati, nigaṇṭho nāṭaputto kaṁ vipākaṁ paññapetī”ti?
“Asañcetanikaṁ, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto no mahāsāvajjaṁ paññapetī”ti.
“Sace pana, gahapati, cetetī”ti?
“Mahāsāvajjaṁ, bhante, hotī”ti.
“Cetanaṁ pana, gahapati, nigaṇṭho nāṭaputto kismiṁ paññapetī”ti?
“Manodaṇḍasmiṁ, bhante”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Kiñcāpi, bhante, bhagavā evamāha, atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
ayaṁ nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā”ti?
“Evaṁ, bhante, ayaṁ nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idha puriso āgaccheyya ukkhittāsiko.
So evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ yāvatikā imissā nāḷandāya pāṇā te ekena khaṇena ekena muhuttena ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ karissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
pahoti nu kho so puriso yāvatikā imissā nāḷandāya pāṇā te ekena khaṇena ekena muhuttena ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kātun”ti?
“Dasapi, bhante, purisā, vīsampi, bhante, purisā, tiṁsampi, bhante, purisā, cattārīsampi, bhante, purisā, paññāsampi, bhante, purisā nappahonti yāvatikā imissā nāḷandāya pāṇā te ekena khaṇena ekena muhuttena ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kātuṁ.
Kiñhi sobhati eko chavo puriso”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idha āgaccheyya samaṇo vā brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto.
So evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ imaṁ nāḷandaṁ ekena manopadosena bhasmaṁ karissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
pahoti nu kho so samaṇo vā brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto imaṁ nāḷandaṁ ekena manopadosena bhasmaṁ kātun”ti?
“Dasapi, bhante, nāḷandā, vīsampi nāḷandā, tiṁsampi nāḷandā, cattārīsampi nāḷandā, paññāsampi nāḷandā pahoti so samaṇo vā brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto ekena manopadosena bhasmaṁ kātuṁ.
Kiñhi sobhati ekā chavā nāḷandā”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Kiñcāpi, bhante, bhagavā evamāha, atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
sutaṁ te daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti?
“Evaṁ, bhante, sutaṁ me daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, kinti te sutaṁ kena taṁ daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante, isīnaṁ manopadosena taṁ daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Purimenevāhaṁ, bhante, opammena bhagavato attamano abhiraddho.
Api cāhaṁ imāni bhagavato vicitrāni pañhapaṭibhānāni sotukāmo, evāhaṁ bhagavantaṁ paccanīkaṁ kātabbaṁ amaññissaṁ.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Anuviccakāraṁ kho, gahapati, karohi, anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī”ti.
“Imināpāhaṁ, bhante, bhagavato bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho yaṁ maṁ bhagavā evamāha: ‘anuviccakāraṁ kho, gahapati, karohi, anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī’ti.
Mañhi, bhante, aññatitthiyā sāvakaṁ labhitvā kevalakappaṁ nāḷandaṁ paṭākaṁ parihareyyuṁ:
‘upāli amhākaṁ gahapati sāvakattaṁ upagato’ti.
Atha ca pana maṁ bhagavā evamāha:
‘anuviccakāraṁ kho, gahapati, karohi, anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī’ti.
Esāhaṁ, bhante, dutiyampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Dīgharattaṁ kho te, gahapati, nigaṇṭhānaṁ opānabhūtaṁ kulaṁ yena nesaṁ upagatānaṁ piṇḍakaṁ dātabbaṁ maññeyyāsī”ti.
“Imināpāhaṁ, bhante, bhagavato bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho yaṁ maṁ bhagavā evamāha: ‘dīgharattaṁ kho te, gahapati, nigaṇṭhānaṁ opānabhūtaṁ kulaṁ yena nesaṁ upagatānaṁ piṇḍakaṁ dātabbaṁ maññeyyāsī’ti.
Sutaṁ metaṁ, bhante, samaṇo gotamo evamāha:
‘mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan’ti.
Atha ca pana maṁ bhagavā nigaṇṭhesupi dāne samādapeti.
Api ca, bhante, mayamettha kālaṁ jānissāma.
Esāhaṁ, bhante, tatiyampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Atha kho bhagavā upālissa gahapatissa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—
dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi.
Yadā bhagavā aññāsi upāliṁ gahapatiṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—
dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ.
Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya;
evameva upālissa gahapatissa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho upāli gahapati diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca:
“handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, gahapati, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho upāli gahapati bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena sakaṁ nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dovārikaṁ āmantesi:
“ajjatagge, samma dovārika, āvarāmi dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace koci nigaṇṭho āgacchati tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi:
‘tiṭṭha, bhante, mā pāvisi.
Ajjatagge upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Āvaṭaṁ dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace te, bhante, piṇḍakena attho, ettheva tiṭṭha, ettheva te āharissantī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko upālissa gahapatissa paccassosi.
Assosi kho dīghatapassī nigaṇṭho:
“upāli kira gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato”ti.
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, upāli kira gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
Dutiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho …pe…
tatiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante …
pe…
upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
“Handāhaṁ, bhante, gacchāmi yāva jānāmi yadi vā upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato yadi vā no”ti.
“Gaccha tvaṁ, tapassi, jānāhi yadi vā upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato yadi vā no”ti.
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho yena upālissa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Addasā kho dovāriko dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ etadavoca:
“tiṭṭha, bhante, mā pāvisi.
Ajjatagge upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Āvaṭaṁ dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace te, bhante, piṇḍakena attho, ettheva tiṭṭha, ettheva te āharissantī”ti.
“Na me, āvuso, piṇḍakena attho”ti vatvā tato paṭinivattitvā yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saccaṁyeva kho, bhante, yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Etaṁ kho te ahaṁ, bhante, nālatthaṁ, na kho me, bhante, ruccati yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyya.
Samaṇo hi, bhante, gotamo māyāvī āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetīti.
Āvaṭṭo kho te, bhante, upāli gahapati samaṇena gotamena āvaṭṭaniyā māyāyā”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
Dutiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saccaṁyeva, bhante …pe…
upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
Tatiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saccaṁyeva kho, bhante …
pe…
upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
“Handa cāhaṁ, tapassi, gacchāmi yāva cāhaṁ sāmaṁyeva jānāmi yadi vā upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato yadi vā no”ti.
Atha kho nigaṇṭho nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ yena upālissa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Addasā kho dovāriko nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“tiṭṭha, bhante, mā pāvisi.
Ajjatagge upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Āvaṭaṁ dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace te, bhante, piṇḍakena attho, ettheva tiṭṭha, ettheva te āharissantī”ti.
“Tena hi, samma dovārika, yena upāli gahapati tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā upāliṁ gahapatiṁ evaṁ vadehi:
‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ bahidvārakoṭṭhake ṭhito;
so te dassanakāmo’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā yena upāli gahapati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā upāliṁ gahapatiṁ etadavoca:
“nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ bahidvārakoṭṭhake ṭhito;
so te dassanakāmo”ti.
“Tena hi, samma dovārika, majjhimāya dvārasālāya āsanāni paññapehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko upālissa gahapatissa paṭissutvā majjhimāya dvārasālāya āsanāni paññapetvā yena upāli gahapati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā upāliṁ gahapatiṁ etadavoca:
“paññattāni kho, bhante, majjhimāya dvārasālāya āsanāni.
Yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho upāli gahapati yena majjhimā dvārasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā yaṁ tattha āsanaṁ aggañca seṭṭhañca uttamañca paṇītañca tattha sāmaṁ nisīditvā dovārikaṁ āmantesi:
“tena hi, samma dovārika, yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ evaṁ vadehi:
‘upāli, bhante, gahapati evamāha—
pavisa kira, bhante, sace ākaṅkhasī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko upālissa gahapatissa paṭissutvā yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“upāli, bhante, gahapati evamāha:
‘pavisa kira, bhante, sace ākaṅkhasī’”ti.
Atha kho nigaṇṭho nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ yena majjhimā dvārasālā tenupasaṅkami.
Atha kho upāli gahapati—
yaṁ sudaṁ pubbe yato passati nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ dūratova āgacchantaṁ disvāna tato paccuggantvā yaṁ tattha āsanaṁ aggañca seṭṭhañca uttamañca paṇītañca taṁ uttarāsaṅgena sammajjitvā pariggahetvā nisīdāpeti so—
dāni yaṁ tattha āsanaṁ aggañca seṭṭhañca uttamañca paṇītañca tattha sāmaṁ nisīditvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saṁvijjanti kho, bhante, āsanāni;
sace ākaṅkhasi, nisīdā”ti.
Evaṁ vutte, nigaṇṭho nāṭaputto upāliṁ gahapatiṁ etadavoca:
“ummattosi tvaṁ, gahapati, dattosi tvaṁ, gahapati.
‘Gacchāmahaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropessāmī’ti gantvā mahatāsi vādasaṅghāṭena paṭimukko āgato.
Seyyathāpi, gahapati, puriso aṇḍahārako gantvā ubbhatehi aṇḍehi āgaccheyya, seyyathā vā pana gahapati puriso akkhikahārako gantvā ubbhatehi akkhīhi āgaccheyya;
evameva kho tvaṁ, gahapati, ‘gacchāmahaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropessāmī’ti gantvā mahatāsi vādasaṅghāṭena paṭimukko āgato.
Āvaṭṭosi kho tvaṁ, gahapati, samaṇena gotamena āvaṭṭaniyā māyāyā”ti.
“Bhaddikā, bhante, āvaṭṭanī māyā;
kalyāṇī, bhante, āvaṭṭanī māyā;
piyā me, bhante, ñātisālohitā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; piyānampi me assa ñātisālohitānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya;
sabbe cepi, bhante, khattiyā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; sabbesānampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya; sabbe cepi, bhante, brāhmaṇā …pe… vessā …pe… suddā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; sabbesānampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya;
sadevako cepi, bhante, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti.
Tena hi, bhante, upamaṁ te karissāmi.
Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Bhūtapubbaṁ, bhante, aññatarassa brāhmaṇassa jiṇṇassa vuḍḍhassa mahallakassa daharā māṇavikā pajāpatī ahosi gabbhinī upavijaññā.
Atha kho, bhante, sā māṇavikā taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca,
‘gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānehi, yo me kumārakassa kīḷāpanako bhavissatī’ti.
Evaṁ vutte, so brāhmaṇo taṁ māṇavikaṁ etadavoca:
‘āgamehi tāva, bhoti, yāva vijāyati.
Sace tvaṁ, bhoti, kumārakaṁ vijāyissasi, tassā te ahaṁ āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānessāmi, yo te kumārakassa kīḷāpanako bhavissati.
Sace pana tvaṁ, bhoti, kumārikaṁ vijāyissasi, tassā te ahaṁ āpaṇā makkaṭacchāpikaṁ kiṇitvā ānessāmi, yā te kumārikāya kīḷāpanikā bhavissatī’ti.
Dutiyampi kho, bhante, sā māṇavikā …pe…
tatiyampi kho, bhante, sā māṇavikā taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānehi, yo me kumārakassa kīḷāpanako bhavissatī’ti.
Atha kho, bhante, so brāhmaṇo tassā māṇavikāya sāratto paṭibaddhacitto āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānetvā taṁ māṇavikaṁ etadavoca:
‘ayaṁ te, bhoti, āpaṇā makkaṭacchāpako kiṇitvā ānīto, yo te kumārakassa kīḷāpanako bhavissatī’ti.
Evaṁ vutte, bhante, sā māṇavikā taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, imaṁ makkaṭacchāpakaṁ ādāya yena rattapāṇi rajakaputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā rattapāṇiṁ rajakaputtaṁ evaṁ vadehi—
icchāmahaṁ, samma rattapāṇi, imaṁ makkaṭacchāpakaṁ pītāvalepanaṁ nāma raṅgajātaṁ rajitaṁ ākoṭitapaccākoṭitaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhan’ti.
Atha kho, bhante, so brāhmaṇo tassā māṇavikāya sāratto paṭibaddhacitto taṁ makkaṭacchāpakaṁ ādāya yena rattapāṇi rajakaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rattapāṇiṁ rajakaputtaṁ etadavoca:
‘icchāmahaṁ, samma rattapāṇi, imaṁ makkaṭacchāpakaṁ pītāvalepanaṁ nāma raṅgajātaṁ rajitaṁ ākoṭitapaccākoṭitaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhan’ti.
Evaṁ vutte, bhante, rattapāṇi rajakaputto taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘ayaṁ kho te, bhante, makkaṭacchāpako raṅgakkhamo hi kho, no ākoṭanakkhamo, no vimajjanakkhamo’ti.
Evameva kho, bhante, bālānaṁ nigaṇṭhānaṁ vādo raṅgakkhamo hi kho bālānaṁ no paṇḍitānaṁ, no anuyogakkhamo, no vimajjanakkhamo.
Atha kho, bhante, so brāhmaṇo aparena samayena navaṁ dussayugaṁ ādāya yena rattapāṇi rajakaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rattapāṇiṁ rajakaputtaṁ etadavoca:
‘icchāmahaṁ, samma rattapāṇi, imaṁ navaṁ dussayugaṁ pītāvalepanaṁ nāma raṅgajātaṁ rajitaṁ ākoṭitapaccākoṭitaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhan’ti.
Evaṁ vutte, bhante, rattapāṇi rajakaputto taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘idaṁ kho te, bhante, navaṁ dussayugaṁ raṅgakkhamañceva ākoṭanakkhamañca vimajjanakkhamañcā’ti.
Evameva kho, bhante, tassa bhagavato vādo arahato sammāsambuddhassa raṅgakkhamo ceva paṇḍitānaṁ no bālānaṁ, anuyogakkhamo ca vimajjanakkhamo cā”ti.
“Sarājikā kho, gahapati, parisā evaṁ jānāti:
‘upāli gahapati nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvako’ti.
Kassa taṁ, gahapati, sāvakaṁ dhāremā”ti?
Evaṁ vutte, upāli gahapati uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“tena hi, bhante, suṇohi yassāhaṁ sāvako”ti:
“Dhīrassa vigatamohassa,
Pabhinnakhīlassa vijitavijayassa;
Anīghassa susamacittassa,
Vuddhasīlassa sādhupaññassa;
Vesamantarassa vimalassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Akathaṅkathissa tusitassa,
Vantalokāmisassa muditassa;
Katasamaṇassa manujassa,
Antimasārīrassa narassa;
Anopamassa virajassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Asaṁsayassa kusalassa,
Venayikassa sārathivarassa;
Anuttarassa ruciradhammassa,
Nikkaṅkhassa pabhāsakassa;
Mānacchidassa vīrassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Nisabhassa appameyyassa,
Gambhīrassa monapattassa;
Khemaṅkarassa vedassa,
Dhammaṭṭhassa saṁvutattassa;
Saṅgātigassa muttassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Nāgassa pantasenassa,
Khīṇasaṁyojanassa muttassa;
Paṭimantakassa dhonassa,
Pannadhajassa vītarāgassa;
Dantassa nippapañcassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Isisattamassa akuhassa,
Tevijjassa brahmapattassa;
Nhātakassa padakassa,
Passaddhassa viditavedassa;
Purindadassa sakkassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Ariyassa bhāvitattassa,
Pattipattassa veyyākaraṇassa;
Satimato vipassissa,
Anabhinatassa no apanatassa;
Anejassa vasippattassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Samuggatassa jhāyissa,
Ananugatantarassa suddhassa;
Asitassa hitassa,
Pavivittassa aggappattassa;
Tiṇṇassa tārayantassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Santassa bhūripaññassa,
Mahāpaññassa vītalobhassa;
Tathāgatassa sugatassa,
Appaṭipuggalassa asamassa;
Visāradassa nipuṇassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Taṇhacchidassa buddhassa,
Vītadhūmassa anupalittassa;
Āhuneyyassa yakkhassa,
Uttamapuggalassa atulassa;
Mahato yasaggapattassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmī”ti.
“Kadā saññūḷhā pana te, gahapati, ime samaṇassa gotamassa vaṇṇā”ti?
“Seyyathāpi, bhante, nānāpupphānaṁ mahāpuppharāsi, tamenaṁ dakkho mālākāro vā mālākārantevāsī vā vicittaṁ mālaṁ gantheyya;
evameva kho, bhante, so bhagavā anekavaṇṇo anekasatavaṇṇo.
Ko hi, bhante, vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ na karissatī”ti?
Atha kho nigaṇṭhassa nāṭaputtassa bhagavato sakkāraṁ asahamānassa tattheva uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggacchīti.
Upālisuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Nālandā in the mango grove of Pāvārika. Now, Nigaṇṭha Nātaputta was also staying at Nālandā at that time in a large company of naked ascetics. And Dīgha Tapassī, the naked ascetic, having been for alms in Nālandā and returned from his begging round, proceeded, after the meal was over, to the mango grove of Pāvārika where the Blessed One was. Coming into his presence, he exchanged friendly greetings with the Blessed One, and after the customary words of courtesy remained standing nearby. Standing thus at a little distance, the Blessed One addressed him as follows:
“There are seats, Tapassī. Be seated, if you wish.”
Thereupon Dīgha Tapassī, the naked ascetic, took one of the low seats and sat on one side. Then the Blessed One spoke to him thus:
“Well, Tapassī, how many modes of action does Nigaṇṭha Nātaputta declare there are, in doing and perpetrating evil deeds?“
“No, Venerable Gotama, ‘action’ is not the word used by Nigaṇṭha Nātaputta in his teaching. ‘Offence,’ ‘Offence’ is the word he uses.”
“Well, Tapassī, how many modes of ‘offence’ does he declare there are, in doing and perpetrating evil deeds? “
“Verily, Venerable Gotama, there are three (modes of) ‘offence’, declares Nigaṇṭha Nātaputta, in doing and perpetrating evil deeds, namely: ‘Offence’ of body, of word, and of mind.”
“Then, Tapassī, is bodily offence one, verbal offence another, and mental offence still another?”
“Bodily offence, Venerable Gotama, is one, verbal another; and mental still another.”
“Then, Tapassī, these three offences, thus analyzed and differentiated; which offence does Nigaṇṭha Nātaputta declare to be the most heinous in doing and perpetrating evil deeds? Is it bodily, verbal or mental offence?”
“Of these three offences, Venerable Gotama, thus analyzed and differentiated; bodily offence, declares Nigaṇṭha Nātaputta is the most heinous in doing and perpetrating evil deeds; verbal offence and mental offence are not so (heinous).”
“Bodily offence! you say, Tapassī?”
“Bodily offence! I say, Venerable Gotama.”
“Bodily offence! you say, Tapassī?”
“Bodily offence! I say, Venerable Gotama.”
“Bodily offence! you say, Tapassī?”
“Bodily offence! I say, Venerable Gotama.”
Thus did the Blessed One make Dīgha Tapassī confirm this statement even up to the third time.
Thereupon Dīgha Tapassī, the naked ascetic, addressed the Blessed One as follows:
“Well, Venerable Gotama, how many modes of offence do you declare there are, in doing and perpetrating evil deeds?”
“No, Tapassī, the Accomplished One does not use the word ‘offence’ in His Teaching. ‘Action.’ ‘Action’ is what he recognizes.”
“Well, Venerable Gotama, how many modes of ‘action’ do you declare there are, in doing and perpetrating evil deeds?”
“Verily, Tapassī, there are three modes of ‘action’ I declare, in doing and perpetrating evil deeds, namely: ‘Action” of body, of word, and of mind.”
“Then, Venerable Gotama, is bodily action one, verbal action another and mental action still another?”
“Bodily action, Tapassī, is one, verbal another and mental still another.”
“Then, Venerable Gotama, of these three actions, thus analyzed and differentiated, which action do you declare to be the most heinous in doing and perpetrating evil deeds? Is it bodily, or verbal or mental action?”
“Of these three actions, Tapassī, thus analyzed and differentiated, mental action, I declare, is the most heinous in doing and perpetrating evil deeds. Bodily action and verbal action are not so (heinous).”
“Mental action! you say, Venerable Gotama?”
“Mental action! say I, Tapassī.”
“Mental action! you say, Venerable Gotama?”
“Mental action! say I, Tapassī.”
“Mental action! you say, Venerable Gotama?
“Mental action! say I, Tapassī.”
Thus did Dīgha Tapassī, the naked ascetic, make the Blessed One confirm this statement for the third time; and rising from his seat he went to Nigaṇṭha Nātaputta.
Now Nigaṇṭha Nātaputta was seated at that time with many large companies of laymen, including the villagers of Bālaka headed by Upāli. Nigaṇṭha Nātaputta, perceiving Dīgha Tapassī, the naked ascetic, coming in the distance addressed him as follows:
“Well, Tapassī, from where do you come in the middle of the day?”
“I come, Venerable Sir, direct from the presence of the Samaṇa Gotama.”
“Had you any conversation, then, with the Samaṇa Gotama?”
“Indeed, Venerable Sir, I had some conversation with the Samaṇa Gotama.
“Well, Tapassī, what was the trend of the conversation you had with the Samaṇa Gotama?”
Thereupon Dīgha Tapassī, the naked ascetic, told Nigaṇṭha Nātaputta everything, the exact conversation he had with the Blessed One.
When he had finished, Nātaputta said to him:
“Excellent, excellent, Tapassī! As by a learned disciple who knows the doctrine of his teacher perfectly, even so by Dīgha Tapassī, the naked ascetic, was it explained to the Samaṇa Gotama. Of what avail is the insignificant mental offence when compared with the gross bodily offence? Hence, bodily offence is the most heinous in doing and perpetrating evil deeds; verbal offence and mental offence are not so (heinous).”
Thereupon Upāli, the householder, addressed Nigaṇṭha Nātaputta as follows:
“Excellent, excellent, Venerable Sir, [on the part of] Dīgha Tapassī! As by a learned disciple has it been expounded to the Samaṇa Gotama, by the Venerable Sir Tapassī, that bodily offence is the most heinous, whereas verbal offence and mental offence are not so (heinous).
“Well, Venerable Sir, I shall go and refute the Samaṇa Gotama on this matter. If the Samaṇa Gotama should affirm likewise to me as he was made to affirm by the venerable Tapassī, then, just as a strong man would seize a long-haired ram by its fleece and pull it along, draw it towards him, and drag it hither and thither, even so will I pull up, draw towards, me, and drag the Samaṇa Gotama hither and thither in the debate. Or, just as a sturdy distillery-man would fling a huge distillery strainer into a deep vat and holding the rim pull it up, draw it towards him, and drag it hither and thither … or, just as a strong distillery labourer would grip the sieve by the rim and turn it over, turn it back, and shake it to and fro … or, just as an elephant of sixty years plunges into a deep lake and plays a kind of game called ‘the washing of hemp’, even so will I sport, as it were, with the Samaṇa Gotama. Well, Venerable Sir, I shall go and refute the Samaṇa Gotama on this matter.”
“Go, householder, and refute the Samaṇa Gotama on this matter; for either I or Dīgha Tapassī, the naked ascetic, or you should refute the Samaṇa Gotama.”
When he had spoken thus, Dīgha Tapassī, the naked ascetic, addressed Nigaṇṭha Nātaputta as follows:
“Really, Venerable Sir, it does not please me that Upāli, the householder, should engage the Samaṇa Gotama in debate; for the Samaṇa Gotama, Venerable Sir, is a magician; he knows an enticing spell by which he lures the disciples of other religions.”
“It is absolutely impossible, Tapassī; it can never happen that Upāli, the householder, should become a disciple of the Samaṇa Gotama; but there is certainly a possibility of this—that the Samaṇa Gotama might become a disciple of Upāli, the householder! Go, householder, and refute the Samaṇa Gotama on this matter; for Dīgha Tapassī, the naked ascetic, or you or I should refute the Samaṇa Gotama.”
For a second and a third time did Dīgha Tapassī, the naked ascetic, address Nigaṇṭha Nātaputta thus:
“Really, Venerable Sir, it does not please me that Upāli should engage the Samaṇa Gotama in debate. The Samaṇa Gotama lures the disciples of the other religions.”
“It is absolutely impossible, Tapassī, (that Upāli should be converted). One of us should refute the Samaṇa Gotama.”
“Certainly, Venerable Sir,” said Upāli, the householder, in response; and rising from his seat he respectfully saluted Nigaṇṭha Nātaputta, passed round him to the right and proceeded to the mango grove of Pāvārika where the Blessed One was. Approaching the Blessed One, he respectfully saluted him and sat on one side. Thus seated, Upāli, the householder, addressed the Blessed One as follows:
“Venerable Sir, did Dīgha Tapassī, the naked ascetic, come this way?”
“He came this way, householder.”
“Had you, Venerable Sir, any conversation with him?”
”Certainly, householder, I had some conversation with him.”
“What then, Venerable Sir, was the trend of the conversation you had with him?”
Thereupon the Blessed One told him everything, the exact conversation he had with Dīgha Tapassī, the naked ascetic.
When he had finished, Upāli, the householder, said to the Blessed One,
”Excellent, excellent, Venerable Sir, [on the part of] Dīgha Tapassī! As by a learned disciple who knows the doctrine of his teacher perfectly, even so by Dīgha Tapassī the naked ascetic, was it explained to the Blessed One. Of what avail is the insignificant mental offence when compared with the gross bodily offence? Hence, bodily offence is the most heinous in doing and perpetrating evil deeds; verbal offence and mental offence are not so (heinous).”
“If you, O householder, holding fast to the truth, would debate, then, we may have a conversation on this matter.”
”I, holding fast to the truth, Venerable Sir, will debate. Let us have a talk on this matter.”
“What then do you think, householder? Suppose there was a naked ascetic here, afflicted with disease, suffering, seriously ill, who refused cold water and lived on hot water. He, not taking cold water, would die. Now, householder, where does Nigaṇṭha Nātaputta hold that he would be reborn?”
“There are, Venerable Sir, deities known as ‘mind-attached’; there is he reborn—and for what reason? Because, Venerable Sir, he dies with mental attachment.”
“Householder, householder, think carefully, before you reply. The latter does not agree with your former (statement), nor the former with the latter; and these, householder, were the words spoken by you: ‘I holding fast to the truth, Venerable Sir, will debate; let us have a talk on this matter’.”
“Although, Venerable Sir, the Blessed One speaks thus, nevertheless, Venerable Sir, bodily offence is certainly the most heinous in doing and perpetrating evil deeds; verbal offence and mental offence not being so (heinous).”
“What then do you think, householder? Suppose there was a naked ascetic here restrained with the four kinds of restraint: He is restrained as regards all evil; is devoted to restraint as regards all evil; has shaken off all evil; is pervaded with restraint as regards all evil; he, whilst walking up and down, inflicts destruction upon many tiny creatures. Now, householder, what does Nigaṇṭha Nātaputta declare is the result of this?”
“Nigaṇṭha Nātaputta, Venerable Sir, declares that what is unintentional is not heinous.”
”But, householder, if it is intentional?”
”Then, Venerable Sir, it is heinous.”
”In which (offence), O householder, does Nātaputta recognize intention?”
“In mental offence, Venerable Sir.”
“Householder, householder, think carefully before you reply. This latter does not agree with your former statement …”
“Although, Venerable Sir, the Blessed One speaks thus, nevertheless bodily offence is certainly the most heinous.”
“What then do you think of this, householder? This (town of) Nālandā has flourished and prospered, has a vast population, and is crowded with men?”
“Yes, Venerable Sir, this (town of) Nālandā, it is true, has flourished and prospered, has a vast population, and is crowded with men.”
“And what then do you think, householder? Suppose someone were to come here with uplifted sword and say: ‘In one moment—no, in an instant, I will make a shambles—one single mass of flesh, of every living creature in this (town of) Nālandā.’
Do you think, householder, that it is really possible for that individual in one moment—no, in an instant, to make a shambles—one single mass of flesh, of every living creature in this (town of) Nālandā?”
“Even ten persons, Venerable Sir—no, twenty, thirty, forty, or even fifty persons, will not suffice! Then of what avail is one insignificant person.”
“What then do you think, householder? Suppose a Samaṇa or Brahmin, possessed of supernormal psychic powers and mastery of mind were to come here and say: ‘This (town of) Nālandā will I reduce to ashes by one thought of intense hatred.’
Do you think, householder, that it is really possible for such a one to reduce this Nālandā to ashes by one thought of intense hatred?”
“Even ten Nālandās, Venerable Sir—no, twenty, thirty, forty, or even fifty Nālandās, is that Samaṇa or Brahmin, possessed of supernormal psychic powers and mastery of mind, able to reduce to ashes by one thought of intense hatred! What, then, does one insignificant Nālandā avail?”
“Householder, householder, think carefully before you reply. This does not agree with your earlier views.”
“Nevertheless, Venerable Sir, bodily offence is the most heinous; verbal and mental offence not being so (heinous).”
“What then do you think of this, householder? You have heard of the forests—Daṇḍaka, Kālinga, Mejjha and Mātaṅga—and how they became forests?”
“Yes, Venerable Sir, I have heard of them, and of how they became forests.”
“And what do you think (of them), householder? What have you heard? By what means did they become forests? “
“This is what I have heard, Venerable Sir: It was by a mental act of intense hatred of the ascetics that they became forests!”
“Householder, householder, think carefully before you reply … The latter does not agree with your former (statement), nor the former with the latter; and verily these, householder, were the words spoken by you: ‘I, holding fast to the truth, Venerable Sir, will debate; let us have a talk on this matter.”’
“With the very first illustration, Venerable Sir, I was satisfied and delighted with the Blessed One. Nevertheless, as I wished to hear the Blessed One’s beautiful expositions of these problems, I thought of contradicting the Blessed One.
Excellent, Venerable Sir, excellent! It is, Venerable Sir, as if a man were to set upright that which was overturned, or were to reveal that which was hidden, or were to point the way to one who had gone astray, or were to hold a lamp amidst the darkness, so that those who have eyes may see.
Even so has the doctrine been expounded in various ways by the Blessed One.
I, too, Venerable Sir, take refuge in the Buddha, the Doctrine, and the Order. May the Blessed One receive me a follower, as one who has taken refuge from this very day to life’s end.”
“Householder, make a thorough investigation! It is good for a distinguished man like you to (first) make a thorough investigation.”
“Venerable Sir, I am still more satisfied and delighted with the Blessed One because he cautions me thus: ‘Householder, make a thorough investigation! It is well for a distinguished man like you to (first) make a thorough investigation.’ For, Venerable Sir, other religious bodies having acquired me as a disciple, would carry banners round the whole of Nālandā, saying, ‘Upāli, the householder, has become a disciple of ours!’ The Blessed One, on the contrary, admonishes me to (first) make a thorough investigation. For the second time, Venerable Sir, I take refuge in the Buddha, the Doctrine, and the Order.”
“For a long time now, householder, your family has been like a fountain to the naked ascetics. Hence, you must bear in mind that alms should be given to those who come.”
“Such words, Venerable Sir, make me still more satisfied and delighted with the Blessed One.
I have heard, Venerable Sir, that the Samaṇa Gotama speaks thus: ‘To me alone should alms be given, not to others; to my disciples alone should alms be given, not to the disciples of others. Alms given to me alone is productive of much fruit, not so the alms given to others; alms given to my disciples alone is productive of much fruit, not so the alms given to the disciples of others,’
But, on the contrary, the Blessed One advises me to bestow alms on the naked ascetics also! Well, Venerable Sir, we shall know when that is suitable.
For the third time, Venerable Sir, I take refuge in the Buddha, the Doctrine, and the Order.
May the Blessed One receive me as a follower; as one who has taken refuge from this very day to life’s end.”
Then the Blessed One discoursed to him a graduated sermon, that is to say, he spoke on the subjects of liberality, virtue, the heavens, on the evil consequences, the vanity and the depravity of sensual pleasures, and on the advantages of renunciation.
When the Blessed One perceived that the mind of Upāli, the householder, was prepared, pliant, free from obstacles, elevated and lucid, then he revealed to him that exalted doctrine of the Buddhas, viz. Suffering, its Cause, its Ceasing and the Path.
Just as a clean cloth, free from stain, would take the dye perfectly, even so, to Upāli, the householder, whilst seated in that place, there arose (in him) the spotless, stainless vision of Truth. He knew: Whatsoever has causally arisen must inevitably pass utterly away.’
Then Upāli, the householder, having thus, in the Dispensation of the Exalted One seen the Truth; attained to the Truth; comprehended the Truth, penetrated the Truth, overcome doubt; cast off uncertainty and gained full confidence without dependence on another, said to the Blessed One:
“Well, Venerable Sir, we must be going now. We have much to do.”
“You, householder, are aware of the hour.”
Thereupon Upāli, the householder, delighted with the words of the Blessed One, having expressed his gratitude, rose from his seat, saluted the Blessed One respectfully, passed round him to the right, and proceeded to his residence.
Reaching home, he summoned his gate-keeper: “From today, my good gate-keeper, to naked ascetics, male and female, my gates are shut; but wide open are they to Bhikkhus and Bhikkhunis, male and female lay disciples of the Blessed One. If any naked ascetic comes, you should say to him: ‘Halt, Venerable Sir do not enter. Henceforth Upāli, the householder, having become a disciple of the Samaṇa Gotama shuts the gate against the naked ascetics, male and female, but open are they to the Bhikkhus, the Bhikkhunis, and to the male and female lay disciples of the Blessed One. If, Venerable Sir, you are in need of alms, stand just here; they will bring it here to you.’”
”Very good, Venerable Sir,” said the gate-keeper, in response to Upāli, the householder.
Now Dīgha Tapassī, the naked ascetic, heard that Upāli, the householder, had become a disciple of the Samaṇa Gotama. So he went to Nigaṇṭha Nātaputta and said:
“I am given to understand Venerable Sir, that Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama.”
“It is absolutely impossible, Tapassī, it can never happen that Upāli, the householder, should become a disciple of the Samaṇa Gotama; but there is certainly a possibility of this—that the Samaṇa Gotama might become a disciple of Upāli, the householder!”
A second and third time did Dīgha Tapassī, the naked ascetic, address Nātaputta thus:
“I am given to understand Venerable Sir that Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama.”
“It is absolutely impossible, Tapassī, but the Samaṇa Gotama may have become a disciple of Upāli, the householder!“
“Yet, Venerable Sir, I am going to find out whether Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama or not.”
“Go, Tapassī, and find out whether Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama or not.”
Then Dīgha Tapassī proceeded to the residence of Upāli, and the door-keeper, seeing him coming in the distance, said, “Halt Venerable Sir, do not enter. Henceforth Upāli, the householder, having become a disciple of the Samaṇa Gotama shuts the gate against the naked ascetics, male and female, but open are they to the Bhikkhus, the Bhikkhunīs and to the male and female lay disciples of the Blessed One. If, Venerable Sir, you are in need of alms, stand just here; they will bring it here to you.”
“I am not in need of alms, friend,” said he.
Thereupon turning back, he went to Nigaṇṭha Nātaputta and said, “It is only too true Venerable Sir, that Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama. I was not heeded by you, Venerable Sir, with regard to my disapproval of his going to refute the Samaṇa Gotama. Undoubtedly, he is enticed from you, Venerable Sir, by the alluring magic of the Samaṇa Gotama.”
“It is absolutely impossible, Tapassī, but the Samaṇa Gotama may have become a disciple of Upāli, the householder!“
For a second and a third time did Dīgha Tapassī, the naked ascetic, address Nātaputta thus:
“It is only too true, Venerable Sir, that Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama. I was not heeded by you, Venerable Sir, with regard to my disapproval of his going to refute the Samaṇa Gotama. Undoubtedly he is enticed from you, Venerable Sir, by the alluring magic of the Samaṇa Gotama.”
“It is absolutely impossible, Tapassī, but the Samaṇa Gotama may have become a disciple of Upāli, the householder! Nevertheless, Tapassī, I shall go and find out whether Upāli has become a disciple of the Samaṇa Gotama or not.”
So Nigaṇṭha Nātaputta with a large company of naked ascetics proceeded to the residence of Upāli. Seeing him coming in the distance, the door-keeper said:
“Halt, Venerable Sir, do not enter. If you are in need of alms, stand just here; they will bring it here to you.”
“Well then, my good gate-keeper, go and inform Upāli that Venerable Sir Nigaṇṭha, the son of Nāta, with a large company of naked ascetics, is standing (in the porch) outside the gates and wishes to see him.”
“Very good,” replied the gate-keeper, and going to Upāli, the householder, he informed him to that effect.
“In that case, my good gate-keeper, prepare seats in the central vestibule.”
“Very good, Venerable Sir,” he replied.
Having prepared seats in the central vestibule, he went and informed Upāli, “The seats are arranged, Venerable Sir, in the central vestibule. Now (we can proceed), if you consider it is time for it.”
Thereupon Upāli, the householder, went to the central vestibule, and sitting on the highest, finest, greatest, and most valuable seat, he said to the door-keeper:
“Now then, my good door-keeper, go to Nigaṇṭha Nātaputta and say: ‘Venerable Sir, Upāli, the householder, says ‘You may enter, Venerable Sir, if you wish.’”
“Very good, Venerable Sir,” replied the door-keeper.
Going to Nātaputta he said: “Venerable Sir, Upāli, the householder, says ‘Enter then, Venerable Sir, if you wish’”
So Nigaṇṭha Nātaputta, with the large company of naked ascetics, proceeded to the central vestibule.
Now, on previous occasions, immediately Upāli sees Nigaṇṭha Nātaputta coming in the distance, instantly he goes forward to meet him; and having dusted with his upper garment the highest, finest, greatest, and most valuable seat there, holding (the Nigaṇṭha) lightly (by means of the garment), makes him sit down. But on this occasion, Upāli himself occupied the highest, finest, greatest, and most valuable seat there and spoke thus to Nigaṇṭha,
“There are seats, Venerable Sir, be seated if you wish.”
When he spoke thus, Nigaṇṭha said to Upāli, “Are you mad, or are you stupid, householder! ‘I go, Venerable Sir’ (you said) ‘and I shall refute the Samaṇa Gotama’, but you have returned bound by the great entanglement of controversy. It is as if, householder, a gelder were to go and return emasculated himself, or else, as if a person who throws a casting net (for fish) were to go and return with the mesh destroyed. Just so, householder, you went saying that you would refute the Samaṇa Gotama, but you have returned bound by the great entanglement of controversy. Verily, you are caught in the alluring juggling of the Samaṇa Gotama.”
“Excellent, Venerable Sir, is the enticing juggling! Beautiful, Venerable Sir, is the enticing magic! If, Venerable Sir, my beloved kinsmen and blood relatives were caught in this alluring magic, long would it conduce to their well-being and happiness. If, Venerable Sir, all the warriors, Brahmins, merchants, menials were caught in this alluring magic long would it conduce to the well-being and happiness of all. If, Venerable Sir, the world, together with the worlds of the Gods, of Māras, and Brahmas, including the communities of Samaṇas and Brahmins, gods and men, were caught in this alluring magic, long would it conduce to their well-being and happiness. Well then, Venerable Sir, I will give you an illustration, for, in this world, certain intelligent people perceive the meaning of what is said by means of an illustration.
It happened long ago, Venerable Sir, that a certain decrepit hoary old Brahmin had a very young wife who was about to be confined. Then, Venerable Sir, that young woman said to the Brahmin:
’Go, Brahmin; purchase and bring from the market a young monkey. It will be a plaything for my child.’
When she spoke thus, Venerable Sir, he said to her, ‘Wait, dear until the advent of your confinement. If, dear, a boy is born to you, I will purchase and bring you from the market a young male monkey, which will be a plaything for him. But, dear, should a girl be born to you, I will purchase and bring you from the market a young female monkey, which will be a plaything for her.’
For a second time she repeated her request, and he again advised her to wait.
For a third time she repeated her request.
Then Venerable Sir, that Brahmin, moved by the powerful bond of love for that young woman, purchased and brought from the market a young male monkey and said to her, ‘I have purchased and brought you, dear, this young male monkey from the market. It will be a plaything for your boy.’
When he had spoken thus, that young woman said to the Brahmin, ‘Take this young monkey, Brahmin, and go to Rattapāṇi, the son of the laundry-man, and tell him, ‘My good Rattapāṇi, I want this young monkey to be dyed the kind of colour known as “Golden Pride” to be pounded and beaten repeatedly (in the dye), and smoothed back and front.’
Then, Venerable Sir, that Brahmin, moved by the mental bond towards the young woman, took that young monkey to Rattapāṇi, the son of the laundry-man and gave him the necessary instructions.
Whereupon Rattapāṇi said to the Brahmin, ‘This young monkey of yours, Venerable Sir, can certainly be dyed but it cannot be pounded or smoothed.’
In the same way, Venerable Sir, the doctrine of the Nigaṇṭhas can certainly delight foolish people, but not the wise. It cannot be applied or investigated.
Then, Venerable Sir, that Brahmin, on a subsequent occasion, taking a couple of new cloths, went to Rattapāṇi, the son of the laundry-man, and said, ‘My good Rattapāni, I want this couple of new cloths dyed the kind of colour known as “Golden Pride”, to be pounded and turned repeatedly (in the dye) and smoothed back and front.’
Whereupon Rattapāṇi said to the Brahmin, ‘Certainly, Venerable Sir, this couple of new cloths of yours can be dyed, and can also be pounded and smoothed.’
In the same way, Venerable Sir, the doctrine of that exalted, fully enlightened Blessed One can delight the wise only, but not the foolish. It can he applied and investigated.”
“The people, householder, together with the king, know that you, Upāli, the householder, are a disciple of Nigaṇṭha Nātaputta. But, as whose disciple shall we (now) regard you, householder?”
Thereupon Upāli rose from his seat, covered one shoulder with his upper garment and raising joined hands in reverence in the direction of the Blessed One, said to Nigaṇṭha Nātaputta, “Well then Venerable Sir, hear whose disciple I am—
Of him who is wise, free from ignorance,
who has destroyed obstinacy, victor over conquerors,
who is free from suffering, possesses a perfectly impartial mind,
has developed conduct, possesses excellent wisdom,
has passed beyond insecurity, is without stain,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who has no perplexities, is content,
has rejected worldly pleasures, is sympathetic,
has completed the duties of one who renounces the world,
is born as man, bears his last body,
the Man incomparable and without blemish,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who has no doubts, is skilful,
disciplines others, is an excellent guide,
unrivalled, whose nature is pure,
who is free from uncertainty, an Enlightener,
who has cut off pride and is heroic,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who is supreme, immeasurable,
profound, has attained to wisdom,
establishes security, learned, righteous, restrained,
has overcome passion and is delivered,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who is faultless, abides in seclusion,
has cast off the fetters, is emancipated,
possesses the power of wise discussion, sage,
has done away with his banner (i.e. the fight being over),
subdued and free from obsessions,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who is the Seventh of the Sages,
is not a hypocrite, is possessed of the threefold knowledge,
has attained to supremacy, has washed off impurity,
skilful in the composition of verses, is tranquilized,
has comprehended knowledge, gave alms in the past and
is capable, of that Blessed One am I a disciple.
Of him who is noble, is developed,
has attained to advantage, mindful, intuitive,
free from like and dislike,
is devoid of craving and has attained mastery,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who has fared well, is absorbed in meditation,
is independent, is pure, is unattached, is to be abandoned,
is secluded, has attained to pre-eminence,
has crossed (the Ocean of Sorrow) and
causes others to cross,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who is calm, greatly wise, profoundly wise,
who is devoid of greed, accomplished, exalted,
unequalled, peerless, is confident and skilful,
of that Blessed One am I a disciple.
Of him who has cut off craving, enlightened,
devoid of fumes (of desire), free from taint,
worthy of personal offerings, powerful,
the Highest of Individuals, incomparable,
worshipful and attained to supreme glory,
of that Blessed One am I a disciple.
“And when, householder, were these accomplishments of the Samaṇa Gotama gathered thus by you?”
“It is as if, Venerable Sir, there were a huge heap of flowers of many kinds and a skilful garland-maker, or garland-maker’s apprentice, were to make a beautiful garland of it. In the same way, Venerable Sir, many hundreds are the virtues of the Blessed One. Then, Venerable Sir, who will not extol one who is so worthy of praise? “
Then and there hot blood gushed from the mouth of Nigaṇṭha Nātaputta, who could not endure the homage paid to the Blessed One.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Nālanda, trong rừng Pavārikamba.
SC 2Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta trú tại Nālanda cùng với đại chúng Nigaṇṭha (Ly Hệ Phái). Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi (Trường Khổ Hạnh Giả), sau khi đi khất thực ở Nālanda, ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến rừng Pavārikamba, chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời hỏi thăm Thế Tôn. Sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, vị này đứng một bên. Thế Tôn nói với Nigaṇṭha Dighatapassi đang đứng một bên
SC 3—Này Tapassi, có những ghế ngồi. Nếu ông muốn, hãy ngồi xuống.
SC 4Khi nghe nói vậy, Nigaṇṭha Dighatapassi lấy một ghế thấp, rồi ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Nigaṇṭha Dighatapassi đang ngồi một bên
SC 5—Này Tapassi, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương có bao nhiêu nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 6—Hiền giả Gotama, Nigaṇṭha Nātaputta không có thông lệ chủ trương ‘nghiệp, nghiệp’. Hiền giả Gotama, Nigaṇṭha Nātaputta có thông lệ chủ trương ‘phạt, phạt’.
SC 7—Này Tapassi, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương có bao nhiêu loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 8—Này Hiền giả Gotama, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương có ba loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân phạt, khẩu phạt, ý phạt.
SC 9—Này Tapassi, nhưng có phải thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác?
SC 10—Hiền giả Gotama, thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác.
SC 11—Này Tapassi, ba loại phạt này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương loại phạt nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, thân phạt chăng, khẩu phạt chăng, ý phạt chăng?
SC 12—Hiền giả Gotama, ba loại phạt này được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Nigaṇṭha Nātaputta chủ trương thân phạt là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.
SC 13—Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?
SC 14—Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.
SC 15—Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?
SC 16—Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.
SC 17—Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?
SC 18—Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.
SC 19Như vậy Thế Tôn trong cuộc đàm thoại này đã làm Nigaṇṭha Dighatapassi xác nhận cho đến lần thứ ba quan điểm (của mình).
SC 20Khi nghe nói vậy, Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Thế Tôn
SC 21—Hiền giả Gotama, Hiền giả chủ trương có bao nhiêu loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 22—Này Tapassi, Như Lai không có thông lệ chủ trương ‘phạt, phạt’. Này Tapassi, Như Lai có thông lệ chủ trương ‘nghiệp, nghiệp’.
SC 23—Hiền giả Gotama, Hiền giả chủ trương có bao nhiêu loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?
SC 24—Này Tapassi, Ta chủ trương có ba loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
SC 25—Hiền giả Gotama, nhưng có phải thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác?
SC 26—Này Tapassi, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác.
SC 27—Hiền giả Gotama, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Hiền giả chủ trương loại nghiệp nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Thân nghiệp chăng, khẩu nghiệp chăng, ý nghiệp chăng?
SC 28—Này Tapassi, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Ta chủ trương ý nghiệp là tối trọng, để tác thành ác ý, để diễn tiến ác nghiệp, thân nghiệp không bằng được, khẩu nghiệp không bằng được.
SC 29—Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?
SC 30—Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.
SC 31—Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?
SC 32—Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.
SC 33—Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?
SC 34—Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.
SC 35Như vậy Nigaṇṭha Dighatapassi trong cuộc đàm thoại này, sau khi đã làm Thế Tôn xác nhận cho đến lần thứ ba quan điểm (của mình), liền từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến chỗ Nigaṇṭha Nātaputta.
SC 36Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta đang ngồi với một đại chúng gia chủ rất đông, do Upāli (Ưu-ba-ly) người thuộc làng Balaka cầm đầu. Nigaṇṭha Nātaputta thấy Nigaṇṭha Dighatapassi từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Nigaṇṭha Dighatapassi
SC 37—Này Tapassi, Ông từ đâu đi đến, trong ban ngày (nóng bức) như thế này?
SC 38—Thưa Tôn giả, con từ Sa-môn Gotama đi đến đây.
SC 39—Này Tapassi, Ông có đàm luận gì với Sa-môn Gotama không?
SC 40—Thưa Tôn giả, con cùng với Sa-môn Gotama có cuộc đàm thoại.
SC 41—Này Tapassi, cuộc đàm thoại của ông với Sa-môn Gotama như thế nào?
SC 42Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi kể lại cho Nigaṇṭha Nātaputta nghe một cách đầy đủ cuộc đàm thoại với Sa-môn Gotama. Ðược nghe vậy, Nigaṇṭha Nātaputta nói với Dighatapassi
SC 43—Tốt lành thay, tốt lành thay, Tapassi! Sa-môn Gotama đã được Nigaṇṭha Dighatapassi trả lời, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được? Thân phạt thật là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu nghiệp không bằng được, ý nghiệp không bằng được.
SC 44Khi được nói vậy, gia chủ Upāli thưa với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 45—Tốt lành thay, tốt lành thay, Tôn giả Tapassi! Sa-môn Gotama đã được Tôn giả Tapassi trả lời như vậy, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được? Thân phạt thật tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được. Thưa Tôn giả, con sẽ đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này. Nếu Sa-môn Gotama làm con xác nhận như đã làm Tôn giả Tapassi xác nhận thời cũng như một người lực sĩ tay nắm chặt lông một con cừu có lông dài, có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy con sẽ dùng lời nói với lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một người lực sĩ nấu rượu, sau khi nhận chìm một thùng rượu lớn xuống hồ nước sâu, nắm một góc thùng, có thể kéo tới, giật lui, vần quanh; cũng vậy, con dùng lời nói với lời nói, kéo tới, giật lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một lực sĩ nghiện rượu sống phóng đãng, sau khi nắm góc một cái sàng, lắc qua, lắc lại, lắc xoay quanh; cũng vậy, con sẽ dùng lời nói với lời nói, lắc qua, lắc lại, lắc xoay quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một con voi lớn sáu mươi tuổi, sau khi lặn xuống một hồ nước sâu, lại chơi trò phun nước; cũng vậy, con nghĩ, con sẽ chơi trò chơi phun nước với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, con sẽ đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này.
SC 46—Này Gia chủ, hãy đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này. Vì rằng, này Gia chủ, chỉ có ta hay Nigaṇṭha Dighatapassi, hay Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama.
SC 47Khi được nói vậy, Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 48—Thưa Tôn giả, con không được hài lòng để Gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo.
SC 49—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp Gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama; có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Này Gia chủ, hãy đi luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này; chỉ có ta, Nigaṇṭha Dighatapassi, hay Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama.
SC 50Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba … Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 51—Thưa Tôn giả, con không được hài lòng để gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo.
SC 52—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama! Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Này Gia chủ, hãy đi luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này; chỉ có ta, Nigaṇṭha Dighatapassi và Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama!
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 53Gia chủ Upāli vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta, thân hữu hướng về Nigaṇṭha Nātaputta, và đi đến rừng xoài Pavārika, chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Upāli bạch Thế Tôn
SC 54—Bạch Thế Tôn, không biết Nigaṇṭha Dighatapassi có đến tại đây không?
SC 55—Này gia chủ, Nigaṇṭha Dighatapassi có đến tại đây.
SC 56—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có đàm thoại với Nigaṇṭha Dighatapassi không?
SC 57—Này Gia chủ, Ta có đàm thoại với Nigaṇṭha Dighatapassi.
SC 58—Bạch Thế Tôn, cuộc đàm thoại của Thế Tôn với Nigaṇṭha Dighatapassi như thế nào?
SC 59Rồi Thế Tôn kể lại cho gia chủ Upāli một cách đầy đủ cuộc đàm thoại với Nigaṇṭha Dighatapassi, Khi nghe nói vậy, gia chủ Upāli bạch Thế Tôn
SC 60—Tốt lành thay, tốt lành thay, Tôn giả Tapassi! Thế Tôn đã được Tôn giả Tapassi trả lời như vậy, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được, vì thân phạt thật là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Khẩu nghiệp không bằng được, ý nghiệp không bằng được.
SC 61—Này Gia chủ, nếu Ông có thể đàm luận y cứ trên sự thật, thời ở đây, có thể có cuộc đàm thoại giữa chúng ta.
SC 62—Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây có cuộc đàm thoại giữa chúng ta.
SC 63—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người Nigaṇṭha, bệnh hoạn, đau khổ, bạo bệnh, từ chối nước lạnh, chỉ uống nước nóng. Người này, vì không được nước lạnh nên mệnh chung. Này Gia chủ, theo Nigaṇṭha Nātaputta, người ấy tái sanh chỗ nào?
SC 64—Bạch Thế Tôn, có hàng chư Thiên được gọi là Manosatta (Ý Trước thiên). Ở đấy người ấy tái sanh. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy chấp trước ý nên mệnh chung.
SC 65—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ kỹ. Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông! Lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông! Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm thoại giữa chúng ta”.
SC 66—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được; ý phạt không bằng được.
SC 67—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người Nigaṇṭha được phòng hộ với sự phòng hộ của bốn loại chế giới, hoàn toàn tự chế ngự đối với nước, hoàn toàn chú tâm (vào sự chế ngự) đối với nước, hoàn toàn loại trừ đối với nước, hoàn toàn thấm nhuần (với sự chế ngự) đối với nước. Vị này khi đi qua, khi đi lại, đã giết hại rất nhiều sinh vật nhỏ bé. Này Gia chủ, theo Nigaṇṭha Nātaputta, người ấy thọ quả báo nào?
SC 68—Bạch Thế Tôn, vì không cố ý, nên Nigaṇṭha Nātaputta xem không phải là một đại tội.
SC 69—Này Gia chủ, nếu người ấy có cố ý thời như thế nào?
SC 70—Bạch Thế Tôn, là một đại tội.
SC 71—Này Gia chủ, ý thức (ấy), Nigaṇṭha Nātaputta xem thuộc về loại gì?
SC 72—Bạch Thế Tôn thuộc về ý phạt.
SC 73—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ. Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp với lời nói sau của Ông, lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông. Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận, y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm thoại giữa chúng ta”.
SC 74—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.
SC 75—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có phải Nālanda này là phú cường và phồn thịnh, dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật?
SC 76—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Nālanda này là phú cường và phồn thịnh, dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật.
SC 77—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người đi đến, với thanh kiếm đưa cao, người này nói: “Trong một sát na, trong một giây phút, ta sẽ làm cho tất cả mọi người ở tại Nālanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt”. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể trong một sát na, trong một giây phút, làm cho tất cả mọi người ở tại Nālanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt không?
SC 78—Bạch Thế Tôn, cho đến mười người, hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người, năm mươi người cũng không có thể, trong một sát na, trong một giây phút, làm cho tất cả mọi người ở tại Nālanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt, huống nữa là chỉ một người nhỏ bé sao có thể sáng chói (làm thành) được?
SC 79—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn đến, có thần thông lực, có tâm tự tại. Vị này nói như sau. “Ta sẽ làm cho Nālanda này trở thành tro tàn với một tâm sân hận”. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn ấy, có thần thông lực, có tâm tự tại, có thể làm cho Nālanda này trở thành tro tàn với một tâm sân hận không?
SC 80—Bạch Thế Tôn, cho đến mười Nālanda, hai mươi, ba mươi Nālanda, bốn mươi Nālanda, năm mươi Nālanda, vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn ấy có thần thông lực, có tâm tự tại có thể làm cho các Nālanda ấy trở thành tro tàn với một tâm sân hận, huống nữa là một Nālanda nhỏ bé này, sao có thể chói sáng được (khỏi bị trở thành tro tàn được)?
SC 81—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ, Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông! Lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông! Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm luận giữa chúng ta”.
SC 82—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.
SC 83—Này Gia chủ. Ông nghĩ thế nào? Ông có nghe các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga đã trở lại thành rừng như trước?
SC 84—Bạch Thế Tôn con có nghe: Các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga đã trở lại thành rừng (như trước).
SC 85—Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có thể Ông được nghe vì sao các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga trở thành rừng như trước?
SC 86—Bạch Thế Tôn, con có nghe, các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga trở lại thành rừng (như trước) vì tâm sân hận các vị ẩn sĩ.
SC 87—Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông, lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông. Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm luận giữa chúng ta”.
SC 88—Bạch Thế Tôn, với ví dụ đầu tiên, con đã hoan hỷ, con đã thỏa mãn. Những gì con muốn nghe các vấn đáp sai biệt của Thế Tôn, nên con mới nghĩ đóng vai trò đối lập với Thế Tôn. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện, trình bày, giải thích. Vậy nay con quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 89—Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông.
SC 90—Bạch Thế Tôn, con càng bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông”. Bạch Thế Tôn, nếu các ngoại đạo được con làm đệ tử, họ sẽ trương cờ lên và tuyên bố: “Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử chúng tôi”. Nhưng Thế Tôn lại nói với con: “Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông”. Bạch Thế Tôn, lần thứ hai, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 91—Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với Ông!
SC 92—Bạch Thế Tôn, con lại bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình của Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với các Ông”. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Sa-môn Gotama đã nói: “Chỉ bố thí cho Ta, chớ bố thí cho các người khác. Chỉ bố thí cho các đệ tử Ta, chớ bố thí cho đệ tử những người khác. Chỉ bố thí cho Ta mới có phước lớn, bố thí những người khác không được phước lớn. Chỉ bố thí cho những đệ tử của Ta mới có phước lớn, bố thí cho những đệ tử của những người khác không có phước lớn”. Nhưng Thế Tôn lại khuyến khích con bố thí cho các vị Nigaṇṭha. Bạch Thế Tôn, và chúng con ở đây sẽ biết thời nên làm. Bạch Thế Tôn, lần thứ ba, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 93Rồi Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho gia chủ Upāli, tức là thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô các dục lạc, những lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết gia chủ Upāli tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Ngài mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên với gia chủ Upāli: “Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều bị tiêu diệt”. Rồi gia chủ Upāli, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, đạt được vô sở úy, không y cứ người khác đối với các pháp bậc Ðạo sư. Gia chủ Upāli bạch Thế Tôn
SC 94—Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.
SC 95—Này Gia chủ, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
SC 96Rồi Gia chủ Upāli hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi đi về trú xá của mình, sau khi đến bèn nói với người giữ cửa như sau
SC 97—Từ nay trở đi, này người gác cửa, ta sẽ đóng cửa đối với các nam Nigaṇṭha, các nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu có vị Nigaṇṭha nào đến, Ông hãy nói vị ấy như sau: “Tôn giả hãy đứng lại, chớ bước vào! Từ nay trở đi, Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với nam Nigaṇṭha, nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu Tôn giả cần đồ ăn, hãy đứng ở đây. Và có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 98Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upāli.
SC 99Nigaṇṭha Dighatapassi nghe như sau: “Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama”. Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi đi đến chỗ Nigaṇṭha Nātaputta ở, sau khi đến liền nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 100—Thưa Tôn giả, tôi có nghe gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
SC 101—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Và có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.
SC 102Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 103—Thưa Tôn giả, tôi có nghe gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
SC 104—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.
SC 105—Thưa Tôn giả, tôi sẽ đi và tìm biết gia chủ Upāli có trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama hay không.
SC 106—Này Tapassi, hãy đi và tìm biết gia chủ Upāli có trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama hay không.
SC 107Rồi Nigaṇṭha Dighatapassi đi đến trú xá của gia chủ Upāli. Người giữ cửa thấy Nigaṇṭha Dighatapassi ở đường xa đi đến, khi thấy vậy liền nói với Nigaṇṭha Dighatapassi
SC 108—Thưa Tôn giả, hãy đứng ở đây, chớ có bước vào! Từ nay trở đi, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với nam Nigaṇṭha, nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu Tôn giả cần đồ ăn, hãy đứng ở đây. Có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả.
SC 109—Này Hiền giả, ta không cần đồ ăn.
SC 110Nói xong, Nigaṇṭha Dighatapassi đi trở lui, đến chỗ Nigaṇṭha Nātaputta ở, sau khi đến, liền thưa với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 111—Thưa Tôn giả, sự thật là gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Về vấn đề này, tôi đã không đồng ý với Tôn giả và đã nói: “Thưa Tôn giả, tôi không được hài lòng để gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử các ngoại đạo”. Thưa Tôn giả, nay gia chủ Upāli của Tôn giả đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn rồi.
SC 112—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.
SC 113Lần thứ hai … (như trên) … Lần thứ ba, Nigaṇṭha Dighatapassi nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 114—Thưa Tôn giả, sự thật là gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Về vấn đề này, tôi đã không đồng ý với Tôn giả và đã nói: “Thưa Tôn giả, tôi không được yên lòng để gia chủ Upāli luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư. Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử các ngoại đạo. Thưa Tôn giả, nay gia chủ Upāli của Tôn giả đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn”.
SC 115—Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upāli trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Này Tapassi, ta sẽ đi và tìm biết gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử Sa-môn Gotama hay không.
SC 116Rồi Nigaṇṭha Nātaputta cùng với đại chúng Nigaṇṭha đi đến trú xá của gia chủ Upāli. Người giữ cửa thấy Nigaṇṭha Nātaputta từ xa đi đến, khi thấy vậy liền nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 117—Thưa Tôn giả, hãy đứng ở đây, chớ có bước vào! Từ nay trở đi, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với các nam Nigaṇṭha, các nữ Nigaṇṭha. Cửa sẽ không đóng đối với các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả cần các món ăn, hãy đứng ở đây. Có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả.
SC 118—Này người giữ cửa, hãy đi đến gia chủ Upāli, sau khi đến, hãy thưa với gia chủ như sau: “Thưa Tôn giả, Nigaṇṭha Nātaputta cùng với đại chúng Nigaṇṭha đang đứng ở ngoài ngưỡng cửa và muốn yết kiến Tôn giả”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 119Người giữ cửa vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, đi đến gia chủ Upāli, sau khi đến liền thưa với gia chủ Upāli
SC 120—Thưa Tôn giả, có Nigaṇṭha Nātaputta cùng với đại chúng Nigaṇṭha đang đứng ở ngoài ngưỡng cửa và muốn yết kiến Tôn giả.
SC 121—Này Người giữ cửa, hãy vào soạn các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 122Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upāli, sau khi cho vào soạn các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa, đi đến gia chủ Upāli, sau khi đến, liền nói với gia chủ Upāli
SC 123—Thưa Tôn giả, các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa đã được sửa soạn. Tôn giả hãy làm những gì Tôn giả nghĩ là phải thời.
SC 124Rồi gia chủ Upāli đi đến căn phòng chính giữa có cửa, sau khi đến tại chỗ ngồi nào là tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, sau khi ngồi trên chỗ ấy, liền bảo người gác cửa
SC 125—Này Người giữ cửa, hãy đi đến Nigaṇṭha Nātaputta: “Thưa Tôn giả, gia chủ Upāli có nói: “Thưa Tôn giả, nếu muốn, Tôn giả hãy vào”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 126Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upāli, đi đến Nigaṇṭha Nātaputta, sau khi đến, liền nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 127—Thưa Tôn giả, Gia chủ Upāli có nói: “Thưa Tôn giả, nếu muốn, Tôn giả hãy vào”.
SC 128Rồi Nigaṇṭha Nātaputta với đại chúng Nigaṇṭha đi đến căn phòng ở giữa, có cửa.
SC 129Gia chủ Upāli lúc trước mỗi khi thấy Nigaṇṭha Nātaputta từ xa đi đến, sau khi thấy liền đi ra nghinh tiếp vào tại chỗ nào có chỗ ngồi tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, liền lấy thượng y lau chỗ ngồi ấy, giữ lấy và mời Nigaṇṭha Nātaputta ngồi trên chỗ ngồi ấy. Nhưng tại chỗ có chỗ ngồi tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, gia chủ Upāli lại ngồi trên chỗ ngồi ấy và nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 130—Thưa Tôn giả, có những chỗ ngồi. Nếu muốn, Tôn giả hãy ngồi.
SC 131Khi nghe nói vậy, Nigaṇṭha Nātaputta nói với gia chủ Upāli
SC 132—Này Gia chủ, Ông thật là điên cuồng. Này Gia chủ, Ông thật là ngu si. Ông nói: “Thưa Tôn giả, tôi sẽ đi luận chiến với Sa-môn Gotama”. Sau khi đi, Ông đã trở về bị trói buộc trong lưới lớn luận nghị. Này Gia chủ, ví như người đi với hai cao hoàn, đi về với cao hoàn bị thiến. Này Gia chủ, như người đi với hai con mắt, đi về với hai con mắt bị khoét. Cũng vậy, này Gia chủ, Ông nói: “Thưa Tôn giả, con sẽ đi luận chiến với Sa-môn Gotama, sau khi đi đã trở về bị trói buộc trong lưới lớn luận nghị”. Này Gia chủ, Ông đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn rồi.
SC 133—Thưa Tôn giả, vi diệu thay, huyễn thuật lôi cuốn này! Tốt lành thay, huyễn thuật lôi cuốn này! Thưa Tôn giả, nếu bà con huyết thống thân yêu của tôi được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc, hạnh phúc lâu dài cho các bà con huyết thống của tôi. Thưa Tôn giả, nếu tất cả các người Sát đế ly được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc hạnh phúc lâu dài cho tất cả các vị Sát-đế-lị. Thưa Tôn giả, nếu tất cả các người Bà-la-môn … nếu tất cả các người Vessa (Phệ-xá) … nếu tất cả các người Sudda (Thủ-đà) được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc, và hạnh phúc lâu dài cho tất cả các người Sudda. Thưa Tôn giả, nếu thế giới với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người được huyễn thuật này lôi cuốn, thời như vậy là an lạc, hạnh phúc lâu dài cho thế giới với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người. Thưa Tôn giả, tôi sẽ nói cho Tôn giả ví dụ này. Ở đây, những người có trí nhờ ví dụ sẽ biết rõ ý nghĩa của lời nói.
SC 134Thưa Tôn giả, thuở xưa có người Bà-la-môn đã về già, tuổi đã lớn, bậc trưởng lão, có người vợ còn trẻ, trong tuổi thanh xuân, (người vợ này) đang mang thai, sắp đến kỳ sinh nở. Thưa Tôn giả, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, người Bà-la-môn nói với cô vợ trẻ: “Này mình, hãy chờ cho đến khi mình sanh. Nếu mình sanh con trai, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con đực mang về để cùng chơi với đứa con trai của mình. Còn nếu mình sanh con gái, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con cái và mang về để cùng chơi với đứa con gái của mình”. Thưa Tôn giả, lần thứ hai, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn ấy: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, lần thứ hai, người Bà-la-môn ấy nói với cô vợ trẻ: “Này mình, hãy chờ cho đến khi mình sanh. Nếu mình sanh con trai, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con đực mang về để cùng chơi với đứa con trai của mình. Còn nếu mình sanh con gái, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con cái và mang về để cùng chơi với đứa con gái của mình”. Thưa Tôn giả, lần thứ ba, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn ấy: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy vì quá yêu thương, quá ái luyến cô vợ trẻ của mình nên đi chợ mua một con khỉ đực, đem về và nói với cô vợ trẻ: “Này mình, đây là con khỉ con đực, tôi mua ở chợ và mang về, hãy để nó cùng chơi với con của mình”. Thưa Tôn giả, khi nghe nói vậy cô vợ trẻ ấy nói với người Bà-la-môn: “Này Bà-la-môn hãy đi, đem con khỉ con đực này đến Rattapani con người thợ nhuộm, sau khi đến hãy nói với Rattapani con người thợ nhuộm: “Này bạn Rattapani, tôi muốn con khỉ đực này được nhuộm với màu vàng, được khéo đập, khéo ủi xung quanh và cả hai phía được làm thành mềm dịu” Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy vì quá yêu thương, quá ái luyến cô vợ trẻ của mình đem con khỉ con đực này đi đến Rattapani, con người thợ nhuộm, khi đến xong liền nói với Rattapani, con người thợ nhuộm: “Này bạn Rattapani, tôi muốn con khỉ đực này được nhuộm màu vàng, được khéo đập, khéo ủi xung quanh, và cả hai phía được làm thành mềm dịu”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, Rattapani, con người thợ nhuộm nói với người Bà-la-môn kia: “Này Tôn giả, con khỉ con đực này có thể nhuộm được, nhưng không có thể đập được, ủi được, không có thể làm thành mềm dịu”. Cũng vậy, thưa Tôn giả, là lý thuyết của những Nigaṇṭha ngu si, lý thuyết này có thể ăn nhuộm đối với những người ngu si, chớ không ăn nhuộm đối với người có trí. Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy, sau một thời gian, lấy một cặp áo mới, đi đến chỗ Rattapani, con người thợ nhuộm, sau khi đến, nói với Rattapani, con người thợ nhuộm: “Này Rattapani, tôi muốn nhuộm cặp áo mới này với màu nhuộm màu vàng, được đập và ủi xung quanh, và cả hai phía được làm thành mềm dịu”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, Rattapani, con người thợ nhuộm, nói với người Bà-la-môn ấy: “Thưa Tôn giả, cặp áo mới này của Tôn giả có thể nhuộm được, có thể đập và ủi xung quanh và có thể làm thành mềm dịu”. Cũng vậy, thưa Tôn giả, là lý thuyết của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có thể ăn nhuộm đối với người có trí, không phải đối với người ngu si, có thể đập được, ủi được, và có thể khiến trở thành mềm dịu”.
SC 135—Này Gia chủ, quần chúng này gồm cả các vua chưa được biết như sau: “Gia chủ Upāli là đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta”. Này Gia chủ, nay chúng tôi xem Gia chủ là đệ tử của ai?
SC 136Ðược nói vậy, gia chủ Upāli từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, chắp tay vái chào về hướng Thế Tôn và nói với Nigaṇṭha Nātaputta
SC 137—Thưa Tôn giả, hãy nghe, tôi là đệ tử của ai:
SC 138Bậc Trí sáng suốt,
Ðoạn trừ si ám.
Phá tan hoang vu,
Chiến thắng địch quân.
Ðau khổ đoạn diệt,
Tâm an bình tĩnh.
Giới đức trưởng thành,
Tuệ đức viên minh.
Phiền não nội tịnh,
Rời trần ly cấu.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 139Do dự đoạn trừ,
Biết vừa, biết đủ,
Thế lợi tuyệt không,
Tâm tư hoan hỷ,
Làm Sa-môn hạnh,
Sanh ở nhân gian,
Thân này sau cùng,
Làm người nhân thế.
Bậc Thánh cao nhất,
Rời trần ly cấu.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 140Không tâm do dự,
Khéo hành thiện xảo.
Bậc trì giới luật,
Ðiều ngự tối thượng.
Là Vô Thượng Sĩ,
Sáng chói hào quang,
Nghi hoặc đoạn trừ,
Soi sáng mọi nơi.
Kiêu mạn đoạn tận,
Vô nhân anh hùng.
Tôi thật chính là
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 141Ngài bậc Ngưu Vương,
Tâm tư vô lượng,
Thâm sâu khôn lường
Bậc thánh Mâu ni,
Tác thành an ổn,
Bậc có Trí tuệ,
An trú Pháp vị,
Tự phòng hộ thân,
Vượt qua tham ái,
Bậc Giải Thoát Trí.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 142Ngài bậc Long Vương,
Sống xa thế tục.
Kiết sử đoạn trừ,
Siêu đẳng giải thoát.
Biện tài từ tốn,
Trong sạch thanh tịnh,
Cờ xí triệt hạ,
Tham ái đoạn trừ,
Ðiều ngự nhiếp phục,
Hý luận diệt tận.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn,
SC 143Ðệ nhất tiên nhân.
Không tin lời đồn.
Ba minh thành tựu,
Ðạt quả Phạm thiên.
Tắm sạch thân tâm,
Văn cú thông đạt.
Khinh an yên ổn,
Chánh trí chứng đắc.
Công phá thành trì,
Thiên chủ Ðế thích.
Tôi chính thật là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 144Ngài bậc Thánh Giả,
Tự tu tự tập.
Chứng điều phải chứng,
Thuyết giảng hiện tại,
Chánh niệm tỉnh giác,
Thiền quán tinh tế
Không thiên tà dục,
Không nuôi tâm hận.
Giao động không còn,
Thân tâm tự tại.
Tôi chính thật là
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 145Sống theo chánh đạo,
Trầm tư Thiền tưởng,
Nội tâm không nhiễm,
Thanh tịnh trong sạch,
Không trước không chấp,
Không nguyện không cầu,
Ðộc cư độc tọa,
Chứng tối thượng vị,
Ðã vượt qua dòng,
Giúp người vượt qua.
Tôi thật chính là
Ðệ tử Thế Tôn,
SC 146Bậc chứng tịch tịnh,
Trí tuệ vô biên,
Trí tuệ quảng đại,
Tham ái đoạn tận.
Ngài là Như Lai,
Ngài là Thiện Thệ,
Không người sánh bằng,
Không ai đồng đẳng,
Giàu đức tự tin,
Viên mãn thành tựu.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 147Tham ái đoạn tận,
Giác ngộ chánh giác,
Khói mù tiêu tan,
Ô uế trừ sạch
Xứng đáng cúng dường,
Dạ xoa thanh tịnh.
Vô thượng Thánh nhân,
Không thể cân lường
Ðại nhân Ðại giác
Ðạt đến danh xưng.
Tôi thật chính là,
Ðệ tử Thế Tôn.
SC 148—Này Gia chủ, Ông chất chứa những ưu điểm này về Sa-môn Gotama từ bao giờ?
SC 149—Thưa Tôn giả, ví như một đống hoa, có nhiều loại khác nhau; người làm vòng hoa thiện xảo hay người đệ tử làm vòng hoa có thể kết thành một vòng hoa có những loại hoa sai biệt. Cũng vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn có nhiều đức tánh, có hàng trăm đức tánh. Thưa Tôn giả, và ai lại không tán thán những bậc đáng tán thán!
SC 150Vì Nigaṇṭha Nātaputta không thể nghe lời tán thán Thế Tôn, nên ngay tại chỗ ấy đã thổ ra huyết nóng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto nāḷandāyaṁ paṭivasati mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ.
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho nāḷandāyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena pāvārikambavanaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ bhagavā etadavoca:
“saṁvijjanti kho, tapassi, āsanāni; sace ākaṅkhasi nisīdā”ti.
Evaṁ vutte, dīghatapassī nigaṇṭho aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ bhagavā etadavoca:
“kati pana, tapassi, nigaṇṭho nāṭaputto kammāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Na kho, āvuso gotama, āciṇṇaṁ nigaṇṭhassa nāṭaputtassa ‘kammaṁ, kamman’ti paññapetuṁ;
‘daṇḍaṁ, daṇḍan’ti kho, āvuso gotama, āciṇṇaṁ nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paññapetun”ti.
“Kati pana, tapassi, nigaṇṭho nāṭaputto daṇḍāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Tīṇi kho, āvuso gotama, nigaṇṭho nāṭaputto daṇḍāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyāti, seyyathidaṁ—
kāyadaṇḍaṁ, vacīdaṇḍaṁ, manodaṇḍan”ti.
“Kiṁ pana, tapassi, aññadeva kāyadaṇḍaṁ, aññaṁ vacīdaṇḍaṁ, aññaṁ manodaṇḍan”ti?
“Aññadeva, āvuso gotama, kāyadaṇḍaṁ, aññaṁ vacīdaṇḍaṁ, aññaṁ manodaṇḍan”ti.
“Imesaṁ pana, tapassi, tiṇṇaṁ daṇḍānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ katamaṁ daṇḍaṁ nigaṇṭho nāṭaputto mahāsāvajjataraṁ paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, yadi vā kāyadaṇḍaṁ, yadi vā vacīdaṇḍaṁ, yadi vā manodaṇḍan”ti?
“Imesaṁ kho, āvuso gotama, tiṇṇaṁ daṇḍānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ kāyadaṇḍaṁ nigaṇṭho nāṭaputto mahāsāvajjataraṁ paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍaṁ, no tathā manodaṇḍan”ti.
“Kāyadaṇḍanti, tapassi, vadesi”?
“Kāyadaṇḍanti, āvuso gotama, vadāmi”.
“Kāyadaṇḍanti, tapassi, vadesi”?
“Kāyadaṇḍanti, āvuso gotama, vadāmi”.
“Kāyadaṇḍanti, tapassi, vadesi”?
“Kāyadaṇḍanti, āvuso gotama, vadāmī”ti.
Itiha bhagavā dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ imasmiṁ kathāvatthusmiṁ yāvatatiyakaṁ patiṭṭhāpesi.
Evaṁ vutte, dīghatapassī nigaṇṭho bhagavantaṁ etadavoca:
“tvaṁ panāvuso gotama, kati daṇḍāni paññapesi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Na kho, tapassi, āciṇṇaṁ tathāgatassa ‘daṇḍaṁ, daṇḍan’ti paññapetuṁ;
‘kammaṁ, kamman’ti kho, tapassi, āciṇṇaṁ tathāgatassa paññapetun”ti?
“Tvaṁ panāvuso gotama, kati kammāni paññapesi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Tīṇi kho ahaṁ, tapassi, kammāni paññapemi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, seyyathidaṁ—
kāyakammaṁ, vacīkammaṁ, manokamman”ti.
“Kiṁ panāvuso gotama, aññadeva kāyakammaṁ, aññaṁ vacīkammaṁ, aññaṁ manokamman”ti?
“Aññadeva, tapassi, kāyakammaṁ, aññaṁ vacīkammaṁ, aññaṁ manokamman”ti.
“Imesaṁ panāvuso gotama, tiṇṇaṁ kammānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ katamaṁ kammaṁ mahāsāvajjataraṁ paññapesi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, yadi vā kāyakammaṁ, yadi vā vacīkammaṁ, yadi vā manokamman”ti?
“Imesaṁ kho ahaṁ, tapassi, tiṇṇaṁ kammānaṁ evaṁ paṭivibhattānaṁ evaṁ paṭivisiṭṭhānaṁ manokammaṁ mahāsāvajjataraṁ paññapemi pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā kāyakammaṁ, no tathā vacīkamman”ti.
“Manokammanti, āvuso gotama, vadesi”?
“Manokammanti, tapassi, vadāmi”.
“Manokammanti, āvuso gotama, vadesi”?
“Manokammanti, tapassi, vadāmi”.
“Manokammanti, āvuso gotama, vadesi”?
“Manokammanti, tapassi, vadāmī”ti.
Itiha dīghatapassī nigaṇṭho bhagavantaṁ imasmiṁ kathāvatthusmiṁ yāvatatiyakaṁ patiṭṭhāpetvā uṭṭhāyāsanā yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto mahatiyā gihiparisāya saddhiṁ nisinno hoti bālakiniyā parisāya upālipamukhāya.
Addasā kho nigaṇṭho nāṭaputto dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ dūratova āgacchantaṁ;
disvāna dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ etadavoca:
“handa kuto nu tvaṁ, tapassi, āgacchasi divā divassā”ti?
“Ito hi kho ahaṁ, bhante, āgacchāmi samaṇassa gotamassa santikā”ti.
“Ahu pana te, tapassi, samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, bhante, samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, tapassi, ahu samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ nigaṇṭhassa nāṭaputtassa ārocesi.
Evaṁ vutte, nigaṇṭho nāṭaputto dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ etadavoca:
“sādhu sādhu, tapassi.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena evameva dīghatapassinā nigaṇṭhena samaṇassa gotamassa byākataṁ.
Kiñhi sobhati chavo manodaṇḍo imassa evaṁ oḷārikassa kāyadaṇḍassa upanidhāya.
Atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
Evaṁ vutte, upāli gahapati nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“sādhu sādhu, bhante dīghatapassī.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena evamevaṁ bhadantena tapassinā samaṇassa gotamassa byākataṁ.
Kiñhi sobhati chavo manodaṇḍo imassa evaṁ oḷārikassa kāyadaṇḍassa upanidhāya.
Atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo.
Handa cāhaṁ, bhante, gacchāmi samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropessāmi.
Sace me samaṇo gotamo tathā patiṭṭhahissati yathā bhadantena tapassinā patiṭṭhāpitaṁ; seyyathāpi nāma balavā puriso dīghalomikaṁ eḷakaṁ lomesu gahetvā ākaḍḍheyya parikaḍḍheyya samparikaḍḍheyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ ākaḍḍhissāmi parikaḍḍhissāmi samparikaḍḍhissāmi.
Seyyathāpi nāma balavā soṇḍikākammakāro mahantaṁ soṇḍikākilañjaṁ gambhīre udakarahade pakkhipitvā kaṇṇe gahetvā ākaḍḍheyya parikaḍḍheyya samparikaḍḍheyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ ākaḍḍhissāmi parikaḍḍhissāmi samparikaḍḍhissāmi.
Seyyathāpi nāma balavā soṇḍikādhutto vālaṁ kaṇṇe gahetvā odhuneyya niddhuneyya nipphoṭeyya; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ odhunissāmi niddhunissāmi nipphoṭessāmi.
Seyyathāpi nāma kuñjaro saṭṭhihāyano gambhīraṁ pokkharaṇiṁ ogāhetvā sāṇadhovikaṁ nāma kīḷitajātaṁ kīḷati; evamevāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ sāṇadhovikaṁ maññe kīḷitajātaṁ kīḷissāmi.
Handa cāhaṁ, bhante, gacchāmi samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropessāmī”ti.
“Gaccha tvaṁ, gahapati, samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropehi.
Ahaṁ vā hi, gahapati, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyyaṁ, dīghatapassī vā nigaṇṭho, tvaṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“na kho metaṁ, bhante, ruccati yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyya.
Samaṇo hi, bhante, gotamo māyāvī āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Gaccha tvaṁ, gahapati, samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropehi.
Ahaṁ vā hi, gahapati, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyyaṁ, dīghatapassī vā nigaṇṭho, tvaṁ vā”ti.
Dutiyampi kho dīghatapassī …pe…
tatiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“na kho metaṁ, bhante, ruccati yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyya.
Samaṇo hi, bhante, gotamo māyāvī āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Gaccha tvaṁ, gahapati, samaṇassa gotamassa imasmiṁ kathāvatthusmiṁ vādaṁ āropehi.
Ahaṁ vā hi, gahapati, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyyaṁ, dīghatapassī vā nigaṇṭho, tvaṁ vā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho upāli gahapati nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena pāvārikambavanaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho upāli gahapati bhagavantaṁ etadavoca:
“āgamā nu khvidha, bhante, dīghatapassī nigaṇṭho”ti?
“Āgamā khvidha, gahapati, dīghatapassī nigaṇṭho”ti.
“Ahu kho pana te, bhante, dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, gahapati, dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, bhante, ahu dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
Atha kho bhagavā yāvatako ahosi dīghatapassinā nigaṇṭhena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ upālissa gahapatissa ārocesi.
Evaṁ vutte, upāli gahapati bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu sādhu, bhante tapassī.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena evamevaṁ dīghatapassinā nigaṇṭhena bhagavato byākataṁ.
Kiñhi sobhati chavo manodaṇḍo imassa evaṁ oḷārikassa kāyadaṇḍassa upanidhāya?
Atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Sace kho tvaṁ, gahapati, sacce patiṭṭhāya manteyyāsi siyā no ettha kathāsallāpo”ti.
“Sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idhassa nigaṇṭho ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno sītodakapaṭikkhitto uṇhodakapaṭisevī.
So sītodakaṁ alabhamāno kālaṁ kareyya.
Imassa pana, gahapati, nigaṇṭho nāṭaputto katthūpapattiṁ paññapetī”ti?
“Atthi, bhante, manosattā nāma devā tattha so upapajjati”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, manopaṭibaddho kālaṁ karotī”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi,
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Kiñcāpi, bhante, bhagavā evamāha, atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idhassa nigaṇṭho nāṭaputto cātuyāmasaṁvarasaṁvuto sabbavārivārito sabbavāriyutto sabbavāridhuto sabbavāriphuṭo.
So abhikkamanto paṭikkamanto bahū khuddake pāṇe saṅghātaṁ āpādeti.
Imassa pana, gahapati, nigaṇṭho nāṭaputto kaṁ vipākaṁ paññapetī”ti?
“Asañcetanikaṁ, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto no mahāsāvajjaṁ paññapetī”ti.
“Sace pana, gahapati, cetetī”ti?
“Mahāsāvajjaṁ, bhante, hotī”ti.
“Cetanaṁ pana, gahapati, nigaṇṭho nāṭaputto kismiṁ paññapetī”ti?
“Manodaṇḍasmiṁ, bhante”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Kiñcāpi, bhante, bhagavā evamāha, atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
ayaṁ nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā”ti?
“Evaṁ, bhante, ayaṁ nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idha puriso āgaccheyya ukkhittāsiko.
So evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ yāvatikā imissā nāḷandāya pāṇā te ekena khaṇena ekena muhuttena ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ karissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
pahoti nu kho so puriso yāvatikā imissā nāḷandāya pāṇā te ekena khaṇena ekena muhuttena ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kātun”ti?
“Dasapi, bhante, purisā, vīsampi, bhante, purisā, tiṁsampi, bhante, purisā, cattārīsampi, bhante, purisā, paññāsampi, bhante, purisā nappahonti yāvatikā imissā nāḷandāya pāṇā te ekena khaṇena ekena muhuttena ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kātuṁ.
Kiñhi sobhati eko chavo puriso”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
idha āgaccheyya samaṇo vā brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto.
So evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ imaṁ nāḷandaṁ ekena manopadosena bhasmaṁ karissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
pahoti nu kho so samaṇo vā brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto imaṁ nāḷandaṁ ekena manopadosena bhasmaṁ kātun”ti?
“Dasapi, bhante, nāḷandā, vīsampi nāḷandā, tiṁsampi nāḷandā, cattārīsampi nāḷandā, paññāsampi nāḷandā pahoti so samaṇo vā brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto ekena manopadosena bhasmaṁ kātuṁ.
Kiñhi sobhati ekā chavā nāḷandā”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Kiñcāpi, bhante, bhagavā evamāha, atha kho kāyadaṇḍova mahāsāvajjataro pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā, no tathā vacīdaṇḍo, no tathā manodaṇḍo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
sutaṁ te daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti?
“Evaṁ, bhante, sutaṁ me daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, kinti te sutaṁ kena taṁ daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante, isīnaṁ manopadosena taṁ daṇḍakīraññaṁ kāliṅgāraññaṁ majjhāraññaṁ mātaṅgāraññaṁ araññaṁ araññabhūtan”ti.
“Manasi karohi, gahapati, manasi karitvā kho, gahapati, byākarohi.
Na kho te sandhiyati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ.
Bhāsitā kho pana te, gahapati, esā vācā:
‘sacce ahaṁ, bhante, patiṭṭhāya mantessāmi;
hotu no ettha kathāsallāpo’”ti.
“Purimenevāhaṁ, bhante, opammena bhagavato attamano abhiraddho.
Api cāhaṁ imāni bhagavato vicitrāni pañhapaṭibhānāni sotukāmo, evāhaṁ bhagavantaṁ paccanīkaṁ kātabbaṁ amaññissaṁ.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Anuviccakāraṁ kho, gahapati, karohi, anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī”ti.
“Imināpāhaṁ, bhante, bhagavato bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho yaṁ maṁ bhagavā evamāha: ‘anuviccakāraṁ kho, gahapati, karohi, anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī’ti.
Mañhi, bhante, aññatitthiyā sāvakaṁ labhitvā kevalakappaṁ nāḷandaṁ paṭākaṁ parihareyyuṁ:
‘upāli amhākaṁ gahapati sāvakattaṁ upagato’ti.
Atha ca pana maṁ bhagavā evamāha:
‘anuviccakāraṁ kho, gahapati, karohi, anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī’ti.
Esāhaṁ, bhante, dutiyampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Dīgharattaṁ kho te, gahapati, nigaṇṭhānaṁ opānabhūtaṁ kulaṁ yena nesaṁ upagatānaṁ piṇḍakaṁ dātabbaṁ maññeyyāsī”ti.
“Imināpāhaṁ, bhante, bhagavato bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho yaṁ maṁ bhagavā evamāha: ‘dīgharattaṁ kho te, gahapati, nigaṇṭhānaṁ opānabhūtaṁ kulaṁ yena nesaṁ upagatānaṁ piṇḍakaṁ dātabbaṁ maññeyyāsī’ti.
Sutaṁ metaṁ, bhante, samaṇo gotamo evamāha:
‘mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ;
mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ;
mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, nāññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan’ti.
Atha ca pana maṁ bhagavā nigaṇṭhesupi dāne samādapeti.
Api ca, bhante, mayamettha kālaṁ jānissāma.
Esāhaṁ, bhante, tatiyampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Atha kho bhagavā upālissa gahapatissa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—
dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi.
Yadā bhagavā aññāsi upāliṁ gahapatiṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—
dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ.
Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya;
evameva upālissa gahapatissa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho upāli gahapati diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca:
“handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, gahapati, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho upāli gahapati bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena sakaṁ nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dovārikaṁ āmantesi:
“ajjatagge, samma dovārika, āvarāmi dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace koci nigaṇṭho āgacchati tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi:
‘tiṭṭha, bhante, mā pāvisi.
Ajjatagge upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Āvaṭaṁ dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace te, bhante, piṇḍakena attho, ettheva tiṭṭha, ettheva te āharissantī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko upālissa gahapatissa paccassosi.
Assosi kho dīghatapassī nigaṇṭho:
“upāli kira gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato”ti.
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, upāli kira gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
Dutiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho …pe…
tatiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante …
pe…
upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
“Handāhaṁ, bhante, gacchāmi yāva jānāmi yadi vā upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato yadi vā no”ti.
“Gaccha tvaṁ, tapassi, jānāhi yadi vā upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato yadi vā no”ti.
Atha kho dīghatapassī nigaṇṭho yena upālissa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Addasā kho dovāriko dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna dīghatapassiṁ nigaṇṭhaṁ etadavoca:
“tiṭṭha, bhante, mā pāvisi.
Ajjatagge upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Āvaṭaṁ dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace te, bhante, piṇḍakena attho, ettheva tiṭṭha, ettheva te āharissantī”ti.
“Na me, āvuso, piṇḍakena attho”ti vatvā tato paṭinivattitvā yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saccaṁyeva kho, bhante, yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Etaṁ kho te ahaṁ, bhante, nālatthaṁ, na kho me, bhante, ruccati yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa vādaṁ āropeyya.
Samaṇo hi, bhante, gotamo māyāvī āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetīti.
Āvaṭṭo kho te, bhante, upāli gahapati samaṇena gotamena āvaṭṭaniyā māyāyā”ti.
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, tapassi, anavakāso yaṁ upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagaccheyya.
Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ samaṇo gotamo upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
Dutiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saccaṁyeva, bhante …pe…
upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
Tatiyampi kho dīghatapassī nigaṇṭho nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saccaṁyeva kho, bhante …
pe…
upālissa gahapatissa sāvakattaṁ upagaccheyyā”ti.
“Handa cāhaṁ, tapassi, gacchāmi yāva cāhaṁ sāmaṁyeva jānāmi yadi vā upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato yadi vā no”ti.
Atha kho nigaṇṭho nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ yena upālissa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Addasā kho dovāriko nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“tiṭṭha, bhante, mā pāvisi.
Ajjatagge upāli gahapati samaṇassa gotamassa sāvakattaṁ upagato.
Āvaṭaṁ dvāraṁ nigaṇṭhānaṁ nigaṇṭhīnaṁ, anāvaṭaṁ dvāraṁ bhagavato bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ.
Sace te, bhante, piṇḍakena attho, ettheva tiṭṭha, ettheva te āharissantī”ti.
“Tena hi, samma dovārika, yena upāli gahapati tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā upāliṁ gahapatiṁ evaṁ vadehi:
‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ bahidvārakoṭṭhake ṭhito;
so te dassanakāmo’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā yena upāli gahapati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā upāliṁ gahapatiṁ etadavoca:
“nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ bahidvārakoṭṭhake ṭhito;
so te dassanakāmo”ti.
“Tena hi, samma dovārika, majjhimāya dvārasālāya āsanāni paññapehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko upālissa gahapatissa paṭissutvā majjhimāya dvārasālāya āsanāni paññapetvā yena upāli gahapati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā upāliṁ gahapatiṁ etadavoca:
“paññattāni kho, bhante, majjhimāya dvārasālāya āsanāni.
Yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho upāli gahapati yena majjhimā dvārasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā yaṁ tattha āsanaṁ aggañca seṭṭhañca uttamañca paṇītañca tattha sāmaṁ nisīditvā dovārikaṁ āmantesi:
“tena hi, samma dovārika, yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ evaṁ vadehi:
‘upāli, bhante, gahapati evamāha—
pavisa kira, bhante, sace ākaṅkhasī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho dovāriko upālissa gahapatissa paṭissutvā yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“upāli, bhante, gahapati evamāha:
‘pavisa kira, bhante, sace ākaṅkhasī’”ti.
Atha kho nigaṇṭho nāṭaputto mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ yena majjhimā dvārasālā tenupasaṅkami.
Atha kho upāli gahapati—
yaṁ sudaṁ pubbe yato passati nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ dūratova āgacchantaṁ disvāna tato paccuggantvā yaṁ tattha āsanaṁ aggañca seṭṭhañca uttamañca paṇītañca taṁ uttarāsaṅgena sammajjitvā pariggahetvā nisīdāpeti so—
dāni yaṁ tattha āsanaṁ aggañca seṭṭhañca uttamañca paṇītañca tattha sāmaṁ nisīditvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“saṁvijjanti kho, bhante, āsanāni;
sace ākaṅkhasi, nisīdā”ti.
Evaṁ vutte, nigaṇṭho nāṭaputto upāliṁ gahapatiṁ etadavoca:
“ummattosi tvaṁ, gahapati, dattosi tvaṁ, gahapati.
‘Gacchāmahaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropessāmī’ti gantvā mahatāsi vādasaṅghāṭena paṭimukko āgato.
Seyyathāpi, gahapati, puriso aṇḍahārako gantvā ubbhatehi aṇḍehi āgaccheyya, seyyathā vā pana gahapati puriso akkhikahārako gantvā ubbhatehi akkhīhi āgaccheyya;
evameva kho tvaṁ, gahapati, ‘gacchāmahaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropessāmī’ti gantvā mahatāsi vādasaṅghāṭena paṭimukko āgato.
Āvaṭṭosi kho tvaṁ, gahapati, samaṇena gotamena āvaṭṭaniyā māyāyā”ti.
“Bhaddikā, bhante, āvaṭṭanī māyā;
kalyāṇī, bhante, āvaṭṭanī māyā;
piyā me, bhante, ñātisālohitā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; piyānampi me assa ñātisālohitānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya;
sabbe cepi, bhante, khattiyā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; sabbesānampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya; sabbe cepi, bhante, brāhmaṇā …pe… vessā …pe… suddā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; sabbesānampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya;
sadevako cepi, bhante, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ; sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti.
Tena hi, bhante, upamaṁ te karissāmi.
Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Bhūtapubbaṁ, bhante, aññatarassa brāhmaṇassa jiṇṇassa vuḍḍhassa mahallakassa daharā māṇavikā pajāpatī ahosi gabbhinī upavijaññā.
Atha kho, bhante, sā māṇavikā taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca,
‘gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānehi, yo me kumārakassa kīḷāpanako bhavissatī’ti.
Evaṁ vutte, so brāhmaṇo taṁ māṇavikaṁ etadavoca:
‘āgamehi tāva, bhoti, yāva vijāyati.
Sace tvaṁ, bhoti, kumārakaṁ vijāyissasi, tassā te ahaṁ āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānessāmi, yo te kumārakassa kīḷāpanako bhavissati.
Sace pana tvaṁ, bhoti, kumārikaṁ vijāyissasi, tassā te ahaṁ āpaṇā makkaṭacchāpikaṁ kiṇitvā ānessāmi, yā te kumārikāya kīḷāpanikā bhavissatī’ti.
Dutiyampi kho, bhante, sā māṇavikā …pe…
tatiyampi kho, bhante, sā māṇavikā taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānehi, yo me kumārakassa kīḷāpanako bhavissatī’ti.
Atha kho, bhante, so brāhmaṇo tassā māṇavikāya sāratto paṭibaddhacitto āpaṇā makkaṭacchāpakaṁ kiṇitvā ānetvā taṁ māṇavikaṁ etadavoca:
‘ayaṁ te, bhoti, āpaṇā makkaṭacchāpako kiṇitvā ānīto, yo te kumārakassa kīḷāpanako bhavissatī’ti.
Evaṁ vutte, bhante, sā māṇavikā taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, imaṁ makkaṭacchāpakaṁ ādāya yena rattapāṇi rajakaputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā rattapāṇiṁ rajakaputtaṁ evaṁ vadehi—
icchāmahaṁ, samma rattapāṇi, imaṁ makkaṭacchāpakaṁ pītāvalepanaṁ nāma raṅgajātaṁ rajitaṁ ākoṭitapaccākoṭitaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhan’ti.
Atha kho, bhante, so brāhmaṇo tassā māṇavikāya sāratto paṭibaddhacitto taṁ makkaṭacchāpakaṁ ādāya yena rattapāṇi rajakaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rattapāṇiṁ rajakaputtaṁ etadavoca:
‘icchāmahaṁ, samma rattapāṇi, imaṁ makkaṭacchāpakaṁ pītāvalepanaṁ nāma raṅgajātaṁ rajitaṁ ākoṭitapaccākoṭitaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhan’ti.
Evaṁ vutte, bhante, rattapāṇi rajakaputto taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘ayaṁ kho te, bhante, makkaṭacchāpako raṅgakkhamo hi kho, no ākoṭanakkhamo, no vimajjanakkhamo’ti.
Evameva kho, bhante, bālānaṁ nigaṇṭhānaṁ vādo raṅgakkhamo hi kho bālānaṁ no paṇḍitānaṁ, no anuyogakkhamo, no vimajjanakkhamo.
Atha kho, bhante, so brāhmaṇo aparena samayena navaṁ dussayugaṁ ādāya yena rattapāṇi rajakaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rattapāṇiṁ rajakaputtaṁ etadavoca:
‘icchāmahaṁ, samma rattapāṇi, imaṁ navaṁ dussayugaṁ pītāvalepanaṁ nāma raṅgajātaṁ rajitaṁ ākoṭitapaccākoṭitaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhan’ti.
Evaṁ vutte, bhante, rattapāṇi rajakaputto taṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
‘idaṁ kho te, bhante, navaṁ dussayugaṁ raṅgakkhamañceva ākoṭanakkhamañca vimajjanakkhamañcā’ti.
Evameva kho, bhante, tassa bhagavato vādo arahato sammāsambuddhassa raṅgakkhamo ceva paṇḍitānaṁ no bālānaṁ, anuyogakkhamo ca vimajjanakkhamo cā”ti.
“Sarājikā kho, gahapati, parisā evaṁ jānāti:
‘upāli gahapati nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvako’ti.
Kassa taṁ, gahapati, sāvakaṁ dhāremā”ti?
Evaṁ vutte, upāli gahapati uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca:
“tena hi, bhante, suṇohi yassāhaṁ sāvako”ti:
“Dhīrassa vigatamohassa,
Pabhinnakhīlassa vijitavijayassa;
Anīghassa susamacittassa,
Vuddhasīlassa sādhupaññassa;
Vesamantarassa vimalassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Akathaṅkathissa tusitassa,
Vantalokāmisassa muditassa;
Katasamaṇassa manujassa,
Antimasārīrassa narassa;
Anopamassa virajassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Asaṁsayassa kusalassa,
Venayikassa sārathivarassa;
Anuttarassa ruciradhammassa,
Nikkaṅkhassa pabhāsakassa;
Mānacchidassa vīrassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Nisabhassa appameyyassa,
Gambhīrassa monapattassa;
Khemaṅkarassa vedassa,
Dhammaṭṭhassa saṁvutattassa;
Saṅgātigassa muttassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Nāgassa pantasenassa,
Khīṇasaṁyojanassa muttassa;
Paṭimantakassa dhonassa,
Pannadhajassa vītarāgassa;
Dantassa nippapañcassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Isisattamassa akuhassa,
Tevijjassa brahmapattassa;
Nhātakassa padakassa,
Passaddhassa viditavedassa;
Purindadassa sakkassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Ariyassa bhāvitattassa,
Pattipattassa veyyākaraṇassa;
Satimato vipassissa,
Anabhinatassa no apanatassa;
Anejassa vasippattassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Samuggatassa jhāyissa,
Ananugatantarassa suddhassa;
Asitassa hitassa,
Pavivittassa aggappattassa;
Tiṇṇassa tārayantassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Santassa bhūripaññassa,
Mahāpaññassa vītalobhassa;
Tathāgatassa sugatassa,
Appaṭipuggalassa asamassa;
Visāradassa nipuṇassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmi.
Taṇhacchidassa buddhassa,
Vītadhūmassa anupalittassa;
Āhuneyyassa yakkhassa,
Uttamapuggalassa atulassa;
Mahato yasaggapattassa,
Bhagavato tassa sāvakohamasmī”ti.
“Kadā saññūḷhā pana te, gahapati, ime samaṇassa gotamassa vaṇṇā”ti?
“Seyyathāpi, bhante, nānāpupphānaṁ mahāpuppharāsi, tamenaṁ dakkho mālākāro vā mālākārantevāsī vā vicittaṁ mālaṁ gantheyya;
evameva kho, bhante, so bhagavā anekavaṇṇo anekasatavaṇṇo.
Ko hi, bhante, vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ na karissatī”ti?
Atha kho nigaṇṭhassa nāṭaputtassa bhagavato sakkāraṁ asahamānassa tattheva uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggacchīti.
Upālisuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.