Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tại tinh xá Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika, trú ở tinh xá của Mallikā tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận cùng với đại chúng du sĩ khoảng ba trăm vị.
SC 3Rồi thợ mộc Pancakanga vào buổi sáng sớm, đi ra khỏi Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn. Thợ mộc Pancakanga suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang an tịnh Thiền tọa; cũng không phải thời để yết kiến các vị Tỷ-kheo đang tu dưỡng tâm ý, các vị Tỷ-kheo đang an tịnh Thiền tọa. Ta hãy đi đến tinh xá của Mallikā, tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận, đi đến du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika”. Rồi thợ mộc Pancakanga đi đến tinh xá của Mallikā, tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận.
SC 4Lúc bấy giờ du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika đang ngồi với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố uý luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô biên hữu luận. Du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika thấy thợ mộc Pancakanga từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay thợ mộc Pancakanga, đệ tử của Sa-môn Gotama đang đến. Khi nào các đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Sa-môn Gotama trú ở Sāvatthi, thời thợ mộc Pancakanga là một trong những vị ấy. Các vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, được tu tập về an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Thợ mộc Pancakanga đi đến du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Du sĩ Uggahamana nói với thợ mộc Pancakanga đang ngồi một bên
SC 7—Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác. Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người nào thành tựu bốn pháp này, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 8Rồi thợ mộc Pancakanga không hoan hỷ, không kích bác lời nói của du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; không hoan hỷ, không kích bác, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, với ý nghĩ: “Từ Thế Tôn, ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này”. Rồi thợ mộc Pancakanga đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện giữa mình với du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với thợ mộc Pancakanga
SC 9—Nếu sự tình là như vậy thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn, thành đạt tối thượng, là bậc vô năng thắng đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Này Thợ mộc, đối với đứa con nít nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là thân”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về thân, trừ ra chỉ biết quơ tay quơ chân? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là lời nói”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về lời nói, trừ ra chỉ biết khóc? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là tư duy”, từ đâu nó có thể tư duy ác tư duy, trừ ra chỉ biết bập bẹ? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là nghề sinh sống”, từ đâu nó có thể sinh sống bằng nếp sống ác, trừ ra chỉ biết bú sữa mẹ? Nếu sự tình là vậy này Thợ mộc, thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa, sẽ được thiện cụ thúc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng, đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika.
SC 10Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ không được thiện cụ túc, thiện tối thắng, không là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng, và như vậy để xác chứng đứa con nít bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa này. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác ngữ, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác. Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp này, người ấy sẽ không được thiện cụ túc, thiện tối thắng, không là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 11Này thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Ta nói rằng, những pháp này, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện giới, Ta nói rằng, này Thợ mộc, những bất thiện giới cần phải được người ấy hiểu là từ đây sanh (Itosamutthana). Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện giới được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những pháp này cần phải được người ấy hiểu là những thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những thiện giới cần phải được người ấy hiểu là từ đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu là những thiện giới được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những (pháp) này cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện tư duy từ nơi đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu các bất thiện tư duy được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những pháp này cần phải được người ấy hiểu là những thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những thiện tư duy từ nơi đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu là các thiện tư duy được trừ diệt không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy.
SC 12Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện giới? Thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, nếp sống ác. Những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện giới.
SC 13Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời từ tâm sanh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm có tham, có sân, có si, từ đây những bất thiện giới sanh khởi.
SC 14Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, một Tỷ-kheo, sau khi đoạn trừ thân ác hạnh, tu tập thân thiện hạnh; sau khi đoạn trừ khẩu ác hạnh, tu tập khẩu thiện hạnh; sau khi đoạn trừ ý ác hạnh, tu tập ý thiện hạnh; sau khi đoạn trừ nếp sống ác sinh sống với nếp sống chánh. Ở đây, những bất thiện giới ấy được trừ diệt không có tàn dư.
SC 15Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới.
SC 16Và này Thợ mộc, thế nào là thiện giới? Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, nếp sống thanh tịnh mạng; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện giới.
SC 17Và này Thợ mộc, những thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời là tự tâm sinh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm không tham, không sân, không si, từ đây những thiện giới sanh khởi.
SC 18Và này Thợ mộc, những thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, vị Tỷ-kheo có giới hạnh, và không chấp trước giới (silamayo), và vị này như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây, những thiện giới ấy được trừ diệt, không có dư tàn.
SC 19Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến trừ diệt các thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các ác, bất thiện pháp, chưa sanh không được sanh khởi; khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện giới.
SC 20Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện tư duy.
SC 21Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến. Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. Thế nào là tưởng? Tưởng có nhiều loại, đa chủng, sai biệt: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, từ đấy những bất thiện tư duy sanh khởi.
SC 22Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ở đây, những bất thiện tư duy được trừ diệt, không có dư tàn.
SC 23Và sự thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy? Ở đây, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp chưa sanh không được sanh khởi … khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy.
SC 24Này Thợ mộc, thế nào là thiện tư duy? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện tư duy.
SC 25Và này Thợ mộc, những thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến. Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. Thế nào là tưởng? Tưởng có nhiều loại, đa chủng, sai biệt: ly dục tưởng, vô sân tưởng, bất hại tưởng, từ đấy sanh khởi là những thiện tư duy.
SC 26Và này Thợ mộc, những thiện tư duy này từ đâu được diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ở đây, những thiện tư duy ấy được trừ diệt không có dư tàn.
SC 27Và sự thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy? Ở đây, Tỷ-kheo khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp chưa sanh không có sanh khởi …; khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt …; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các thiện pháp đã sanh, có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy.
SC 28Và này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp này, người ấy được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát. Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp này sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 29Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thợ mộc Pancakanga hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ pañcamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho pañcakaṅgo thapati sāvatthiyā nikkhami divā divassa bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho pañcakaṅgassa thapatissa etadahosi:
“akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya;
paṭisallīno bhagavā.
Manobhāvaniyānampi bhikkhūnaṁ asamayo dassanāya;
paṭisallīnā manobhāvaniyā bhikkhū.
Yannūnāhaṁ yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—
rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto pañcakaṅgaṁ thapatiṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha;
ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati pañcakaṅgo thapati.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā sāvatthiyaṁ paṭivasanti ayaṁ tesaṁ aññataro pañcakaṅgo thapati.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino;
appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā uggāhamānena paribbājakena samaṇamuṇḍikāputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho pañcakaṅgaṁ thapatiṁ uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto etadavoca:
“catūhi kho ahaṁ, gahapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, gahapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—
imehi kho ahaṁ, gahapati, catūhi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhan”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi:
“bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati yāvatako ahosi uggāhamānena paribbājakena samaṇamuṇḍikāputtena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Evaṁ vutte, bhagavā pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
“evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa kāyotipi na hoti, kuto pana kāyena pāpakammaṁ karissati, aññatra phanditamattā.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa vācātipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ vācaṁ bhāsissati, aññatra roditamattā.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa saṅkappotipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappissati, aññatra vikūjitamattā.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa ājīvotipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvissati, aññatra mātuthaññā.
Evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ.
Catūhi kho ahaṁ, thapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi na ceva sampannakusalaṁ na paramakusalaṁ na uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ, api cimaṁ daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ samadhigayha tiṭṭhati.
Katamehi catūhi?
Idha, thapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—
imehi kho ahaṁ, thapati, catūhi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi na ceva sampannakusalaṁ na paramakusalaṁ na uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ, api cimaṁ daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ samadhigayha tiṭṭhati.
Dasahi kho ahaṁ, thapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ.
Ime akusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā akusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha akusalā sīlā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Ime kusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā kusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Ime akusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Ime kusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā kusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Katame ca, thapati, akusalā sīlā?
Akusalaṁ kāyakammaṁ, akusalaṁ vacīkammaṁ, pāpako ājīvo—
ime vuccanti, thapati, akusalā sīlā.
Ime ca, thapati, akusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamaṁ cittaṁ?
Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ.
Yaṁ cittaṁ sarāgaṁ sadosaṁ samohaṁ, itosamuṭṭhānā akusalā sīlā.
Ime ca, thapati, akusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti, micchājīvaṁ pahāya sammājīvena jīvitaṁ kappeti—
etthete akusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katame ca, thapati, kusalā sīlā?
Kusalaṁ kāyakammaṁ, kusalaṁ vacīkammaṁ, ājīvaparisuddhampi kho ahaṁ, thapati, sīlasmiṁ vadāmi.
Ime vuccanti, thapati, kusalā sīlā.
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamaṁ cittaṁ?
Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ.
Yaṁ cittaṁ vītarāgaṁ vītadosaṁ vītamohaṁ, itosamuṭṭhānā kusalā sīlā.
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu sīlavā hoti no ca sīlamayo,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti; yatthassa te kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe…
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe…
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katame ca, thapati, akusalā saṅkappā?
Kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo—
ime vuccanti, thapati, akusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, akusalā saṅkappā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamā saññā?
Saññāpi hi bahū anekavidhā nānappakārakā.
Kāmasaññā, byāpādasaññā, vihiṁsāsaññā—
itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, akusalā saṅkappā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
etthete akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe…
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe…
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katame ca, thapati, kusalā saṅkappā?
Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo—
ime vuccanti, thapati, kusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, kusalā saṅkappā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamā saññā?
Saññāpi hi bahū anekavidhā nānappakārakā.
Nekkhammasaññā, abyāpādasaññā, avihiṁsāsaññā—
itosamuṭṭhānā kusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, kusalā saṅkappā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
etthete kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe…
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe…
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katamehi cāhaṁ, thapati, dasahi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ?
Idha, thapati, bhikkhu asekhāya sammādiṭṭhiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsaṅkappena samannāgato hoti, asekhāya sammāvācāya samannāgato hoti, asekhena sammākammantena samannāgato hoti, asekhena sammāājīvena samannāgato hoti, asekhena sammāvāyāmena samannāgato hoti, asekhāya sammāsatiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsamādhinā samannāgato hoti, asekhena sammāñāṇena samannāgato hoti, asekhāya sammāvimuttiyā samannāgato hoti—
imehi kho ahaṁ, thapati, dasahi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhan”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano pañcakaṅgo thapati bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Samaṇamuṇḍikasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Dhdas-bh 1Nya 1Thus have I heard: at one time the Lord was staying near Sāvatthī in the Jeta Grove in Anāthapiṇḍika's monastery. Now at that time the wanderer Uggāhamāna, Samaṇamaṇḍikā's son, was staying in the One Hall, set round with a row of tinduka trees, in Mallikā's park, which was intended for discussion, together with a company of wanderers numbering at least three hundred.
Dhdas-bh 2Then early one morning the carpenter Pancakaṅga left Sāvatthī so as to see the Lord. Then it occurred to Pancakaṅga the carpenter: “It is not yet the right time to see the Lord. The Lord has withdrawn. Nor is it the season to see the monks who are developing their minds. The monks who are developing their minds have withdrawn. Suppose that I were to approach Mallikā's park, which is intended for discussion, the One Hall, set round with a row of tinduka trees, and Uggāhamāna the wanderer, Samaṇamaṇḍikā's son?”
Dhdas-bh 3Then PTS vp En 223 Pancakaṅga the carpenter approached Mallikā's park, which is intended for discussion, the One Hall, set round with a row of tinduka trees, and Uggāhamāna the wanderer, Samaṇamaṇḍikā's son. At that time Uggāhamāna was sitting down with a great company of wanderers shouting out with a loud noise, a great noise, talking various kinds of inferior talk that is to say talk on kings, thieves, great ministers, armies, fears, battles, food, drink, clothes, beds, garlands, scents, relations, vehicles, villages, market towns, towns, the country, women, heroes, streets, wells, those departed before, talk of diversity, speculation about the world, speculation about the sea, talk about becoming or not becoming thus or thus.
Dhdas-bh 4Uggāhamāna saw the carpenter Pancakaṅga coming in the distance; seeing him, he called his own company to order, saying; “Good sirs, let there be little noise; do not, good sirs, make a noise; this is a disciple of the recluse Gotama who is coming, the carpenter Pancakaṅga. For as long as white-frocked householders, disciples of the recluse Gotama, have been staying at Sāvatthī, the carpenter Pancakaṅga has been among them. These venerable ones wish for little noise, they are trained to little noise, they are praisers of little noise. So, if he knows that this is a company of little noise, he may consider approaching.” Then these wanderers fell silent.
Dhdas-bh 5Then Pancakaṅga the carpenter approached Uggāhamāna; having approached he exchanged greetings with Uggāhamāna; having conversed in a friendly and courteous way, he sat down at a respectful distance. Uggāhamāna spoke thus to Pancakaṅga the carpenter as he was sitting down at a respectful distance: “I, carpenter, lay down that an individual who is endowed with four qualities is abounding in skill, of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the utmost attainments. With what four? As to this, carpenter, he does no evil deed with his body, he speaks no evil speech, he intends no evil intention, he leads no evil mode of livelihood. I lay down, carpenter, that if an individual is endowed with these four qualities he is abounding in skill, of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the utmost attainments.” But the carpenter Pancakaṅga neither rejoiced in what Uggāhamāna had said nor scoffed. Neither rejoicing nor scoffing, rising from his seat, he departed, thinking: “I will discover the meaning of what was said in the Lord's presence.”
Dhdas-bh 6Then Pancakaṅga the carpenter approached the Lord; having approached, having greeted the Lord, he sat down at a respectful distance. As he was sitting down at a respectful distance Pancakaṅga the carpenter told the Lord the whole of the conversation he had had with Uggāhamāna. This said, the Lord spoke thus to Pancakaṅga the carpenter: “This being so, carpenter, then according to the speech of Uggāhamāna a young baby boy lying on its back would be of PTS vp En 224 abounding skill, of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the utmost attainments. For, carpenter, a young baby boy lying on its back does not think of its own body. How then could it do an evil deed with its body, except for a little kicking about? A young baby boy, carpenter, lying on its back does not think of its own voice. How then could it utter an evil speech, except for a little crying? A young baby boy, carpenter, lying on its back does not think about its own intention. How then could it intend an evil intention, except for a little excitement? A young baby boy, carpenter, lying on its back does not think of its own mode of livelihood. How then could it lead an evil mode of livelihood, except for taking its mother's milk? This being so, carpenter, then according to the speech of Uggāhamāna a young baby boy lying on its back would be of abounding skill, of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the utmost attainments.
Dhdas-bh 7Now I, carpenter, lay down that an individual, endowed with four qualities, is neither of abounding skill nor of the highest skill nor is he an unconquerable recluse attained to the utmost attainments; and that these moreover merely distinguish a young baby boy lying on its back. With what four? As to this, carpenter, he does no evil deed with his body, he utters no evil speech, he intends no evil intention, he leads no evil mode of livelihood. I, carpenter, lay down that if an individual is endowed with these four qualities he is neither abounding in skill, nor of the highest skill, nor an unconquerable recluse attained to the utmost attainments; and that these moreover merely distinguish a young baby boy lying on its back.
Dhdas-bh 8I, carpenter, lay down that an individual, endowed with ten qualities, is abounding in skill, of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the utmost attainments. I say it is to be understood for him, carpenter, that these are unskilled moral habits. I say it is to be understood for him, carpenter, that hence-originating are unskilled moral habits. I say it is to be understood for him, carpenter, that here unskilled moral habits are stopped without remainder. I say it is to be understood for him, carpenter, that PTS vp En 225 faring along thus, he is faring along for the stopping of unskilled moral habits.
Dhdas-bh 9I say it is to be understood for him, carpenter, that these are skilled moral habits. I say it is to be understood for him, carpenter, that hence-originating are skilled moral habits. I say it is to be understood for him, carpenter, that here skilled moral habits are stopped without remainder. I say it is to be understood for him, carpenter, that faring along thus, he is faring along for the stopping of skilled moral habits.
Dhdas-bh 10I say it is to be understood for him, carpenter, that these are unskilled intentions. I say it is to be understood for him, carpenter, that hence-originating are unskilled intentions. I say it is to be understood for him, carpenter, that here unskilled intentions are stopped without remainder. I say it is to be understood for him, carpenter, that faring along thus, he is faring along for the stopping of unskilled intentions.
Dhdas-bh 11I say it is to be understood for him, carpenter, that these are skilled intentions. I say it is to be understood for him, carpenter, that hence-originating are skilled intentions. I say it is to be understood for him, carpenter, that here skilled intentions are stopped without remainder. I say it is to be understood for him, carpenter, that faring along thus, he is faring along for the stopping of skilled intentions.
Dhdas-bh 12And which, carpenter, are the unskilled moral habits? Unskilled deed of body, unskilled deed of speech, evil mode of livelihood, these, carpenter, are called unskilled moral habits. And how, carpenter, do these unskilled moral habits originate? Their origination is spoken of too. It should be answered that the origination is in the mind. Which mind? For the mind is manifold, various, diverse. That mind which has attachment, aversion, confusion, originating from this are unskilled moral habits. But where, carpenter, are these unskilled moral habits stopped without remainder? Their stopping is spoken of too. As to this, carpenter, a monk, getting rid of wrong conduct in body, develops right conduct in body; getting rid of wrong conduct in speech, he develops right conduct in speech; getting rid of wrong conduct in thought, he develops right conduct in thought; getting rid of a wrong mode of livelihood, he leads his life with a right mode of livelihood. It is thus that these unskilled moral habits are stopped without remainder.
Dhdas-bh 13Here and below the Four Right Efforts are called ‘the way’. And faring along in what way, carpenter, is he faring along for the stopping of unskilled moral habits? As to this, carpenter, a monk generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the non-arising of evil unskilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the getting rid of evil unskilled states of mind that have arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the arising of skilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the maintenance, preservation, increase, maturity, development and completion of skilled states of mind that have PTS vp En 226 arisen. Faring along thus, carpenter, he is faring along for the stopping of unskilled moral habits.
Dhdas-bh 14And which, carpenter, are the skilled moral habits? Skilled deed of body, skilled deed of speech; and I, carpenter, say that included in moral habit is entire purity of mode of livelihood. These, carpenter, are called skilled moral habits. And how, carpenter, do these skilled moral habits originate? Their origination is spoken of too. It should be answered that the origination is in the mind. Which mind? For the mind is manifold, various, diverse. That mind which is devoid of attachment, devoid of aversion, devoid of confusion, originating from this are the skilled moral habits. And where, carpenter, are these skilled moral habits stopped without remainder? Their stopping is spoken of too. As to this, carpenter, a monk is of moral habit and has no addition to make to moral habit, and he comprehends that freedom of mind, that freedom through intuitive wisdom as they really are. Herein are these skilled moral habits of his stopped without remainder.
Dhdas-bh 15And faring along in what way, carpenter, is he faring along for the stopping of skilled moral habits? As to this, carpenter, a monk generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the non-arising of evil unskilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the getting rid of evil unskilled states of mind that have arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the arising of skilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the maintenance, preservation, increase, maturity, development and completion of skilled states of mind that have arisen. Faring along thus, carpenter, he is faring along for the stopping of skilled moral habits.
Dhdas-bh 16And which, carpenter, are unskilled intentions? Intention for sense-pleasures, intention for malevolence, intention for harming. These, carpenter, are called unskilled intentions. And how, carpenter, do these unskilled intentions originate? Their origination is spoken of too. It should be answered that their origination is in perception. Which perception? For perception is many, various, diverse: perception of sense-pleasures, perception of malevolence, perception of harming, originating from these are unskilled intentions. But where, carpenter, are these unskilled intentions stopped without remainder? Their stopping is spoken of too. As to this, carpenter, a monk, aloof from the pleasures of the PTS vp En 227 senses, aloof from unskilled states of mind, entering into the first meditation which is accompanied by initial thought and discursive thought, is born of aloofness, and is rapturous and joyful, abides in it. Herein are these unskilled intentions stopped without remainder.
Dhdas-bh 17And faring along in what way, carpenter, is he faring along for the stopping of unskilled intentions? As to this, carpenter, a monk generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the non-arising of evil unskilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the getting rid of evil unskilled states of mind that have arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the arising of skilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the maintenance, preservation, increase, maturity, development and completion of skilled states of mind that have arisen. Faring along thus, carpenter, he is faring along for the stopping of unskilled intentions.
Dhdas-bh 18And which, carpenter, are skilled intentions? Intention for renunciation, intention for non-malevolence, intention for non-harming. These, carpenter, are called skilled intentions. And how, carpenter, do these skilled intentions originate? Their origination is spoken of too. It should be answered that their origination is in perception. Which perception? For perception is many, various, diverse: perception of renunciation, perception of non-malevolence, perception of non-harming, originating from these are skilled intentions. But where, carpenter, are these skilled perceptions stopped without remainder? Their stopping is spoken of too. As to this, carpenter, a monk, by allaying initial and discursive thought, his mind subjectively tranquillised and fixed on one point, enters on and abides in the second meditation which is devoid of initial and discursive thought, is born of concentration and is rapturous and joyful. Herein are these skilled intentions stopped without remainder.
Dhdas-bh 19And faring along in what way, carpenter, is he faring along for the stopping of skilled intentions? As to this, carpenter, a monk generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the non-arising of evil unskilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the getting rid of evil unskilled states of mind that have arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the arising of skilled states of mind that have not arisen. He generates desire, he endeavours, stirs up energy, exerts his mind and strives for the maintenance, preservation, increase, maturity, development and completion of skilled states of mind that have arisen. Faring along thus, carpenter, he is faring along for the stopping of skilled intentions.
Dhdas-bh 20Here the ‘Tenfold Path’ is spoken of. And endowed with what ten qualities do I, carpenter, lay down that an individual is abounding in skill, of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the utmost attainments? As to this, carpenter, a monk is endowed with: [1] the perfect view of an adept, [2] the perfect intention of an adept, [3] the perfect speech of an adept, [4] the perfect action of an adept, [5] the perfect mode of livelihood of an adept, [6] the perfect endeavour of an adept, [7] the perfect mindfulness of an adept, [8] the perfect concentration of an adept [9] the perfect knowledge of an adept, [10] the perfect freedom of an adept. I, carpenter, lay down that an individual, endowed with these ten qualities, is abounding in skill, PTS vp En 228 of the highest skill, an unconquerable recluse attained to the highest attainments.”
Dhdas-bh 21Thus spoke the Lord. Delighted, Pancakaṅga the carpenter rejoiced in what the Lord had said.
Discourse to Samaṇamaṇḍikā('s son): The Eighth
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tại tinh xá Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika, trú ở tinh xá của Mallikā tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận cùng với đại chúng du sĩ khoảng ba trăm vị.
SC 3Rồi thợ mộc Pancakanga vào buổi sáng sớm, đi ra khỏi Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn. Thợ mộc Pancakanga suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang an tịnh Thiền tọa; cũng không phải thời để yết kiến các vị Tỷ-kheo đang tu dưỡng tâm ý, các vị Tỷ-kheo đang an tịnh Thiền tọa. Ta hãy đi đến tinh xá của Mallikā, tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận, đi đến du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika”. Rồi thợ mộc Pancakanga đi đến tinh xá của Mallikā, tại Ekasalaka, có hàng cây tinduka bao quanh, được xây dựng để tranh luận.
SC 4Lúc bấy giờ du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika đang ngồi với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố uý luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô biên hữu luận. Du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika thấy thợ mộc Pancakanga từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay thợ mộc Pancakanga, đệ tử của Sa-môn Gotama đang đến. Khi nào các đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Sa-môn Gotama trú ở Sāvatthi, thời thợ mộc Pancakanga là một trong những vị ấy. Các vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, được tu tập về an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Thợ mộc Pancakanga đi đến du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Du sĩ Uggahamana nói với thợ mộc Pancakanga đang ngồi một bên
SC 7—Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác. Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người nào thành tựu bốn pháp này, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 8Rồi thợ mộc Pancakanga không hoan hỷ, không kích bác lời nói của du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika; không hoan hỷ, không kích bác, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, với ý nghĩ: “Từ Thế Tôn, ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này”. Rồi thợ mộc Pancakanga đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện giữa mình với du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với thợ mộc Pancakanga
SC 9—Nếu sự tình là như vậy thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn, thành đạt tối thượng, là bậc vô năng thắng đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Này Thợ mộc, đối với đứa con nít nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là thân”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về thân, trừ ra chỉ biết quơ tay quơ chân? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là lời nói”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về lời nói, trừ ra chỉ biết khóc? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là tư duy”, từ đâu nó có thể tư duy ác tư duy, trừ ra chỉ biết bập bẹ? Này Thợ mộc, đối với đứa con nít, nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là nghề sinh sống”, từ đâu nó có thể sinh sống bằng nếp sống ác, trừ ra chỉ biết bú sữa mẹ? Nếu sự tình là vậy này Thợ mộc, thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa, sẽ được thiện cụ thúc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng, đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika.
SC 10Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ không được thiện cụ túc, thiện tối thắng, không là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng, và như vậy để xác chứng đứa con nít bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa này. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác ngữ, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác. Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp này, người ấy sẽ không được thiện cụ túc, thiện tối thắng, không là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 11Này thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Ta nói rằng, những pháp này, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện giới, Ta nói rằng, này Thợ mộc, những bất thiện giới cần phải được người ấy hiểu là từ đây sanh (Itosamutthana). Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện giới được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những pháp này cần phải được người ấy hiểu là những thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những thiện giới cần phải được người ấy hiểu là từ đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu là những thiện giới được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện giới. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những (pháp) này cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những bất thiện tư duy từ nơi đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu các bất thiện tư duy được diệt trừ không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, những pháp này cần phải được người ấy hiểu là những thiện tư duy. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là những thiện tư duy từ nơi đây sanh. Ta nói rằng, này Thợ mộc, ở đây, cần phải được người ấy hiểu là các thiện tư duy được trừ diệt không có dư tàn. Ta nói rằng, này Thợ mộc, cần phải được người ấy hiểu là thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy.
SC 12Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện giới? Thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, nếp sống ác. Những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện giới.
SC 13Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời từ tâm sanh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm có tham, có sân, có si, từ đây những bất thiện giới sanh khởi.
SC 14Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, một Tỷ-kheo, sau khi đoạn trừ thân ác hạnh, tu tập thân thiện hạnh; sau khi đoạn trừ khẩu ác hạnh, tu tập khẩu thiện hạnh; sau khi đoạn trừ ý ác hạnh, tu tập ý thiện hạnh; sau khi đoạn trừ nếp sống ác sinh sống với nếp sống chánh. Ở đây, những bất thiện giới ấy được trừ diệt không có tàn dư.
SC 15Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới.
SC 16Và này Thợ mộc, thế nào là thiện giới? Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, nếp sống thanh tịnh mạng; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện giới.
SC 17Và này Thợ mộc, những thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời là tự tâm sinh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm không tham, không sân, không si, từ đây những thiện giới sanh khởi.
SC 18Và này Thợ mộc, những thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, vị Tỷ-kheo có giới hạnh, và không chấp trước giới (silamayo), và vị này như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây, những thiện giới ấy được trừ diệt, không có dư tàn.
SC 19Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến trừ diệt các thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các ác, bất thiện pháp, chưa sanh không được sanh khởi; khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện giới.
SC 20Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện tư duy.
SC 21Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến. Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. Thế nào là tưởng? Tưởng có nhiều loại, đa chủng, sai biệt: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, từ đấy những bất thiện tư duy sanh khởi.
SC 22Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ở đây, những bất thiện tư duy được trừ diệt, không có dư tàn.
SC 23Và sự thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy? Ở đây, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp chưa sanh không được sanh khởi … khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện tư duy.
SC 24Này Thợ mộc, thế nào là thiện tư duy? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện tư duy.
SC 25Và này Thợ mộc, những thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến. Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. Thế nào là tưởng? Tưởng có nhiều loại, đa chủng, sai biệt: ly dục tưởng, vô sân tưởng, bất hại tưởng, từ đấy sanh khởi là những thiện tư duy.
SC 26Và này Thợ mộc, những thiện tư duy này từ đâu được diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ở đây, những thiện tư duy ấy được trừ diệt không có dư tàn.
SC 27Và sự thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy? Ở đây, Tỷ-kheo khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm khiến cho các ác, bất thiện pháp chưa sanh không có sanh khởi …; khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt …; khiến cho các thiện pháp chưa sanh nay được sanh khởi; khởi lên ý muốn nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm, khiến cho các thiện pháp đã sanh, có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Sự thực hành như vậy là sự thực hành đưa đến diệt trừ các thiện tư duy.
SC 28Và này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp này, người ấy được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát. Này Thợ mộc, Ta chủ trương rằng một người thành tựu mười pháp này sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
SC 29Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thợ mộc Pancakanga hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ pañcamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho pañcakaṅgo thapati sāvatthiyā nikkhami divā divassa bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho pañcakaṅgassa thapatissa etadahosi:
“akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya;
paṭisallīno bhagavā.
Manobhāvaniyānampi bhikkhūnaṁ asamayo dassanāya;
paṭisallīnā manobhāvaniyā bhikkhū.
Yannūnāhaṁ yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—
rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto pañcakaṅgaṁ thapatiṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha;
ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati pañcakaṅgo thapati.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā sāvatthiyaṁ paṭivasanti ayaṁ tesaṁ aññataro pañcakaṅgo thapati.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino;
appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā uggāhamānena paribbājakena samaṇamuṇḍikāputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho pañcakaṅgaṁ thapatiṁ uggāhamāno paribbājako samaṇamuṇḍikāputto etadavoca:
“catūhi kho ahaṁ, gahapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, gahapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—
imehi kho ahaṁ, gahapati, catūhi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhan”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi:
“bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati yāvatako ahosi uggāhamānena paribbājakena samaṇamuṇḍikāputtena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Evaṁ vutte, bhagavā pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
“evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa kāyotipi na hoti, kuto pana kāyena pāpakammaṁ karissati, aññatra phanditamattā.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa vācātipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ vācaṁ bhāsissati, aññatra roditamattā.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa saṅkappotipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappissati, aññatra vikūjitamattā.
Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa ājīvotipi na hoti, kuto pana pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvissati, aññatra mātuthaññā.
Evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ.
Catūhi kho ahaṁ, thapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi na ceva sampannakusalaṁ na paramakusalaṁ na uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ, api cimaṁ daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ samadhigayha tiṭṭhati.
Katamehi catūhi?
Idha, thapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—
imehi kho ahaṁ, thapati, catūhi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi na ceva sampannakusalaṁ na paramakusalaṁ na uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ, api cimaṁ daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ samadhigayha tiṭṭhati.
Dasahi kho ahaṁ, thapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ.
Ime akusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā akusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha akusalā sīlā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Ime kusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā kusalā sīlā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Ime akusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Ime kusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Itosamuṭṭhānā kusalā saṅkappā;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Idha kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Evaṁ paṭipanno kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti;
tamahaṁ, thapati, veditabbanti vadāmi.
Katame ca, thapati, akusalā sīlā?
Akusalaṁ kāyakammaṁ, akusalaṁ vacīkammaṁ, pāpako ājīvo—
ime vuccanti, thapati, akusalā sīlā.
Ime ca, thapati, akusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamaṁ cittaṁ?
Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ.
Yaṁ cittaṁ sarāgaṁ sadosaṁ samohaṁ, itosamuṭṭhānā akusalā sīlā.
Ime ca, thapati, akusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti, micchājīvaṁ pahāya sammājīvena jīvitaṁ kappeti—
etthete akusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katame ca, thapati, kusalā sīlā?
Kusalaṁ kāyakammaṁ, kusalaṁ vacīkammaṁ, ājīvaparisuddhampi kho ahaṁ, thapati, sīlasmiṁ vadāmi.
Ime vuccanti, thapati, kusalā sīlā.
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamaṁ cittaṁ?
Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ.
Yaṁ cittaṁ vītarāgaṁ vītadosaṁ vītamohaṁ, itosamuṭṭhānā kusalā sīlā.
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu sīlavā hoti no ca sīlamayo,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti; yatthassa te kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe…
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe…
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, kusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katame ca, thapati, akusalā saṅkappā?
Kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo—
ime vuccanti, thapati, akusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, akusalā saṅkappā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamā saññā?
Saññāpi hi bahū anekavidhā nānappakārakā.
Kāmasaññā, byāpādasaññā, vihiṁsāsaññā—
itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, akusalā saṅkappā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
etthete akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe…
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe…
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, akusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katame ca, thapati, kusalā saṅkappā?
Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo—
ime vuccanti, thapati, kusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, kusalā saṅkappā kiṁsamuṭṭhānā?
Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ.
‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ.
Katamā saññā?
Saññāpi hi bahū anekavidhā nānappakārakā.
Nekkhammasaññā, abyāpādasaññā, avihiṁsāsaññā—
itosamuṭṭhānā kusalā saṅkappā.
Ime ca, thapati, kusalā saṅkappā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti?
Nirodhopi nesaṁ vutto.
Idha, thapati, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
etthete kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
Kathaṁ paṭipanno ca, thapati, kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti?
Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya …pe…
anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya …pe…
uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ paṭipanno kho, thapati, kusalānaṁ saṅkappānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti.
Katamehi cāhaṁ, thapati, dasahi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ?
Idha, thapati, bhikkhu asekhāya sammādiṭṭhiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsaṅkappena samannāgato hoti, asekhāya sammāvācāya samannāgato hoti, asekhena sammākammantena samannāgato hoti, asekhena sammāājīvena samannāgato hoti, asekhena sammāvāyāmena samannāgato hoti, asekhāya sammāsatiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsamādhinā samannāgato hoti, asekhena sammāñāṇena samannāgato hoti, asekhāya sammāvimuttiyā samannāgato hoti—
imehi kho ahaṁ, thapati, dasahi dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhan”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano pañcakaṅgo thapati bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Samaṇamuṇḍikasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.