Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ khoảng năm trăm Bà-la-môn từ nhiều quốc độ khác nhau trú tại Sāvatthi vì một vài công việc. Những vị Bà-la-môn ấy suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Ai có thể cùng với Sa-môn Gotama thảo luận vấn đề này?”
SC 3Lúc bấy giờ thanh niên Assalayana trú ở Sāvatthi, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, chỉ có mười sáu tuổi, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Rồi các Bà-la-môn ấy suy nghĩ: “Thanh niên Assalayana này trú ở Sāvatthi, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, chỉ có mười sáu tuổi, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị ấy có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này”. Rồi những Bà-la-môn ấy đi đến thanh niên Assalayana, sau khi đến nói với thanh niên Assalayana
SC 4—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 5Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalayana nói với các Bà-la-môn ấy
SC 6—Sa-môn Gotama là vị nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 7Lần thứ hai các Bà-la-môn nói với thanh niên Assalayana
SC 8—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tôn giả Assalayana đã sống đời sống của vị du hành khất sĩ.
SC 9Lần thứ hai, thanh niên Assalayana nói với các vị Bà-la-môn ấy
SC 10—Sa-môn Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những người nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 11Lần thứ ba, những vị Bà-la-môn ấy nói với thanh niên Assalayana
SC 12—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana, hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tôn giả Assalayana đã sống đời sống của vị du hành khất sĩ. Tôn giả Assalayana chớ có bị chiến bại trong một cuộc chiến bại không có binh khí chống cự.
SC 13Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalayana nói với các vị Bà-la-môn ấy
SC 14—Thật sự tôi không chấp nhận được (lời yêu cầu) chư Tôn giả. Tôn giả Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tuy vậy tôi cũng sẽ đi, như lời chư Tôn giả yêu cầu.
SC 15Rồi thanh niên Assalayana cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Assalayana bạch Thế Tôn
SC 16—Thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn nói như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có Bà-la-môn là màu da trắng, giai cấp khác là màu da đen; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”. Ở đây, Tôn giả Gotama nói thế nào?
SC 17—Nhưng này Assalayana, các nữ Bà-la-môn, vợ các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Dầu vậy, các vị Bà-la-môn ấy sanh ra từ nữ căn lại nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là màu da trắng, giai cấp khác là màu da đen; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 18—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng các vị Bà-la-môn vẫn tự nghĩ rằng: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 19—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ông có nghe chăng? Tại các biên địa quốc độ khác như Yona và Kamboja, chỉ có hai giai cấp: chủ nhân và đầy tớ. Sau khi làm chủ nhân, lại trở thành đầy tớ; sau khi làm đầy tớ, lại trở thành chủ nhân?
SC 20—Thưa vâng, con có nghe. Trong các quốc độ biên địa như Yona, Kamboja, chỉ có hai giai cấp: chủ nhân và đầy tớ. Sau khi làm chủ nhân, lại trở thành đầy tớ, sau khi làm đầy tớ, lại trở thành chủ nhân.
SC 21—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của các Bà-la-môn, mà ở đây các vị Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 22—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây vị Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 23—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có người Khattiya (Sát-đế-lỵ) sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến: sau khi thân hoại mạng chung mới bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn không phải như vậy? Và chỉ có người Vessa và người Sudda sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mang chung, mới bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các Bà-la-môn không phải như vậy?
SC 24—Không phải như vậy, Tôn giả Gotama. Người Khattiya cũng vậy, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, cũng bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama, Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama, Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 25—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà các Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 26—Dầu Tôn giả Sa-môn có nói như vậy, nhưng ở đây, các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 27—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Khattiya không được vậy, Vessa không được vậy, Sudda không được vậy?
SC 28—Không phải vậy, Tôn giả Gotama. Khattiya cũng vậy, Tôn giả Gotama, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung cũng được sanh vào thiện thú, Thiên giới; cõi đời này. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, đều được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
SC 29—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà các Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 30—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây, các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 31—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn mới có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân, Khattiya không thể được, Vessa không thể được, Sudda không thể được?
SC 32—Không phải vậy, Tôn giả Gotama. Khattiya, Tôn giả Gotama, cũng có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, đều có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân.
SC 33—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà ở đây các Bà-la-môn lại nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 34—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 35—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn mới có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm đi đến sông tắm sạch bụi bặm, Khattiya không thể được, Vessa không thể được, Sudda không thể được?
SC 36—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama, Khattiya cũng có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm, đi đến sông tắm sạch bụi bặm. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, đều có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm, đi đến sông tắm sạch bụi bặm.
SC 37—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, xác tín gì của các Bà-la-môn, mà ở đây các Bà-la-môn lại nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 38—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 39—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có vua Khattiya đã làm lễ quán đảnh, cho hội họp một trăm người thuộc nhiều chủng tánh khác nhau và nói: “Quý vị hãy đến đây, quý vị nào thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn, sanh ra từ hoàng tộc, hãy đem đến phần trên của đồ quay lửa, bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, quay cho lửa và sức nóng hiện ra. Còn những người thuộc gia đình Chiên-đà-la (hạ tiện), thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, hãy đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y lan (elanda: cây thu đủ thầu dầu), và quay cho bậc lửa và sức nóng hiện ra”.
SC 40Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Có phải chỉ có ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, chỉ có lửa ấy mới có ngọn, mới có màu sắc, mới có ánh sáng, và chỉ có ngọn lửa ấy mới dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Còn ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình làm đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy không có ngọn, không có màu sắc, không có ánh sáng, và ngọn lửa ấy không có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại?
SC 41—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Ngọn lửa được nhen lên, sức nóng được tạo ra, Tôn giả Gotama, từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, lửa ấy có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, ngọn lửa ấy dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Và ngọn lửa được nhen lên, và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy cũng có ngọn, cũng có màu sắc, cũng có ánh sáng, và ngọn lửa ấy có thể dùng được vào công việc do lửa đem lại. Thưa Tôn giả Gotama, tất cả loại lửa đều có ngọn, đều có màu sắc, đều có ánh sáng; tất cả loại lửa đều có thể được dùng vào các công việc do lửa đem lại.
SC 42—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của các Bà-la-môn mà các Bà-la-môn ở đây lại nói: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 43—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 44—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây một nam tử Khattiya cưới một nữ nhân Bà-la-môn làm vợ. Do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Ðứa con trai ấy sanh ra từ nam tử Khattiya và nữ nhân Bà-la-môn. Nó giống mẹ nó hay giống cha nó; nó được gọi là Khattiya hay được gọi là Ba La Môn?
SC 45—Thưa Tôn giả Gotama, đứa con trai ấy sanh ra từ nam tử Khattiya và nữ nhân Bà-la-môn; nó giống mẹ nó và cũng giống cha nó, và được gọi là Khattiya và cũng được gọi là Bà-la-môn.
SC 46—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một nam tử Bà-la-môn cưới một nữ nhân Khattiya và do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Người con trai ấy được sanh từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya; nó giống mẹ nó, hay giống cha nó; nó được gọi là Khattiya, (hay) cũng được gọi là Bà-la-môn?
SC 47—Thưa Tôn giả Gotama, người con trai sanh ra từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya; nó giống mẹ nó; và giống cha nó, và nó được gọi là Khattiya, và cũng được gọi là Bà-la-môn.
SC 48—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có con ngựa cái giao phối với con lừa. Do sự giao phối này, chúng sanh được con la. Con la ấy sanh ra từ con ngựa cái và con lừa; nó giống mẹ nó, hay giống cha nó; nó được gọi là ngựa, hay nó được gọi là lừa?
SC 49—Tôn giả Gotama, do sự giao phối khác giống như vậy, nó là con la. Ðó là sự sai khác, thưa Tôn giả Gotama, mà tôi thấy ở đây. Nhưng ở chỗ khác, đối với sự vật khác, tôi không thấy sai biệt gì.
SC 50—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có hai anh em thanh niên, đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng, thông hiểu Thánh điển; một người không đọc tụng, không hiểu Thánh điển. Ở đây, giữa hai vị này, các Bà-la-môn sẽ cúng dường ai trước các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, các đồ ăn đãi khách?
SC 51—Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào đọc tụng, thông hiểu Thánh điển, các Bà-la-môn sẽ cúng dường người ấy trước, các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, các đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển làm sao có quả lớn được!
SC 52—Này Assalayana, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, có hai anh em thanh niên (Bà-la-môn) đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng thông hiểu Thánh điển, theo ác giới, hành ác pháp; một người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, trì giới, hành thiện pháp. Ở đây, các người Bà-la-môn cúng dường cho ai trước các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách?
SC 53—Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, nhưng trì giới, hành thiện pháp; ở đây, các Bà-la-môn cúng dường cho người ấy trước, các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người theo ác giới, hành ác pháp làm sao có quả lớn được!
SC 54—Này Assalayana, trước hết Ông đi về sanh chủng. Bỏ sanh chủng, Ông đi về Thánh điển. Bỏ Thánh điển, Ông đi về sự thanh tịnh của bốn giai cấp mà Ta đã chủ trương.
SC 55Nghe nói vậy, thanh niên Assalayana ngồi im lặng, ủ rũ, co vai, cúi đầu, sửng sờ, mở miệng không ra lời.
SC 56Rồi Thế Tôn sau khi biết được thanh niên Assalayana im lặng ủ rũ, co vai, cúi đầu, sửng sờ, mở miệng không ra lời, liền nói với thanh niên Assalayana
SC 57—Thuở xưa, này Assalayana, trong khi bảy ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận trong những am thất bằng lá tại một khu rừng, ác kiến sau đây được khởi lên: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”. Này Assalayana, ẩn sĩ Asita Devala được nghe: “Trong khi bảy ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận trong những am thất bằng lá, tại một khu rừng, ác kiến sau đây được khởi lên: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … con cháu thừa tự Phạm thiên”? Ẩn sĩ Asita Devala, sau khi sửa soạn râu tóc, đắp y vải màu đỏ tía, đi dép với nhiều lớp (đường viền) kiên cố, cầm một cây gậy bằng vàng, liền hiện ra trong hành lang am thất của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn. Rồi này Assalayana, ẩn sĩ Asita Devala đi qua, đi lại trong hành lang am thất của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn và nói
SC 58: “Nay những Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu? Nay những Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu?”
SC 59Rồi này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn suy nghĩ như sau: “Kẻ kia là ai đang đi qua lại trong hành lang am thất bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn như một con bò đi vòng tròn, lại nói như sau: “Nay những vị ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu? Nay những vị ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu?” Chúng ta hãy dùng chú thuật trù yếm Ông ta”. Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn dùng chú thuật trù yếm ẩn sĩ Asita Devala: “Hãy trở thành tro tàn hạ liệt”. Nhưng này Assalayana, bảy ẩn sĩ càng dùng chú thuật trù yếm, ẩn sĩ Asita Devala càng trở thành đẹp đẽ, trở thành dễ nhìn, trở thành khả ái. Rồi này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn suy nghĩ như sau: “Thật trống rỗng thay, khổ hạnh của chúng ta! Phạm hạnh của chúng ta không có hiệu quả. Trước kia, khi chúng ta dùng chú thuật trù yếm người nào: “Hãy trở thành tro tàn hạ liệt” Người ấy trở thành tro tàn ngay. Nhưng nay chúng ta càng dùng chú thuật trù yếm người này, người này lại càng trở nên đẹp đẽ, trở thành dễ nhìn, trở thành khả ái”.
SC 60“—Khổ hạnh, chư Tôn giả, không phải trống rỗng, Phạm hạnh (quý vị) không phải không hiệu quả. Chư Tôn giả, hãy từ bỏ tâm oán hận đối với ta”.
SC 61“—Có tâm oán hận nào đối với Tôn giả, chúng tôi sẽ bỏ. Tôn giả là ai?”
SC 62“—Chư Tôn giả có nghe nói đến ẩn sĩ Asita Devala không?”
SC 63“_ Thưa có nghe, Tôn giả”.
SC 64“—Chư Tôn giả, vị ấy là ta”.
SC 65Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn đến đảnh lễ ẩn sĩ Asita Devala. Rồi ẩn sĩ Asita Devala nói với bảy ẩn sĩ Bà-la-môn:
SC 66“—Chư Tôn giả, tôi có nghe như sau: “Trong khi bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận tại am thất bằng lá trong khu rừng, ác tà kiến như sau khởi lên: Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn màu da trắng, giai cấp khác màu da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 67“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 68“—Nhưng chư Tôn giả, chư tôn giả có biết mẹ sanh của họ chỉ giao hợp với các Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 69“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 70“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết mẹ sanh của họ, cho đến bảy đời tổ mẫu của họ chỉ giao hợp với các Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 71“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 72“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết cha sanh của họ chỉ giao hợp với các nữ Bà-la-môn, không với phi nữ Bà-la-môn?”
SC 73“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 74“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết cha sanh của họ, cho đến bảy đời tổ phụ của họ chỉ giao hợp với các nữ Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 75“—Không phải vậy, Tôn giả”.
SC 76“—Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết nhập thai là như thế nào?”
SC 77“—Thưa Tôn giả, chúng con biết nhập thai như thế này. Ở đây, mẹ cha phải giao hợp, người mẹ phải trong thời (có thể thọ sanh), hương ấm (gandhabha) phải hiện hữu, ba sự như vậy có hòa hợp, nhập thai mới thành tựu”.
SC 78“—Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda?”
SC 79“—Thưa Tôn giả, chúng tôi không biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda”.
SC 80“—Chư Tôn giả, sự tình là như vậy, chư Tôn giả có biết chư Tôn giả là ai không?”
SC 81“—Thưa Tôn giả, sự tình là như vậy, chúng tôi không có biết chúng tôi là ai”.
SC 82Này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn ấy bị ẩn sĩ Asita Devala, chất vấn, cật vấn, nạn vấn về vấn đề sanh chủng (jativada) của họ, không có thể ứng đáp được. Làm sao nay Ông bị ta chất vấn, cật vấn, nạn vấn về vấn đề sanh chủng của Ông lại có thể ứng đáp được, khi Ông cùng một Ðạo sư với họ và không có Puñña, người biết sử dụng thìa đổ sữa (làm lễ tế tự).
SC 83Khi được nói vậy, thanh niên Assalayana bạch Thế Tôn
SC 84—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena nānāverajjakānaṁ brāhmaṇānaṁ pañcamattāni brāhmaṇasatāni sāvatthiyaṁ paṭivasanti kenacideva karaṇīyena.
Atha kho tesaṁ brāhmaṇānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Ko nu kho pahoti samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti?
Tena kho pana samayena assalāyano nāma māṇavo sāvatthiyaṁ paṭivasati daharo, vuttasiro, soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
Atha kho tesaṁ brāhmaṇānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho assalāyano māṇavo sāvatthiyaṁ paṭivasati daharo, vuttasiro, soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū …pe… anavayo.
So kho pahoti samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Atha kho te brāhmaṇā yena assalāyano māṇavo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ:
“ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetū”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca:
“samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī;
dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti.
Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Dutiyampi kho te brāhmaṇā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ:
“ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetu.
Caritaṁ kho pana bhotā assalāyanena paribbājakan”ti.
Dutiyampi kho assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca:
“samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī;
dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti.
Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Tatiyampi kho te brāhmaṇā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ:
“ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetu.
Caritaṁ kho pana bhotā assalāyanena paribbājakaṁ.
Mā bhavaṁ assalāyano ayuddhaparājitaṁ parājayī”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca:
“addhā kho ahaṁ bhavanto na labhāmi.
Samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī;
dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti.
Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetunti.
Api cāhaṁ bhavantānaṁ vacanena gamissāmī”ti.
Atha kho assalāyano māṇavo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho assalāyano māṇavo bhagavantaṁ etadavoca:
“brāhmaṇā, bho gotama, evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Idha bhavaṁ gotamo kimāhā”ti?
“Dissanti kho pana, assalāyana, brāhmaṇānaṁ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi.
Te ca brāhmaṇiyonijāva samānā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti.
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
sutaṁ te: ‘yonakambojesu aññesu ca paccantimesu janapadesu dveva vaṇṇā—ayyo ceva dāso ca; ayyo hutvā dāso hoti, dāso hutvā ayyo hotī’”ti?
“Evaṁ, bho, sutaṁ taṁ me: ‘yonakambojesu aññesu ca paccantimesu janapadesu dveva vaṇṇā—ayyo ceva dāso ca; ayyo hutvā dāso hoti, dāso hutvā ayyo hotī’”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
khattiyova nu kho pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, no brāhmaṇo?
Vessova nu kho …pe…
suddova nu kho pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, no brāhmaṇo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya.
Brāhmaṇopi hi, bho gotama …pe…
vessopi hi, bho gotama …pe…
suddopi hi, bho gotama …pe…
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pāṇātipātino adinnādāyino kāmesumicchācārino musāvādino pisuṇavācā pharusavācā samphappalāpino abhijjhālū byāpannacittā micchādiṭṭhī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
brāhmaṇova nu kho pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya.
Brāhmaṇopi hi, bho gotama …pe…
vessopi hi, bho gotama …pe…
suddopi hi, bho gotama …pe…
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā pisuṇāya vācāya paṭiviratā pharusāya vācāya paṭiviratā samphappalāpā paṭiviratā anabhijjhālū abyāpannacittā sammādiṭṭhī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
brāhmaṇova nu kho pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ;
brāhmaṇopi hi, bho gotama …
vessopi hi, bho gotama …
suddopi hi, bho gotama …
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
brāhmaṇova nu kho pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, brāhmaṇopi hi, bho gotama …
vessopi hi, bho gotama …
suddopi hi, bho gotama …
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha rājā khattiyo muddhāvasitto nānājaccānaṁ purisānaṁ purisasataṁ sannipāteyya:
‘āyantu bhonto ye tattha khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannā, sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya, aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontu.
Āyantu pana bhonto ye tattha caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannā, sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya, aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontū’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
yo evaṁ nu kho so khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato, so eva nu khvāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ;
yo pana so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato svāssa aggi na ceva accimā na ca vaṇṇavā na ca pabhassaro, na ca tena sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Yopi hi so, bho gotama, khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ;
yopi so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato, svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ.
Sabbopi hi, bho gotama, aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, sabbenapi sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha khattiyakumāro brāhmaṇakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha;
yo so khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti?
“Yo so, bho gotama, khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha brāhmaṇakumāro khattiyakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha;
yo so brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti?
“Yo so, bho gotama, brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha vaḷavaṁ gadrabhena sampayojeyyuṁ, tesaṁ sampayogamanvāya kisoro jāyetha;
yo so vaḷavāya gadrabhena kisoro uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘asso’tipi vattabbo ‘gadrabho’tipi vattabbo”ti?
“Kuṇḍañhi so, bho gotama, assataro hoti.
Idaṁ hissa, bho gotama, nānākaraṇaṁ passāmi;
amutra ca panesānaṁ na kiñci nānākaraṇaṁ passāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idhāssu dve māṇavakā bhātaro sodariyā, eko ajjhāyako upanīto eko anajjhāyako anupanīto.
Kamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Yo so, bho gotama, māṇavako ajjhāyako upanīto tamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā.
Kiñhi, bho gotama, anajjhāyake anupanīte dinnaṁ mahapphalaṁ bhavissatī”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idhāssu dve māṇavakā bhātaro sodariyā, eko ajjhāyako upanīto dussīlo pāpadhammo, eko anajjhāyako anupanīto sīlavā kalyāṇadhammo.
Kamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Yo so, bho gotama, māṇavako anajjhāyako anupanīto sīlavā kalyāṇadhammo tamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā.
Kiñhi, bho gotama, dussīle pāpadhamme dinnaṁ mahapphalaṁ bhavissatī”ti?
“Pubbe kho tvaṁ, assalāyana, jātiṁ agamāsi;
jātiṁ gantvā mante agamāsi;
mante gantvā tape agamāsi;
tape gantvā cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paccāgato, yamahaṁ paññapemī”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā assalāyanaṁ māṇavaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …
pe…
brahmadāyādā’ti.
Assosi kho, assalāyana, asito devalo isi:
‘sattannaṁ kira brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’ti.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi kesamassuṁ kappetvā mañjiṭṭhavaṇṇāni dussāni nivāsetvā paṭaliyo upāhanā āruhitvā jātarūpamayaṁ daṇḍaṁ gahetvā sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile pāturahosi.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile caṅkamamāno evamāha:
‘handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā;
handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā’ti?
Atha kho, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ etadahosi:
‘ko nāyaṁ gāmaṇḍalarūpo viya sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile caṅkamamāno evamāha:
“handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā;
handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatāti?
Handa naṁ abhisapāmā”’ti.
Atha kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhisapiṁsu:
‘bhasmā, vasala, hohi;
bhasmā, vasala, hohī’ti.
Yathā yathā kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhisapiṁsu tathā tathā asito devalo isi abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Atha kho, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ etadahosi:
‘moghaṁ vata no tapo, aphalaṁ brahmacariyaṁ.
Mayañhi pubbe yaṁ abhisapāma—
bhasmā, vasala, hohi;
bhasmā, vasala, hohīti bhasmāva bhavati ekacco.
Imaṁ pana mayaṁ yathā yathā abhisapāma tathā tathā abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro cā’ti.
‘Na bhavantānaṁ moghaṁ tapo, nāphalaṁ brahmacariyaṁ.
Iṅgha bhavanto, yo mayi manopadoso taṁ pajahathā’ti.
‘Yo bhavati manopadoso taṁ pajahāma.
Ko nu bhavaṁ hotī’ti?
‘Suto nu bhavataṁ—
asito devalo isī’ti?
‘Evaṁ, bho’.
‘So khvāhaṁ, bho, homī’ti.
Atha kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhivādetuṁ upakkamiṁsu.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi satta brāhmaṇisayo etadavoca:
‘sutaṁ metaṁ, bho, sattannaṁ kira brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
‘Evaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yā janikā mātā brāhmaṇaṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇan’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yā janikāmātu mātā yāva sattamā mātumātāmahayugā brāhmaṇaṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇan’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yo janako pitā brāhmaṇiṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇin’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yo janakapitu pitā yāva sattamā pitupitāmahayugā brāhmaṇiṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇin’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yathā gabbhassa avakkanti hotī’ti?
‘Jānāma mayaṁ, bho—
yathā gabbhassa avakkanti hoti.
Idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca paccupaṭṭhito hoti; evaṁ tiṇṇaṁ sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti.
‘Jānanti pana bhonto—
taggha, so gandhabbo khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā’ti?
‘Na mayaṁ, bho, jānāma—
taggha so gandhabbo khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā’ti.
‘Evaṁ sante, bho, jānātha—
ke tumhe hothā’ti?
‘Evaṁ sante, bho, na mayaṁ jānāma—
ke mayaṁ homā’ti.
Te hi nāma, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitena devalena isinā sake jātivāde samanuyuñjīyamānā samanuggāhīyamānā samanubhāsīyamānā na sampāyissanti;
kiṁ pana tvaṁ etarahi mayā sakasmiṁ jātivāde samanuyuñjīyamāno samanuggāhīyamāno samanubhāsīyamāno sampāyissasi, yesaṁ tvaṁ sācariyako na puṇṇo dabbigāho”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Assalāyanasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
PTS vp Pali 147 Thus have I heard: At one time the Lord was staying near Sāvatthī in the Jeta Grove in Anāthapiṇḍika’s monastery. Now at that time at least five hundred brahmans from a number of districts were residing at Sāvatthī on some business or other. Then it occurred to these brahmans: “This recluse Gotama lays down the purity of the four castes. Now, who is capable of arguing about this saying with the recluse Gotama?” At that time the brahman youth Assalāyana was residing at Sāvatthī. He was young, his head shaven, sixteen years of age from his birth; he was master of the three Vedas … proficient in … the marks of a Great Man. Then it occurred to these brahmans: “This brahman youth Assalāyana is residing at Sāvatthī. He is young, his head shaven … proficient in … the marks of a Great Man. He is capable of arguing about this saying with the recluse Gotama.” Then these brahmans approached the brahman youth Assalāyana; having approached, they spoke thus to the brahman youth Assalāyana:
“Good Assalāyana, this recluse Gotama lays down the purity of the four castes; you go, good Assalāyana, and argue about this saying with the recluse Gotama.”
When this had been said, Assalāyana the brahman youth spoke thus to those brahmans: “Truly, sirs, is the recluse Gotama a speaker on dhamma but speakers on dhamma are difficult to argue with. I am not able to argue about this saying with the recluse Gotama.” And a second time these brahmans spoke thus to the brahman youth Assalāyana: “Good Assalāyana, this recluse Gotama lays down the purity of the four castes; you go, good Assalāyana, PTS vp Pali 148 and argue about this saying with the recluse Gotama. A wanderer’s (life) is led by the good Assalāyana.”
And a second time Assalāyana the brahman youth spoke thus to to those brahmans: “Truly, sirs, is the recluse Gotama a speaker on dhamma but speakers on dhamma are difficult to argue with. I am not able to argue about this saying with the recluse Gotama.”
And a third time these brahmans spoke thus to the brahman youth Assalāyana: “Good Assalāyana, this recluse Gotama lays down the purity of the four castes; you go, good Assalāyana, and argue about this saying with the recluse Gotama. A wanderer’s life is led by the good Assalāyana. Let not the good Assalāyana be defeated in a defeat without resistance.” When this had been said, Assalāyana the brahman youth spoke thus to those brahmans:
“Sirs, truly the recluse Gotama is a speaker on dhamma but speakers on dhamma are difficult to argue with. I am not able to argue about this saying with the recluse Gotama. All the same, I will go at the bidding of the reverend ones.”
Then Assalāyana the brahman youth together with a large concourse of brahmans approached the Lord; having approached, he exchanged greetings with the Lord; having conversed in a friendly and courteous way, he sat down at a respectful distance. As he was sitting down at a respectful distance, Assalāyana the brahman youth spoke thus to the Lord:
“Good Gotama, brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste, all other castes are low; only brahmans form the fair caste, all other castes are dark; only brahmans are pure, not non-brahmans; only brahmans are own sons of Brahmā, born of his mouth, born of Brahmā, formed by Brahmā, heirs to Brahmā.’ What does the good Gotama say about this?”
“But, Assalāyana, brahman wives of brahmans are known to have their seasons and to conceive and to give birth and to give suck. Yet these brahmans, born of woman like everyone else, speak thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
PTS vp Pali 149 “Although the good Gotama speaks thus, yet brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? Have you heard that in Yona and Kamboja and other adjacent districts there are only two castes, the master and the slave? And that having been a master one becomes a slave; having been a slave one becomes a master?”
“Yes, I have heard this, sir. In Yona and Kamboja … having been a slave one becomes a master.”
“In reference to this then, Assalāyana, on what strength and authority do brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs of Brahmā’?”
“Although the good Gotama speaks thus, yet brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? If a noble made onslaught on creatures, took what had not been given, wrongly enjoyed pleasures of the senses, were a liar, of slanderous speech, of harsh speech, a gossip, covetous, malevolent in mind, of wrong view—would only he at the breaking up of the body after dying arise in the sorrowful way, the bad bourn, the Downfall, Niraya Hell, and not a brahman? Nor yet a merchant? And would a worker if he made onslaught on creatures … were … of wrong view—would he at the breaking up of the body after dying, arise in the sorrowful way … Niraya Hell, and not a brahman?”
“This is not so, good Gotama. If a noble, good Gotama, made onslaught on creatures, took what had not been given … at the breaking up of the body after dying he would arise in … Niraya Hell. And so would a brahman, good Gotama, and so would a merchant, good Gotama, and so would a worker, good Gotama—so good Gotama, if they made onslaught on creatures, PTS vp Pali 150 took what had not been given … were … of wrong view, all the four castes at the breaking up of the body after dying would arise in the sorrowful way, the bad bourn, the Downfall, Niraya Hell.”
“In reference to this then, Assalāyana, on what strength and authority do brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs of Brahmā’?”
“Although the good Gotama speaks thus, yet brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? If a brahman refrained from onslaught on creatures, from taking what had not been given, from wrong enjoyment of the sense-pleasures, from being a liar, from slanderous speech, from harsh speech, from being a gossip, were not covetous, were not benevolent in mind and of right view—would only he at the breaking up of the body after dying arise in a good bourn, a heaven world, and not a noble, nor a merchant, nor a worker?”
“That is not so, good Gotama. If a noble refrained from onslaught on creatures … were benevolent in mind and of right view, at the breaking up of the body after dying he would arise in a good bourn, a heaven world. And so would a brahman, good Gotama, and so would a merchant, good Gotama, and so would a worker, good Gotama—so, good Gotama, if they refrained from onslaught on creatures, from taking what had not been given … were benevolent in mind and of right view, all the four castes at the breaking up of the body after dying would arise in a good bourn, a heaven world.”
“In reference to this then, Assalāyana, on what strength and authority do brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā’?”
“Although the good Gotama speaks thus, yet PTS vp Pali 151 brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? Is it only a brahman who, on this supposition, is capable of developing a mind of friendliness that is without enmity, without malevolence? And not a noble, not a merchant, not a worker?”
“That is not so, good Gotama. On this supposition, a noble too, good Gotama, is capable of developing a mind of friendliness that is without enmity, without malevolence; and also a brahman, good Gotama, and also a merchant, good Gotama, and also a worker, good Gotama—so, good Gotama, on this supposition all the four castes are capable of developing a mind of friendliness that is without enmity, without malevolence.”
“In reference to this then, Assalāyana, on what strength and authority do brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā’?”
“Although the good Gotama speaks thus, yet brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? Is it only a brahman who, taking a back-scratcher and bath-powder and going to a river, is capable of cleansing himself of dust and mud? And not a noble, not a merchant, not a worker?”
“That is not so, good Gotama. A noble too, good Gotama, who, taking a back-scratcher and bath-powder and going to a river, is capable of cleansing himself of dust and mud. And so is a brahman … and so is a merchant … and so is a worker, good Gotama—so, good Gotama, all the four castes, taking a back-scratcher and bath-powder and going to a river, are capable of cleansing themselves of dust and mud.”
“In reference to this then, Assalāyana, on what strength and authority do brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā?”
“Although the good Gotama speaks thus, yet brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? If a noble anointed king PTS vp Pali 152 were to assemble a hundred men of varying origins, saying to them: ‘Let the good sirs come; and let those who are of noble, priestly and royal families, bringing an upper piece of fire-stick of teak or sāl or of a sweet-scented tree or of sandal or lotus, light a fire and get it to give out heat. But let the good sirs come; and let those who are from a despised family, a trapper family, a bamboo-plaiter family, a cartwright family, a scavenger family, bringing an upper piece of fire-stick from a dog’s trough or a pig’s trough or from a trough for dyeing or dry sticks from castor-oil shrub, light a fire and get it to give out heat.’ What do you think about this, Assalāyana? Is the fire that is lit and the heat that is got by someone—no matter whether he be from a noble, priestly or royal family, and no matter whether he bring an upper piece of fire-stick of teak or sāl or of a sweet-scented tree or of sandal or lotus—is it a fire that has flame and hue and brightness and, being this fire, is it able to serve the purposes of a fire? But is the fire that is lit and the heat that is got by someone—no matter whether he be from a despised family, a trapper family, a bamboo-plaiter family, a cartwright family, a scavenger family, and no matter whether he bring an upper piece of fire-stick from a dog’s trough or a pig’s trough or from a trough for dyeing or dry sticks from a castor-oil shrub—is it a fire that has neither flame nor hue nor brightness and, being this fire, is it unable to serve the purposes of a fire?”
“That is not so, good Gotama. Whoever from a noble, priestly or royal family, bringing an upper piece of fire-stick of teak or sāl or of a sweet-scented tree or of sandal or lotus, lights a fire and gets it to give out heat—this fire has flame and hue and brightness and is able to serve the purposes of a fire. And too, whoever from a despised family, a trapper family, a bamboo-plaiter family, a cartwright family, a scavenger family, bringing an upper piece of fire-stick from a dog’s trough or a pig’s trough or a trough for dyeing or dry sticks from a castor-oil shrub, lights a fire and gets it to give out heat—this fire too has flame and hue and brightness and is able to serve the purposes of a fire. So, good Gotama, all these fires have flame PTS vp Pali 153 and hue and brightness and are able to serve the purposes of a fire.”
“In reference to this then, Assalāyana, on what strength and authority do brahmans speak thus: ‘Only brahmans form the best caste, all other castes are low; only brahmans form the fair caste, all other castes are dark; only brahmans are pure, not non-brahmans; only brahmans are sons of Brahmā, born of his mouth, born of Brahmā, formed by Brahmā, heirs to Brahmā’?”
“Although the good Gotama speaks thus, yet brahmans still consider it thus: ‘Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.’”
“What do you think about this, Assalāyana? Suppose a noble youth were to consort with a brahman girl and as a result a son were born to them. Would that son of the noble youth and the brahman girl be like his mother and also like his father, and should he be called ‘noble’ and also ‘brahman’?”
“Whatever son, good Gotama, were born to a noble youth with a brahman girl, he would be like his mother and also like his father, and he should be called ‘noble’ and also ‘brahman.’”
“What do you think about this, Assalāyana? Suppose a brahman youth were to consort with a noble girl and as a result at a son were born to them. Would that son … and should he be called ‘noble’ and also ‘brahman’?”
“Whatever son, good Gotama, were born to a brahman youth and a noble girl, he would be like his mother and also like his father, and he should be called ‘noble’ and also ‘brahman.’”
“What do you think about this, Assalāyana? Suppose a mare were mated with an ass and as a result a foal were born of this mating. Would that foal of the mare and the ass be like the mother and also like the father, and should it be called ‘horse’ and also ‘ass’?”
“Because of its crossed birth, good Gotama, it is a mule. This PTS vp Pali 154 good Gotama, is a difference that I see for it, but elsewhere, for the others, I see no difference at all.”
“What do you think about this, Assalāyana? There might be two brahman youths here, uterine brothers, the one skilled (in the Vedas), educated (in them), the other unskilled, uneducated. To which of these would brahmans first serve offerings for the dead or cereals or oblations or meals for guests?”
“Good Gotama, brahmans would first serve offerings for the dead or cereals or oblations or meals for guests to that brahman youth who is skilled (in the Vedas), educated (in them). For, good Gotama, what great fruit could there be of a gift to an unskilled, uneducated (person)?”
“What do you think about this, Assalāyana? There might be two brahman youths here, uterine brothers, the one skilled (in the Vedas), educated (in them), but of bad moral habit of evil character, and the other not skilled, uneducated, but of moral habit, lovely in character. To which of these would brahmans first serve offerings for the dead … or meals for guests?”
“Good Gotama, brahmans would first serve offerings for the dead … or meals for guests to that brahman youth who is not skilled (in the Vedas), uneducated (in them), but who is of moral habit, lovely in character. For, good Gotama, what great fruit could there be of a gift to (a person of) bad moral habit, of evil character?”
“First you, Assalāyana, went on about birth; leaving birth you went on about mantras; leaving mantras you arrived at the purity of the four castes which is just what I lay down.”
When this had been said, the brahman youth Assalāyana sat silent, ashamed, his shoulders drooped, his face cast down, overcome with disappointment, at a loss for an answer. Then the Lord, understanding why Assalāyana the brahman youth was silent, ashamed, his shoulders drooped, his face cast down, overcome with disappointment, at a loss for an answer, spoke thus to Assalāyana the brahman youth:
“Once upon a time, Assalāyana, while seven brahman seers were living in leaf huts in a stretch of forest a pernicious view like this arose in them: ‘Only brahmans form the best caste, PTS vp Pali 155 all other castes are low … heirs to Brahmā.’ And Assalāyana, the seer Asita Devala heard: ‘Indeed seven brahman seers are living in leaf huts in a stretch of forest and a pernicious view like this has arisen in them: “Only brahmans form the best caste … heirs to Brahmā.”’ Then, Assalāyana, the seer Asita Devala, having trimmed his hair and beard, having clothed himself in a pair of crimson coloured cloths, having put on sandals with many linings and taking a staff made of gold, appeared in a cell in a hall of the seven brahman seers. And then, Assalāyana, as the seer Asita Devala was pacing up and down in the cell in a hall of the seven brahman seers, he spoke thus: ‘Now, where have these revered brahman seers gone? Now, where have these revered brahman seers gone?’ Then, Assalāyana, it occurred to the seven brahman seers: ‘Who is it who, while pacing up and down like a village lad in a cell in a hall of the seven brahman seers, speaks thus: “Now, where have these revered brahman seers gone? Now, where have these revered brahman seers gone?”’ Then, Assalāyana, the seven brahman seers put a curse on the seer Asita Devala, saying: ‘Become a vile cinder.’ But, Assalāyana, the more the seven brahman seers cursed the seer Asita Devala, the more lovely became the seer Asita Devala, the more good to look upon and the more charming. Then, Assalāyana, it occurred to the seven brahman seers: ‘Vain is austerity for us, fruitless the Brahma-faring. Formerly when we put a curse on anyone, saying: Become a vile cinder, he became as a cinder; but the more we put a curse on this one the more lovely he becomes, the more good to look upon, the more charming.’
‘Austerity is not vain for the revered ones, nor fruitless the Brahma-faring. But, revered sirs, please get rid of your misapprehension about me.’
PTS vp Pali 156 ‘We will get rid of whatever misapprehension there is. But who is the revered sir?’
‘Is the seer Asita Devala known to the revered sirs?’
‘Yes, sir.’
‘I, sirs, am he.’ Then, Assalāyana, the seven brahman seers approached the seer Asita Devala in order to honour him. Then, Assalāyana, the seer Asita Devala spake thus to those seven brahman seers: ‘I have heard this, good sirs: While seven brahman seers were living in leaf huts in a stretch of forest a pernicious view like this arose in them: “Only brahmans form the best caste, all other castes are low; only brahmans form the fair caste, all other castes are dark; only brahmans are pure, not non-brahmans; only brahmans are own sons of Brahmā, born of his mouth, born of Brahmā, formed by Brahmā, heirs to Brahmā.”’
‘Yes, sir.’
‘But do you, sirs, know whether their mothers consorted only with brahmans, not with non-brahmans?’
‘No, sir.’
‘And do you, sirs, know whether their mothers’ mothers back through seven generations consorted only with brahmans, not with non-brahmans?’
‘No, sir.’
‘And do you, sirs, know whether their fathers consorted only with brahman women, not with non-brahman women?’
‘No, sir.’
‘And do you, sirs, know whether their fathers’ fathers back through seven generations consorted only with brahman women, not non-brahman women?’
‘No, sir.’
‘But do you, sirs, know how there is conception?’
‘We do know, sir, how there is conception. PTS vp Pali 157 There is here a coitus of the parents, it is the mother’s season and the gandhabba is present; it is on the conjunction of these three things that there is conception.’
‘But do you, sirs, know whether that gandhabba is a noble or brahman or merchant or worker?’
‘We do not know, sir, whether that gandhabba is a noble or a brahman or a merchant or a worker.’
‘This being so, do you know, sirs, who you are?’
‘This being so, sir, we do not know who we are.’
Assalāyana, these seven so called brahman seers, on being questioned, cross-questioned and pressed for an answer by the seer Asita Devala concerning their own claims to lineage were not able to explain. So how can you, on being questioned, cross-questioned and pressed for an answer by me now explain your own claims to lineage—you who have the same teacher as they have, but not Puṇṇa the holder of the oblation-ladle?”
When this had been said, Assalāyana the brahman youth spoke thus to the Lord: “It is excellent, good Gotama, it is excellent, good Gotama. May the good Gotama accept me as a lay-disciple going for refuge from this day forth for as long as life lasts.”
Discourse with Assalāyana: The Third
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ khoảng năm trăm Bà-la-môn từ nhiều quốc độ khác nhau trú tại Sāvatthi vì một vài công việc. Những vị Bà-la-môn ấy suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Ai có thể cùng với Sa-môn Gotama thảo luận vấn đề này?”
SC 3Lúc bấy giờ thanh niên Assalayana trú ở Sāvatthi, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, chỉ có mười sáu tuổi, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Rồi các Bà-la-môn ấy suy nghĩ: “Thanh niên Assalayana này trú ở Sāvatthi, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, chỉ có mười sáu tuổi, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị ấy có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này”. Rồi những Bà-la-môn ấy đi đến thanh niên Assalayana, sau khi đến nói với thanh niên Assalayana
SC 4—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 5Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalayana nói với các Bà-la-môn ấy
SC 6—Sa-môn Gotama là vị nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 7Lần thứ hai các Bà-la-môn nói với thanh niên Assalayana
SC 8—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tôn giả Assalayana đã sống đời sống của vị du hành khất sĩ.
SC 9Lần thứ hai, thanh niên Assalayana nói với các vị Bà-la-môn ấy
SC 10—Sa-môn Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những người nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 11Lần thứ ba, những vị Bà-la-môn ấy nói với thanh niên Assalayana
SC 12—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana, hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tôn giả Assalayana đã sống đời sống của vị du hành khất sĩ. Tôn giả Assalayana chớ có bị chiến bại trong một cuộc chiến bại không có binh khí chống cự.
SC 13Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalayana nói với các vị Bà-la-môn ấy
SC 14—Thật sự tôi không chấp nhận được (lời yêu cầu) chư Tôn giả. Tôn giả Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tuy vậy tôi cũng sẽ đi, như lời chư Tôn giả yêu cầu.
SC 15Rồi thanh niên Assalayana cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Assalayana bạch Thế Tôn
SC 16—Thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn nói như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có Bà-la-môn là màu da trắng, giai cấp khác là màu da đen; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”. Ở đây, Tôn giả Gotama nói thế nào?
SC 17—Nhưng này Assalayana, các nữ Bà-la-môn, vợ các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Dầu vậy, các vị Bà-la-môn ấy sanh ra từ nữ căn lại nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là màu da trắng, giai cấp khác là màu da đen; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 18—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng các vị Bà-la-môn vẫn tự nghĩ rằng: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 19—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ông có nghe chăng? Tại các biên địa quốc độ khác như Yona và Kamboja, chỉ có hai giai cấp: chủ nhân và đầy tớ. Sau khi làm chủ nhân, lại trở thành đầy tớ; sau khi làm đầy tớ, lại trở thành chủ nhân?
SC 20—Thưa vâng, con có nghe. Trong các quốc độ biên địa như Yona, Kamboja, chỉ có hai giai cấp: chủ nhân và đầy tớ. Sau khi làm chủ nhân, lại trở thành đầy tớ, sau khi làm đầy tớ, lại trở thành chủ nhân.
SC 21—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của các Bà-la-môn, mà ở đây các vị Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 22—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây vị Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 23—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có người Khattiya (Sát-đế-lỵ) sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến: sau khi thân hoại mạng chung mới bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn không phải như vậy? Và chỉ có người Vessa và người Sudda sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mang chung, mới bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các Bà-la-môn không phải như vậy?
SC 24—Không phải như vậy, Tôn giả Gotama. Người Khattiya cũng vậy, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, cũng bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama, Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama, Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 25—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà các Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 26—Dầu Tôn giả Sa-môn có nói như vậy, nhưng ở đây, các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 27—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Khattiya không được vậy, Vessa không được vậy, Sudda không được vậy?
SC 28—Không phải vậy, Tôn giả Gotama. Khattiya cũng vậy, Tôn giả Gotama, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung cũng được sanh vào thiện thú, Thiên giới; cõi đời này. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, đều được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
SC 29—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà các Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 30—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây, các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 31—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn mới có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân, Khattiya không thể được, Vessa không thể được, Sudda không thể được?
SC 32—Không phải vậy, Tôn giả Gotama. Khattiya, Tôn giả Gotama, cũng có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, đều có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân.
SC 33—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà ở đây các Bà-la-môn lại nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 34—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 35—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn mới có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm đi đến sông tắm sạch bụi bặm, Khattiya không thể được, Vessa không thể được, Sudda không thể được?
SC 36—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama, Khattiya cũng có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm, đi đến sông tắm sạch bụi bặm. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, đều có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm, đi đến sông tắm sạch bụi bặm.
SC 37—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, xác tín gì của các Bà-la-môn, mà ở đây các Bà-la-môn lại nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 38—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 39—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có vua Khattiya đã làm lễ quán đảnh, cho hội họp một trăm người thuộc nhiều chủng tánh khác nhau và nói: “Quý vị hãy đến đây, quý vị nào thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn, sanh ra từ hoàng tộc, hãy đem đến phần trên của đồ quay lửa, bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, quay cho lửa và sức nóng hiện ra. Còn những người thuộc gia đình Chiên-đà-la (hạ tiện), thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, hãy đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y lan (elanda: cây thu đủ thầu dầu), và quay cho bậc lửa và sức nóng hiện ra”.
SC 40Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Có phải chỉ có ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, chỉ có lửa ấy mới có ngọn, mới có màu sắc, mới có ánh sáng, và chỉ có ngọn lửa ấy mới dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Còn ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình làm đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy không có ngọn, không có màu sắc, không có ánh sáng, và ngọn lửa ấy không có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại?
SC 41—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Ngọn lửa được nhen lên, sức nóng được tạo ra, Tôn giả Gotama, từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, lửa ấy có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, ngọn lửa ấy dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Và ngọn lửa được nhen lên, và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy cũng có ngọn, cũng có màu sắc, cũng có ánh sáng, và ngọn lửa ấy có thể dùng được vào công việc do lửa đem lại. Thưa Tôn giả Gotama, tất cả loại lửa đều có ngọn, đều có màu sắc, đều có ánh sáng; tất cả loại lửa đều có thể được dùng vào các công việc do lửa đem lại.
SC 42—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của các Bà-la-môn mà các Bà-la-môn ở đây lại nói: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 43—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 44—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây một nam tử Khattiya cưới một nữ nhân Bà-la-môn làm vợ. Do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Ðứa con trai ấy sanh ra từ nam tử Khattiya và nữ nhân Bà-la-môn. Nó giống mẹ nó hay giống cha nó; nó được gọi là Khattiya hay được gọi là Ba La Môn?
SC 45—Thưa Tôn giả Gotama, đứa con trai ấy sanh ra từ nam tử Khattiya và nữ nhân Bà-la-môn; nó giống mẹ nó và cũng giống cha nó, và được gọi là Khattiya và cũng được gọi là Bà-la-môn.
SC 46—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một nam tử Bà-la-môn cưới một nữ nhân Khattiya và do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Người con trai ấy được sanh từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya; nó giống mẹ nó, hay giống cha nó; nó được gọi là Khattiya, (hay) cũng được gọi là Bà-la-môn?
SC 47—Thưa Tôn giả Gotama, người con trai sanh ra từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya; nó giống mẹ nó; và giống cha nó, và nó được gọi là Khattiya, và cũng được gọi là Bà-la-môn.
SC 48—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có con ngựa cái giao phối với con lừa. Do sự giao phối này, chúng sanh được con la. Con la ấy sanh ra từ con ngựa cái và con lừa; nó giống mẹ nó, hay giống cha nó; nó được gọi là ngựa, hay nó được gọi là lừa?
SC 49—Tôn giả Gotama, do sự giao phối khác giống như vậy, nó là con la. Ðó là sự sai khác, thưa Tôn giả Gotama, mà tôi thấy ở đây. Nhưng ở chỗ khác, đối với sự vật khác, tôi không thấy sai biệt gì.
SC 50—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có hai anh em thanh niên, đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng, thông hiểu Thánh điển; một người không đọc tụng, không hiểu Thánh điển. Ở đây, giữa hai vị này, các Bà-la-môn sẽ cúng dường ai trước các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, các đồ ăn đãi khách?
SC 51—Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào đọc tụng, thông hiểu Thánh điển, các Bà-la-môn sẽ cúng dường người ấy trước, các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, các đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển làm sao có quả lớn được!
SC 52—Này Assalayana, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, có hai anh em thanh niên (Bà-la-môn) đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng thông hiểu Thánh điển, theo ác giới, hành ác pháp; một người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, trì giới, hành thiện pháp. Ở đây, các người Bà-la-môn cúng dường cho ai trước các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách?
SC 53—Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, nhưng trì giới, hành thiện pháp; ở đây, các Bà-la-môn cúng dường cho người ấy trước, các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người theo ác giới, hành ác pháp làm sao có quả lớn được!
SC 54—Này Assalayana, trước hết Ông đi về sanh chủng. Bỏ sanh chủng, Ông đi về Thánh điển. Bỏ Thánh điển, Ông đi về sự thanh tịnh của bốn giai cấp mà Ta đã chủ trương.
SC 55Nghe nói vậy, thanh niên Assalayana ngồi im lặng, ủ rũ, co vai, cúi đầu, sửng sờ, mở miệng không ra lời.
SC 56Rồi Thế Tôn sau khi biết được thanh niên Assalayana im lặng ủ rũ, co vai, cúi đầu, sửng sờ, mở miệng không ra lời, liền nói với thanh niên Assalayana
SC 57—Thuở xưa, này Assalayana, trong khi bảy ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận trong những am thất bằng lá tại một khu rừng, ác kiến sau đây được khởi lên: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”. Này Assalayana, ẩn sĩ Asita Devala được nghe: “Trong khi bảy ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận trong những am thất bằng lá, tại một khu rừng, ác kiến sau đây được khởi lên: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … con cháu thừa tự Phạm thiên”? Ẩn sĩ Asita Devala, sau khi sửa soạn râu tóc, đắp y vải màu đỏ tía, đi dép với nhiều lớp (đường viền) kiên cố, cầm một cây gậy bằng vàng, liền hiện ra trong hành lang am thất của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn. Rồi này Assalayana, ẩn sĩ Asita Devala đi qua, đi lại trong hành lang am thất của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn và nói
SC 58: “Nay những Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu? Nay những Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu?”
SC 59Rồi này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn suy nghĩ như sau: “Kẻ kia là ai đang đi qua lại trong hành lang am thất bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn như một con bò đi vòng tròn, lại nói như sau: “Nay những vị ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu? Nay những vị ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu?” Chúng ta hãy dùng chú thuật trù yếm Ông ta”. Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn dùng chú thuật trù yếm ẩn sĩ Asita Devala: “Hãy trở thành tro tàn hạ liệt”. Nhưng này Assalayana, bảy ẩn sĩ càng dùng chú thuật trù yếm, ẩn sĩ Asita Devala càng trở thành đẹp đẽ, trở thành dễ nhìn, trở thành khả ái. Rồi này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn suy nghĩ như sau: “Thật trống rỗng thay, khổ hạnh của chúng ta! Phạm hạnh của chúng ta không có hiệu quả. Trước kia, khi chúng ta dùng chú thuật trù yếm người nào: “Hãy trở thành tro tàn hạ liệt” Người ấy trở thành tro tàn ngay. Nhưng nay chúng ta càng dùng chú thuật trù yếm người này, người này lại càng trở nên đẹp đẽ, trở thành dễ nhìn, trở thành khả ái”.
SC 60“—Khổ hạnh, chư Tôn giả, không phải trống rỗng, Phạm hạnh (quý vị) không phải không hiệu quả. Chư Tôn giả, hãy từ bỏ tâm oán hận đối với ta”.
SC 61“—Có tâm oán hận nào đối với Tôn giả, chúng tôi sẽ bỏ. Tôn giả là ai?”
SC 62“—Chư Tôn giả có nghe nói đến ẩn sĩ Asita Devala không?”
SC 63“_ Thưa có nghe, Tôn giả”.
SC 64“—Chư Tôn giả, vị ấy là ta”.
SC 65Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn đến đảnh lễ ẩn sĩ Asita Devala. Rồi ẩn sĩ Asita Devala nói với bảy ẩn sĩ Bà-la-môn:
SC 66“—Chư Tôn giả, tôi có nghe như sau: “Trong khi bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận tại am thất bằng lá trong khu rừng, ác tà kiến như sau khởi lên: Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn màu da trắng, giai cấp khác màu da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 67“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 68“—Nhưng chư Tôn giả, chư tôn giả có biết mẹ sanh của họ chỉ giao hợp với các Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 69“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 70“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết mẹ sanh của họ, cho đến bảy đời tổ mẫu của họ chỉ giao hợp với các Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 71“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 72“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết cha sanh của họ chỉ giao hợp với các nữ Bà-la-môn, không với phi nữ Bà-la-môn?”
SC 73“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 74“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết cha sanh của họ, cho đến bảy đời tổ phụ của họ chỉ giao hợp với các nữ Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 75“—Không phải vậy, Tôn giả”.
SC 76“—Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết nhập thai là như thế nào?”
SC 77“—Thưa Tôn giả, chúng con biết nhập thai như thế này. Ở đây, mẹ cha phải giao hợp, người mẹ phải trong thời (có thể thọ sanh), hương ấm (gandhabha) phải hiện hữu, ba sự như vậy có hòa hợp, nhập thai mới thành tựu”.
SC 78“—Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda?”
SC 79“—Thưa Tôn giả, chúng tôi không biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda”.
SC 80“—Chư Tôn giả, sự tình là như vậy, chư Tôn giả có biết chư Tôn giả là ai không?”
SC 81“—Thưa Tôn giả, sự tình là như vậy, chúng tôi không có biết chúng tôi là ai”.
SC 82Này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn ấy bị ẩn sĩ Asita Devala, chất vấn, cật vấn, nạn vấn về vấn đề sanh chủng (jativada) của họ, không có thể ứng đáp được. Làm sao nay Ông bị ta chất vấn, cật vấn, nạn vấn về vấn đề sanh chủng của Ông lại có thể ứng đáp được, khi Ông cùng một Ðạo sư với họ và không có Puñña, người biết sử dụng thìa đổ sữa (làm lễ tế tự).
SC 83Khi được nói vậy, thanh niên Assalayana bạch Thế Tôn
SC 84—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena nānāverajjakānaṁ brāhmaṇānaṁ pañcamattāni brāhmaṇasatāni sāvatthiyaṁ paṭivasanti kenacideva karaṇīyena.
Atha kho tesaṁ brāhmaṇānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Ko nu kho pahoti samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti?
Tena kho pana samayena assalāyano nāma māṇavo sāvatthiyaṁ paṭivasati daharo, vuttasiro, soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
Atha kho tesaṁ brāhmaṇānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho assalāyano māṇavo sāvatthiyaṁ paṭivasati daharo, vuttasiro, soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū …pe… anavayo.
So kho pahoti samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Atha kho te brāhmaṇā yena assalāyano māṇavo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ:
“ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetū”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca:
“samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī;
dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti.
Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Dutiyampi kho te brāhmaṇā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ:
“ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetu.
Caritaṁ kho pana bhotā assalāyanena paribbājakan”ti.
Dutiyampi kho assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca:
“samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī;
dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti.
Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Tatiyampi kho te brāhmaṇā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ:
“ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti.
Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetu.
Caritaṁ kho pana bhotā assalāyanena paribbājakaṁ.
Mā bhavaṁ assalāyano ayuddhaparājitaṁ parājayī”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca:
“addhā kho ahaṁ bhavanto na labhāmi.
Samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī;
dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti.
Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetunti.
Api cāhaṁ bhavantānaṁ vacanena gamissāmī”ti.
Atha kho assalāyano māṇavo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho assalāyano māṇavo bhagavantaṁ etadavoca:
“brāhmaṇā, bho gotama, evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Idha bhavaṁ gotamo kimāhā”ti?
“Dissanti kho pana, assalāyana, brāhmaṇānaṁ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi.
Te ca brāhmaṇiyonijāva samānā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti.
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
sutaṁ te: ‘yonakambojesu aññesu ca paccantimesu janapadesu dveva vaṇṇā—ayyo ceva dāso ca; ayyo hutvā dāso hoti, dāso hutvā ayyo hotī’”ti?
“Evaṁ, bho, sutaṁ taṁ me: ‘yonakambojesu aññesu ca paccantimesu janapadesu dveva vaṇṇā—ayyo ceva dāso ca; ayyo hutvā dāso hoti, dāso hutvā ayyo hotī’”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
khattiyova nu kho pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, no brāhmaṇo?
Vessova nu kho …pe…
suddova nu kho pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, no brāhmaṇo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya.
Brāhmaṇopi hi, bho gotama …pe…
vessopi hi, bho gotama …pe…
suddopi hi, bho gotama …pe…
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pāṇātipātino adinnādāyino kāmesumicchācārino musāvādino pisuṇavācā pharusavācā samphappalāpino abhijjhālū byāpannacittā micchādiṭṭhī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
brāhmaṇova nu kho pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya.
Brāhmaṇopi hi, bho gotama …pe…
vessopi hi, bho gotama …pe…
suddopi hi, bho gotama …pe…
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā pisuṇāya vācāya paṭiviratā pharusāya vācāya paṭiviratā samphappalāpā paṭiviratā anabhijjhālū abyāpannacittā sammādiṭṭhī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
brāhmaṇova nu kho pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ;
brāhmaṇopi hi, bho gotama …
vessopi hi, bho gotama …
suddopi hi, bho gotama …
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
brāhmaṇova nu kho pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, brāhmaṇopi hi, bho gotama …
vessopi hi, bho gotama …
suddopi hi, bho gotama …
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha rājā khattiyo muddhāvasitto nānājaccānaṁ purisānaṁ purisasataṁ sannipāteyya:
‘āyantu bhonto ye tattha khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannā, sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya, aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontu.
Āyantu pana bhonto ye tattha caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannā, sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya, aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontū’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
yo evaṁ nu kho so khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato, so eva nu khvāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ;
yo pana so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato svāssa aggi na ceva accimā na ca vaṇṇavā na ca pabhassaro, na ca tena sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama.
Yopi hi so, bho gotama, khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ;
yopi so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato, svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ.
Sabbopi hi, bho gotama, aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, sabbenapi sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha khattiyakumāro brāhmaṇakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha;
yo so khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti?
“Yo so, bho gotama, khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha brāhmaṇakumāro khattiyakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha;
yo so brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti?
“Yo so, bho gotama, brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idha vaḷavaṁ gadrabhena sampayojeyyuṁ, tesaṁ sampayogamanvāya kisoro jāyetha;
yo so vaḷavāya gadrabhena kisoro uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘asso’tipi vattabbo ‘gadrabho’tipi vattabbo”ti?
“Kuṇḍañhi so, bho gotama, assataro hoti.
Idaṁ hissa, bho gotama, nānākaraṇaṁ passāmi;
amutra ca panesānaṁ na kiñci nānākaraṇaṁ passāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idhāssu dve māṇavakā bhātaro sodariyā, eko ajjhāyako upanīto eko anajjhāyako anupanīto.
Kamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Yo so, bho gotama, māṇavako ajjhāyako upanīto tamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā.
Kiñhi, bho gotama, anajjhāyake anupanīte dinnaṁ mahapphalaṁ bhavissatī”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
idhāssu dve māṇavakā bhātaro sodariyā, eko ajjhāyako upanīto dussīlo pāpadhammo, eko anajjhāyako anupanīto sīlavā kalyāṇadhammo.
Kamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Yo so, bho gotama, māṇavako anajjhāyako anupanīto sīlavā kalyāṇadhammo tamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā.
Kiñhi, bho gotama, dussīle pāpadhamme dinnaṁ mahapphalaṁ bhavissatī”ti?
“Pubbe kho tvaṁ, assalāyana, jātiṁ agamāsi;
jātiṁ gantvā mante agamāsi;
mante gantvā tape agamāsi;
tape gantvā cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paccāgato, yamahaṁ paññapemī”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā assalāyanaṁ māṇavaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …
pe…
brahmadāyādā’ti.
Assosi kho, assalāyana, asito devalo isi:
‘sattannaṁ kira brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo …pe…
brahmadāyādā’ti.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi kesamassuṁ kappetvā mañjiṭṭhavaṇṇāni dussāni nivāsetvā paṭaliyo upāhanā āruhitvā jātarūpamayaṁ daṇḍaṁ gahetvā sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile pāturahosi.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile caṅkamamāno evamāha:
‘handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā;
handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā’ti?
Atha kho, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ etadahosi:
‘ko nāyaṁ gāmaṇḍalarūpo viya sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile caṅkamamāno evamāha:
“handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā;
handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatāti?
Handa naṁ abhisapāmā”’ti.
Atha kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhisapiṁsu:
‘bhasmā, vasala, hohi;
bhasmā, vasala, hohī’ti.
Yathā yathā kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhisapiṁsu tathā tathā asito devalo isi abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Atha kho, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ etadahosi:
‘moghaṁ vata no tapo, aphalaṁ brahmacariyaṁ.
Mayañhi pubbe yaṁ abhisapāma—
bhasmā, vasala, hohi;
bhasmā, vasala, hohīti bhasmāva bhavati ekacco.
Imaṁ pana mayaṁ yathā yathā abhisapāma tathā tathā abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro cā’ti.
‘Na bhavantānaṁ moghaṁ tapo, nāphalaṁ brahmacariyaṁ.
Iṅgha bhavanto, yo mayi manopadoso taṁ pajahathā’ti.
‘Yo bhavati manopadoso taṁ pajahāma.
Ko nu bhavaṁ hotī’ti?
‘Suto nu bhavataṁ—
asito devalo isī’ti?
‘Evaṁ, bho’.
‘So khvāhaṁ, bho, homī’ti.
Atha kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhivādetuṁ upakkamiṁsu.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi satta brāhmaṇisayo etadavoca:
‘sutaṁ metaṁ, bho, sattannaṁ kira brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo;
brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo;
brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā;
brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
‘Evaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yā janikā mātā brāhmaṇaṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇan’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yā janikāmātu mātā yāva sattamā mātumātāmahayugā brāhmaṇaṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇan’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yo janako pitā brāhmaṇiṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇin’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yo janakapitu pitā yāva sattamā pitupitāmahayugā brāhmaṇiṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇin’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
yathā gabbhassa avakkanti hotī’ti?
‘Jānāma mayaṁ, bho—
yathā gabbhassa avakkanti hoti.
Idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca paccupaṭṭhito hoti; evaṁ tiṇṇaṁ sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti.
‘Jānanti pana bhonto—
taggha, so gandhabbo khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā’ti?
‘Na mayaṁ, bho, jānāma—
taggha so gandhabbo khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā’ti.
‘Evaṁ sante, bho, jānātha—
ke tumhe hothā’ti?
‘Evaṁ sante, bho, na mayaṁ jānāma—
ke mayaṁ homā’ti.
Te hi nāma, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitena devalena isinā sake jātivāde samanuyuñjīyamānā samanuggāhīyamānā samanubhāsīyamānā na sampāyissanti;
kiṁ pana tvaṁ etarahi mayā sakasmiṁ jātivāde samanuyuñjīyamāno samanuggāhīyamāno samanubhāsīyamāno sampāyissasi, yesaṁ tvaṁ sācariyako na puṇṇo dabbigāho”ti.
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Assalāyanasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.