Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tai Veluvana (Trúc Lâm), chỗ Kalandaka Nivapa. Rồi nam cư sĩ Visākha đến chỗ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna ở, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Visākha thưa với Tỷ-kheo ni Dhammadinna
(Tự thân)
SC 2—Thưa Ni sư, tự thân, tự thân, (Sakkaya), được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân là như thế nào?
SC 3—Hiền giả Visākha, Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Hiền giả Visākha, năm thủ uẩn này, Thế Tôn gọi là tự thân.
SC 4—Lành thay, thưa Ni sư.
SC 5Nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinna nói, rồi hỏi Tỷ-kheo-ni Dhammadinna thêm một câu hỏi nữa
SC 6—Tự thân tập khởi, tự thân tập khởi, thưa Ni sư, được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân tập khởi (Sakkaya samudaya) là như thế nào?
SC 7—Hiền giả Visākha, khát ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Hiền giả Visākha, khát ái này, Thế Tôn gọi là tự thân tập khởi.
SC 8—Tự thân diệt, tự thân diệt, thưa Ni sư, được gọi là như vậy. Thế Tôn gọi tự thân diệt là như thế nào?
SC 9—Hiền giả Visākha, sự đoạn diệt, không tham đắm, không có dư tàn của khát ái ấy, sự xả ly, sự vất bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp. Hiền giả Visākha, sự đoạn diệt này, Thế Tôn gọi là tự thân diệt.
SC 10—Thưa Ni sư, tự thân diệt đạo, tự thân diệt đạo, được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân diệt đạo là như thế nào?
SC 11—Hiền giả Visākha, Con đường Thánh tám ngành này, Thế Tôn gọi là tự thân diệt đạo, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 12—Thưa Ni sư, thủ này tức là năm thủ uẩn kia hay thủ này khác với năm thủ uẩn?
SC 13—Không phải, Hiền giả Visākha. Thủ này tức là năm thủ uẩn kia, thủ này không khác với năm thủ uẩn kia, Hiền giả Visākha, phàm có dục tham đối với năm thủ uẩn, tức là (chấp) thủ đối với chúng ở đây vậy.
(Thân kiến)
SC 14—Thưa Ni sư, thế nào là thân kiến?
SC 15—Ở đây, Hiền giả Visākha, kẻ vô văn phàm phu không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, xem sắc là tự ngã hay xem tự ngã là có sắc, hay xem sắc là trong tự ngã hay xem tự ngã là trong sắc; xem thọ là tự ngã, hay xem tự ngã là có thọ, hay xem thọ là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong thọ; xem tưởng là tự ngã, hay xem tự ngã là có tưởng, hay xem tưởng là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong tưởng; xem hành là tự ngã, xem tự ngã là có hành, hay xem hành là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong hành; xem thức là tự ngã, hay xem tự ngã là có thức, hay xem thức là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là thân kiến.
SC 16—Thưa Ni sư, thế nào là không phải thân kiến?
SC 17—Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Ða văn Thánh đệ tử đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc; không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có thọ, không xem thọ là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thọ; không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong tưởng; không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong các hành; không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là không có thân kiến.
(Bát chánh đạo)
SC 18—Thưa Ni sư, thế nào là Thánh đạo Tám ngành?
SC 19—Hiền giả Visākha, đây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 20—Thưa Ni sư, Thánh đạo Tám ngành này là hữu vi hay vô vi?
SC 21—Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành này là hữu vi.
SC 22—Thưa Ni sư, ba uẩn được Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp hay Thánh đạo Tám ngành được ba uẩn thâu nhiếp?
SC 23—Hiền giả Visākha, ba uẩn không bị Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp; Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành bị ba uẩn thâu nhiếp. Hiền giả Visākha, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, những pháp này được thâu nhiếp trong giới uẩn. Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, những pháp này được thâu nhiếp trong định uẩn. Chánh tri kiến và chánh tư duy, những pháp này được thâu nhiếp trong tuệ uẩn
(Ðịnh)
SC 24—Thưa Ni sư thế nào là định, thế nào là định tướng, thế nào là định tư cụ, thế nào là định tu tập?
SC 25—Hiền giả Visākha, nhất tâm là định, Bốn Niệm Xứ là định tướng, Bốn Tinh cần là định tư cụ, sự luyện tập, sự tu tập, sự tái tu tập của những pháp ấy là định tu tập ở đây vậy.
(Hành)
SC 26—Thưa Ni sư, có bao nhiêu hành?
SC 27—Hiền giả, có ba loại hành này: thân hành, khẩu hành, và tâm hành.
SC 28—Thưa Ni sư, thế nào là thân hành, thế nào là khẩu hành, thế nào là tâm hành?
SC 29—Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, là thân hành, tầm tứ là khẩu hành, tưởng và thọ là tâm hành.
SC 30—Thưa Ni sư, vì sao thở vô thở ra là thân hành, vì sao tầm tứ là khẩu hành, vì sao tưởng và thọ là tâm hành?
SC 31—Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, thuộc về thân, những pháp này lệ thuộc với thân, nên thở vô thở ra thuộc về thân hành. Hiền giả Visākha, trước phải tầm và tứ rồi sau mới phát lời nói, nên tầm tứ thuộc về khẩu hành. Tưởng và thọ và tâm sở, các pháp này lệ thuộc với tâm, nên tưởng và thọ thuộc về tâm hành.
(Diệt định)
SC 32—Thưa Ni sư, như thế nào là chứng nhập Diệt thọ tưởng định?
SC 33—Hiền giả Visākha, Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, vị ấy không nghĩ rằng: “Tôi sẽ chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định” hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”. Vì rằng, tâm của vị này trước đã được tu tập như vậy nên đưa đến trạng thái như vậy.
SC 34—Thưa Ni sư, Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, những pháp gì diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay tâm hành?
SC 35—Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, khẩu hành diệt trước, rồi đến thân hành, rồi đến tâm hành.
SC 36—Thưa Ni sư, làm thế nào xuất khởi Diệt thọ tưởng định?
SC 37—Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, không có nghĩ rằng: “Tôi sẽ xuất khởi Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đang xuất khởi Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã xuất khởi Diệt thọ tưởng định”. Vì rằng tâm của vị này trước đã tu tập như vậy nên đưa đến trạng thái như vậy.
SC 38—Thưa Ni sư, Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, những pháp nào khởi lên trước, thân hành, hay khẩu hành hay tâm hành?
SC 39—Hiền giả Visākha, Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm hành khởi lên trước nhất, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
SC 40—Thưa Ni sư, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, vị ấy cảm giác những xúc nào?
SC 41—Hiền giả Visākha, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, vị ấy cảm giác ba loại xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
SC 42—Thưa Ni sư, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về gì, hướng về gì, khuynh hướng về gì?
SC 43—Hiền giả Visākha, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về độc cư, hướng về độc cư, khuynh hướng về độc cư.
(Thọ)
SC 44—Thưa Ni sư, có bao nhiêu thọ?
SC 45—Hiền giả Visākha, có ba thọ này, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
SC 46—Thưa Ni sư, thế nào là lạc thọ, thế nào là khổ thọ, thế nào là bất khổ bất lạc thọ?
SC 47—Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách khoái lạc, khoái cảm, như vậy là lạc thọ. Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách đau khổ, không khoái cảm, như vậy là khổ thọ. Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm không khoái cảm, không khoái cảm như vậy là bất khổ bất lạc thọ.
SC 48—Thưa Ni sư, đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Ðối với khổ thọ, cái gì khổ, cái gì lạc? Ðối với bất khổ bất lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ?
SC 49—Hiền giả Visākha, đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ. Ðối với khổ thọ, cái gì trú là khổ, cái gì biến hoại là lạc. Ðối với bất khổ bất lạc thọ, có trí là lạc, vô trí là khổ.
(Tùy miên)
SC 50—Thưa Ni sư, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong khổ thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong bất khổ bất lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại?
SC 51—Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
SC 52—Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại?
SC 53—Hiền giả Visākha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
SC 54—Thưa Ni sư, trong lạc thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong khổ thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, cái gì phải từ bỏ?
SC 55—Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ.
SC 56—Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ?
SC 57—Hiền giả Visākha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ. Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ. Do vậy tham đã được từ bỏ, không còn tham tùy miên tồn tại ở đây.
SC 58Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo suy tư như sau: “Chắc chắn ta sẽ chứng và an trú trong trú xứ mà nay các vị Thánh đang an trú”. Vì muốn phát nguyện hướng đến các cảnh giải thoát vô thượng, do ước nguyện ấy, khởi lên ưu tư. Do vậy, sân được từ bỏ, không còn sân tùy miên tồn tại ở đây.
SC 59Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Do vậy vô minh đã được từ bỏ, không còn vô minh tùy miên tồn tại ở đây.
(Ðối tác)
SC 60—Thưa Ni sư, lạc thọ lấy gì làm tương đương?
SC 61—Hiền giả Visākha, lạc thọ lấy khổ thọ làm tương đương.
SC 62—Thưa Ni sư, khổ thọ lấy gì làm tương đương?
SC 63—Hiền giả Visākha, khổ thọ lấy lạc thọ làm tương đương.
SC 64—Thưa Ni sư, bất khổ bất lạc thọ lấy gì làm tương đương?
SC 65—Hiền giả Visākha, bất khổ bất lạc thọ lấy vô minh làm tương đương.
SC 66—Thưa Ni sư, vô minh lấy gì làm tương đương?
SC 67—Hiền giả Visākha, vô minh lấy minh làm tương đương.
SC 68—Thưa Ni sư, minh lấy gì làm tương đương?
SC 69—Hiền giả Visākha, minh lấy giải thoát làm tương đương.
SC 70—Thưa Ni sư, giải thoát lấy gì làm tương đương?
SC 71—Hiền giả Visākha, giải thoát lấy Niết-bàn làm tương đương?
SC 72—Thưa Ni sư, Niết-bàn lấy gì làm tương đương?
SC 73—Hiền giả Visākha, câu hỏi đi quá xa, vượt ra ngoài giới hạn câu trả lời. Hiền giả Visākha, phạm hạnh là để thể nhập vào Niết-bàn, để vượt qua đến Niết-bàn, để đạt cứu cánh Niết-bàn. Hiền giả Visākha, nếu Hiền giả muốn, hãy đến chỗ Thế Tôn ở, và hỏi ý nghĩa này. Và Thế Tôn trả lời cho Hiền giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
(Kết luận)
SC 74Rồi nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinna giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo ni Dhammadinna, thân bên phải hướng về phía Tỷ-kheo-ni rồi từ biệt, đi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, nam cư sĩ Visākha thuật lại cho Thế Tôn tất cả câu chuyện đàm đạo với Tỷ-kheo-ni Dhammadinna. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với nam cư sĩ Visākha
SC 75—Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Hiền trí! Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Ðại tuệ. Này Visākha, nếu Ông hỏi Ta ý nghĩa ấy, Ta cũng trả lời như Tỷ-kheo-ni Dhammadinna đã trả lời. Ông đối với nghĩa này, hãy như vậy thọ trì.
SC 76Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho visākho upāsako yena dhammadinnā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho visākho upāsako dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ etadavoca:
“‘sakkāyo sakkāyo’ti, ayye, vuccati.
Katamo nu kho, ayye, sakkāyo vutto bhagavatā”ti?
“Pañca kho ime, āvuso visākha, upādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā,
seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Ime kho, āvuso visākha, pañcupādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā”ti.
“Sādhayye”ti kho visākho upāsako dhammadinnāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“‘sakkāyasamudayo sakkāyasamudayo’ti, ayye, vuccati.
Katamo nu kho, ayye, sakkāyasamudayo vutto bhagavatā”ti?
“Yāyaṁ, āvuso visākha, taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—
kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā;
ayaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyasamudayo vutto bhagavatā”ti.
“‘Sakkāyanirodho sakkāyanirodho’ti, ayye, vuccati.
Katamo nu kho, ayye, sakkāyanirodho vutto bhagavatā”ti?
“Yo kho, āvuso visākha, tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo;
ayaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyanirodho vutto bhagavatā”ti.
“‘Sakkāyanirodhagāminī paṭipadā sakkāyanirodhagāminī paṭipadā’ti, ayye, vuccati.
Katamā nu kho, ayye, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā bhagavatā”ti?
“Ayameva kho, āvuso visākha, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhī”ti.
“Taññeva nu kho, ayye, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā udāhu aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, āvuso visākha, taññeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā, nāpi aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānaṁ.
Yo kho, āvuso visākha, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
“Kathaṁ panāyye, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idhāvuso visākha, assutavā puthujjano, ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto,
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …pe…
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Kathaṁ panāyye, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idhāvuso visākha, sutavā ariyasāvako, ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto,
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Na vedanaṁ …pe…
na saññaṁ …
na saṅkhāre …pe…
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Katamo panāyye, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo”ti?
“Ayameva kho, āvuso visākha, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhī”ti.
“Ariyo panāyye, aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhato udāhu asaṅkhato”ti?
“Ariyo kho, āvuso visākha, aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhato”ti.
“Ariyena nu kho, ayye, aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā udāhu tīhi khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito”ti?
“Na kho, āvuso visākha, ariyena aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā; tīhi ca kho, āvuso visākha, khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito.
Yā cāvuso visākha, sammāvācā yo ca sammākammanto yo ca sammāājīvo ime dhammā sīlakkhandhe saṅgahitā.
Yo ca sammāvāyāmo yā ca sammāsati yo ca sammāsamādhi ime dhammā samādhikkhandhe saṅgahitā.
Yā ca sammādiṭṭhi yo ca sammāsaṅkappo, ime dhammā paññākkhandhe saṅgahitā”ti.
“Katamo panāyye, samādhi, katame dhammā samādhinimittā, katame dhammā samādhiparikkhārā, katamā samādhibhāvanā”ti?
“Yā kho, āvuso visākha, cittassa ekaggatā ayaṁ samādhi;
cattāro satipaṭṭhānā samādhinimittā;
cattāro sammappadhānā samādhiparikkhārā.
Yā tesaṁyeva dhammānaṁ āsevanā bhāvanā bahulīkammaṁ, ayaṁ ettha samādhibhāvanā”ti.
“Kati panāyye, saṅkhārā”ti?
“Tayome, āvuso visākha, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti.
“Katamo panāyye, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Kasmā panāyye, assāsapassāsā kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyikā ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā kāyasaṅkhāro.
Pubbe kho, āvuso visākha, vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṁ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro.
Saññā ca vedanā ca cetasikā ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Kathaṁ panāyye, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti?
“Na kho, āvuso visākha, saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjissan’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā.
Atha khvāssa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa panāyye, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ nirujjhanti—yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno paṭhamaṁ nirujjhati vacīsaṅkhāro, tato kāyasaṅkhāro, tato cittasaṅkhāro”ti.
“Kathaṁ panāyye, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṁ hotī”ti?
“Na kho, āvuso visākha, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahissan’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahāmī’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhito’ti vā.
Atha khvāssa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa panāyye, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ uppajjanti—yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno paṭhamaṁ uppajjati cittasaṅkhāro, tato kāyasaṅkhāro, tato vacīsaṅkhāro”ti.
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ panāyye, bhikkhuṁ kati phassā phusantī”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ kho, āvuso visākha, bhikkhuṁ tayo phassā phusanti—suññato phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa panāyye, bhikkhuno kiṁninnaṁ cittaṁ hoti kiṁpoṇaṁ kiṁpabbhāran”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti, vivekapoṇaṁ vivekapabbhāran”ti.
“Kati panāyye, vedanā”ti?
“Tisso kho imā, āvuso visākha, vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā”ti.
“Katamā panāyye, sukhā vedanā, katamā dukkhā vedanā, katamā adukkhamasukhā vedanā”ti?
“Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā sukhaṁ sātaṁ vedayitaṁ—
ayaṁ sukhā vedanā.
Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ—
ayaṁ dukkhā vedanā.
Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā neva sātaṁ nāsātaṁ vedayitaṁ—
ayaṁ adukkhamasukhā vedanā”ti.
“Sukhā panāyye, vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā, dukkhā vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā, adukkhamasukhā vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā”ti?
“Sukhā kho, āvuso visākha, vedanā ṭhitisukhā vipariṇāmadukkhā;
dukkhā vedanā ṭhitidukkhā vipariṇāmasukhā;
adukkhamasukhā vedanā ñāṇasukhā aññāṇadukkhā”ti.
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ anusayo anuseti, dukkhāya vedanāya kiṁ anusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya kiṁ anusayo anusetī”ti?
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo anuseti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
“Sabbāya nu kho, ayye, sukhāya vedanāya rāgānusayo anuseti, sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti?
“Na kho, āvuso visākha, sabbāya sukhāya vedanāya rāgānusayo anuseti, na sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, na sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ pahātabbaṁ, dukkhāya vedanāya kiṁ pahātabbaṁ, adukkhamasukhāya vedanāya kiṁ pahātabban”ti?
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo pahātabbo, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo”ti.
“Sabbāya nu kho, ayye, sukhāya vedanāya rāgānusayo pahātabbo, sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo”ti?
“Na kho, āvuso visākha, sabbāya sukhāya vedanāya rāgānusayo pahātabbo, na sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, na sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo.
Idhāvuso visākha, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Rāgaṁ tena pajahati, na tattha rāgānusayo anuseti.
Idhāvuso visākha, bhikkhu iti paṭisañcikkhati:
‘kudāssu nāmāhaṁ tadāyatanaṁ upasampajja viharissāmi yadariyā etarahi āyatanaṁ upasampajja viharantī’ti?
Iti anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpayato uppajjati pihāppaccayā domanassaṁ.
Paṭighaṁ tena pajahati, na tattha paṭighānusayo anuseti.
Idhāvuso visākha, bhikkhu sukhassa ca pahānā, dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Avijjaṁ tena pajahati, na tattha avijjānusayo anusetī”ti.
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya dukkhā vedanā paṭibhāgo”ti.
“Dukkhāya pannāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Dukkhāya kho, āvuso visākha, vedanāya sukhā vedanā paṭibhāgo”ti.
“Adukkhamasukhāya panāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Adukkhamasukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya avijjā paṭibhāgo”ti.
“Avijjāya panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Avijjāya kho, āvuso visākha, vijjā paṭibhāgo”ti.
“Vijjāya panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Vijjāya kho, āvuso visākha, vimutti paṭibhāgo”ti.
“Vimuttiyā panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Vimuttiyā kho, āvuso visākha, nibbānaṁ paṭibhāgo”ti.
“Nibbānassa panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Accayāsi, āvuso visākha, pañhaṁ, nāsakkhi pañhānaṁ pariyantaṁ gahetuṁ.
Nibbānogadhañhi, āvuso visākha, brahmacariyaṁ, nibbānaparāyanaṁ nibbānapariyosānaṁ.
Ākaṅkhamāno ca tvaṁ, āvuso visākha, bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī”ti.
Atha kho visākho upāsako dhammadinnāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho visākho upāsako yāvatako ahosi dhammadinnāya bhikkhuniyā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Evaṁ vutte, bhagavā visākhaṁ upāsakaṁ etadavoca:
“paṇḍitā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī, mahāpaññā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī.
Mañcepi tvaṁ, visākha, etamatthaṁ puccheyyāsi, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ, yathā taṁ dhammadinnāya bhikkhuniyā byākataṁ.
Eso cevetassa attho. Evañca naṁ dhārehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano visākho upāsako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Cūḷavedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Rājagaha, in the Bamboo Grove, at the Squirrel Feeding Area. Then the lay disciple Visākha approached Dhammadinnā Bhikkhunī1; after approaching and venerating Dhammadinnā Bhikkhunī, he sat to one side.
SC 2Self-Identity
SC 3When he was seated to one side, Visākha said to Dhammadinnā Bhikkhunī, “Noble Lady, it is said ‘self-identity, self-identity.’ Noble Lady, what is called ‘self-identity’ by the Blessed One?”
SC 4“Sir Visākha, these five aggregates affected by clinging are called ‘self-identity’ by the Blessed One: the body-aggregate affected by clinging; the feeling-aggregate affected by clinging; the recognition-aggregate affected by clinging; the thought-aggregate affected by clinging; the consciousness-aggregate affected by clinging. Sir Visākha, these five aggregates affected by clinging are called ‘self-identity’ by the Blessed One.”
SC 5“Excellent, Noble Lady!” After delighting and rejoicing in Dhammadinnā Bhikkhunī‘s statement, Visākha asked another question: “Noble Lady, it is said ‘the origin of self-identity, the origin of self-identity.’ Noble Lady, what is called ‘the origin of self-identity’ by the Blessed One?”
SC 6“Sir Visākha, there is craving, which produces further existence, is accompanied by delight and passion, and seeks delight in various places; namely, craving for sensuality, craving for existence, and craving for non-existence. Sir Visākha, this is called ‘the origin of self-identity’ by the Blessed One.”
SC 7“Noble Lady, it is said ‘the cessation of self-identity, the cessation of self-identity.’ Noble Lady, what is called ‘the cessation of self-identity’ by the Blessed One?”
SC 8“Sir Visākha, the remainderless cessation of that craving through dispassion; giving it up, relinquishing it, releasing it, and being detached from it – Sir Visākha, this is called ‘the cessation of self-identity’ by the Blessed One.”
SC 9“Noble Lady, it is said ‘the path of practice which leads to the cessation of self-identity, the path of practice which leads to the cessation of self-identity.’ Noble Lady, what is called ‘the path of practice which leads to the cessation of self-identity’ by the Blessed One?”
SC 10“Sir Visākha, this very Noble Eightfold Path has been called ‘the path of practice which leads to the cessation of self-identity’ by the Blessed One; namely, right perspective, right attitude, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration.”
SC 11“Noble Lady, is that craving identical with the five aggregates, or is craving separate from the five aggregates?”
SC 12“Sir Visākha, that craving is not identical with the five aggregates, and it is also not separate from the five aggregates. Sir Visākha, the interest and passion as regards the five aggregates is the clinging there.”
SC 13“Noble Lady, how is there belief in self-identity2?”
SC 14“Here, Sir Visākha, an uneducated commoner – one who does not see noble beings, has not mastered the teachings of noble beings, is undisciplined in the teachings of noble beings, does not see good people, has not mastered the teachings of good people, and is undisciplined in the teachings of good people – regards the body as his self, or the body as owned by his self, or the body as contained within his self, or his self as contained within the body. He regards feeling as his self… regards recognition as his self… regards thoughts as his self… regards consciousness as his self, or consciousness as owned by his self, or consciousness as contained within his self, or his self as contained within consciousness. Sir Visākha, it is in this way that there is belief in self-identity.”
SC 15“Noble Lady, how is there no belief in self-identity?”
SC 16“Here, Sir Visākha, an educated disciple of noble beings– one who sees noble beings, has mastered the teachings of noble beings, is well-disciplined in the teachings of noble beings, sees good people, has mastered the teachings of good people, and is well-disciplined in the teachings of good people – does not regard the body as his self, does not regard the body as owned by his self, does not regard the body as contained within his self, and does not regard his self as contained within the body. He does not regard feeling as his self… does not regard recognition as his self… does not regard thoughts as his self… does not regard consciousness as his self, does not regard consciousness as owned by his self, does not regard consciousness as contained within his self, and does not regard his self as contained within consciousness. Sir Visākha, it is in this way that there is no belief in self-identity.”
SC 17The Noble Eightfold Path
SC 18“Noble Lady, what is the Noble Eightfold Path?”
SC 19“Sir Visākha, it is this very Noble Eightfold Path; namely, right perspective, right attitude, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration.”
SC 20“Noble Lady, is the Noble Eightfold Path conditional or non-conditional?”
SC 21“Sir Visākha, the Noble Eightfold Path is conditional.”
SC 22“Noble Lady, is the Noble Eightfold Path included in the Three Aggregates3, or are the Three Aggregates included in the Noble Eightfold Path?”
SC 23“Sir Visākha, the Noble Eightfold Path is not included in the Three Aggregates. The Three Aggregates are included in the Noble Eightfold Path. Sir Visākha, right speech, right action, and right livelihood are included in the virtue-aggregate. Right effort, right mindfulness, and right concentration are included in the concentration-aggregate. Right perspective and right attitude are included in the wisdom-aggregate.”
SC 24“Noble Lady, what is concentration, what are the objects of concentration, what phenomena are the supports of concentration, and what is the development of concentration?”4
SC 25“Sir Visākha, mental focus5 is concentration. The Four Establishments of Mindfulness6 are the objects of concentration. The Four Right Exertions are the supports of concentration. Practicing, developing, and repeating these is the development of concentration.”
SC 26The Three Formations
SC 27“Noble Lady, how many kinds of activity are there?”
SC 28“Sir Visākha, there are these three kinds of activity: physical activity, verbal activity, and mental activity.”
SC 29“Noble Lady, what is physical activity? What is verbal activity? What is mental activity?”
SC 30“Sir Visākha, breathing in and out is physical activity, thought and consideration is verbal activity, recognition and feeling is mental activity.”
SC 31“Noble Lady, why is breathing in and out physical activity? Why is thought and examination verbal activity? Why is recognition and feeling mental activity?”
SC 32“Sir Visākha, breathing in and breathing out are bodily phenomena bound to the body; therefore breathing in and out is physical activity. Previously one thinks and considers, and afterwards one breaks into speech; therefore thought and examination is verbal activity. Recognition and feeling are mental phenomena bound to the mind; therefore recognition and feeling is mental activity.”
SC 33Cessation of Recognition and Feeling
SC 34“Noble Lady, how is there the attainment of the cessation of recognition and feeling7?”
SC 35“Sir Visākha, when a monk is attaining the cessation of recognition and feeling, it does not occur to him ‘I will attain the cessation of recognition and feeling,’ or ‘I am attaining the cessation of recognition and feeling,’ or ‘I have attained the cessation of recognition and feeling.’ Rather it is the prior development of his mind that guides it to that state.”
SC 36“Noble Lady, when a monk is attaining the cessation of recognition and feeling, what phenomena cease first: the body-formation, the speech-formation, or the mind-formation?”
SC 37“Sir Visākha, when a monk is attaining the cessation of recognition and feeling, the speech-formation ceases first, then the body-formation, then the mind-formation.”
SC 38“Noble Lady, how is there emergence from the cessation of recognition and feeling?”
SC 39“Sir Visākha, when a monk is emerging from the cessation of recognition and feeling, it does not occur to him ‘I will emerge from the cessation of recognition and feeling,’ or ‘I am emerging from the cessation of recognition and feeling,’ or ‘I have emerged from the cessation of recognition and feeling.’ Rather it is the prior development of his mind that guides it to that state.”
SC 40“Noble Lady, when a monk is emerging from the cessation of recognition and feeling, what phenomena arise first: the body-formation, the speech-formation, or the mind-formation?”
SC 41“Sir Visākha, when a monk is emerging from the cessation of recognition and feeling, the mind-formation arises first, then the body-formation, then the speech-formation.”
SC 42“Noble Lady, when a monk has emerged from the cessation of recognition and feeling, how many kinds of contact touch him?”
SC 43“Sir Visākha, when a monk has emerged from the cessation of recognition and feeling, three kinds of contact touch him: emptiness contact, objectless contact, and undirected contact.”
SC 44“Noble Lady, when a monk has emerged from the cessation of recognition and feeling, what does his mind tend, lean, and incline towards?”
SC 45“Sir Visākha, when a monk has emerged from the cessation of recognition and feeling, his mind tends towards seclusion, leans towards seclusion, inclines towards seclusion.”
SC 47“Noble Lady, how many kinds of feeling are there?”
SC 48“Sir Visākha, there are three kinds of feeling: pleasant feeling, unpleasant feeling, and neutral8 feeling.”
SC 49“Noble Lady, what is pleasant feeling? What is unpleasant feeling? What is neutral feeling?”
SC 50“Sir Visākha, anything, physical or mental, that is felt as pleasant and agreeable is ‘pleasant feeling.’ Anything, physical or mental, that is felt as unpleasant and disagreeable is ‘unpleasant feeling.’ Anything, physical or mental, that is felt as neither agreeable nor disagreeable is ‘neutral feeling.’”
SC 51“Noble Lady, in regard to pleasant feeling, what is pleasant and what is unpleasant? In regard to unpleasant feeling, what is pleasant and what is unpleasant? In regard to neutral feeling, what is pleasant and what is unpleasant?”
SC 52“Sir Visākha, a pleasant feeling is pleasant when it is stable and unpleasant when it changes. An unpleasant feeling is unpleasant when it is stable and pleasant when it changes. A neutral feeling is pleasant when there is knowledge and unpleasant when there is no knowledge.”
SC 53“Noble Lady, what tendency accompanies a pleasant feeling? What tendency accompanies an unpleasant feeling? What tendency accompanies a neutral feeling?”
SC 54“Sir Visākha, the tendency towards lust accompanies a pleasant feeling. The tendency towards aversion accompanies an unpleasant feeling. The tendency towards ignorance accompanies a neutral feeling.”
SC 55“Noble Lady, does the tendency towards lust accompany all pleasant feelings? Does the tendency towards aversion accompany all unpleasant feelings? Does the tendency towards ignorance accompany all neutral feelings?”
SC 56“Sir Visākha, the tendency towards lust does not accompany all pleasant feelings. The tendency towards aversion does not accompany all unpleasant feelings. The tendency towards ignorance does not accompany all neutral feelings.”
SC 57“Noble Lady, what should be abandoned in regard to a pleasant feeling? What should be abandoned in regard to an unpleasant feeling? What should be abandoned in regard to a neutral feeling?”
SC 58“Sir Visākha, lust should be abandoned in regard to a pleasant feeling. Aversion should be abandoned in regard to an unpleasant feeling. Ignorance should be abandoned in regard to a neutral feeling.”
SC 59“Noble Lady, does lust need to be abandoned in regard to all pleasant feelings? Does aversion need to be abandoned in regard to all unpleasant feelings? Does ignorance need to be abandoned in regard to all neutral feelings?”
SC 60“Sir Visākha, lust does not need to be abandoned in regard to all pleasant feelings. Aversion does not need to be abandoned in regard to all unpleasant feelings. Ignorance does not need to be abandoned in regard to all neutral feelings.
SC 61“Sir Visākha, in this case, a monk who is secluded from sensuality and from unwholesome phenomena attains and remains in the first Jhāna, which has thought and consideration, and the rapture and happiness produced by seclusion. By means of that lust is abandoned9; the tendency towards lust does not accompany that.
SC 62“Sir Visākha, in this case, a monk reflects in this way: ‘When will I attain and remain in that state of being which the noble ones have attained and now remain in?’10 With the establishment of longing for unsurpassed liberation, dejection arises on account of that longing. By means of that aversion is abandoned; the tendency towards aversion does not accompany that.
SC 63“Sir Visākha, in this case, with the abandoning of pleasure, the abandoning of pain, and the previous disappearance of elation and dejection, a monk attains and remains in the fourth Jhāna, which is neither unpleasant nor pleasant and has purity of equanimity and mindfulness. By means of that ignorance is abandoned; the tendency towards ignorance does not accompany that.”
SC 64“Noble Lady, what is the counterpart of pleasant feeling?”
SC 65“Sir Visākha, the counterpart of pleasant feeling is unpleasant feeling.”
SC 66“Noble Lady, what is the counterpart of unpleasant feeling?”
SC 67“Sir Visākha, the counterpart of unpleasant feeling is pleasant feeling.”
SC 68“Noble Lady, what is the counterpart of neutral feeling?”
SC 69“Sir Visākha, the counterpart of neutral feeling is ignorance.”
SC 70“Noble Lady, what is the counterpart of ignorance?”
SC 71“Sir Visākha, the counterpart of ignorance is knowledge.”
SC 72“Noble Lady, what is the counterpart of knowledge?”
SC 73“Sir Visākha, the counterpart of knowledge is liberation.”
SC 74“Noble Lady, what is the counterpart of liberation?”
SC 75“Sir Visākha, the counterpart of liberation is Nibbāna.”
SC 76“Noble Lady, what is the counterpart of Nibbāna?”
SC 77“Sir Visākha, you have overstepped the bounds of inquiry. You were not able to understand the limitation of inquiries. Sir Visākha, the Spiritual Life11 merges into Nibbāna, ends at Nibbāna, concludes with Nibbāna. Sir Visākha, if you wish, you may approach the Blessed One and ask him about this matter. You may remember it in whatever way the Blessed One explains it.”
SC 78Then the lay disciple Visākha delighted and rejoiced in Dhammadinnā Bhikkhunī‘s speech, rose from his seat, and venerated Dhammadinnā Bhikkhunī. Having done what was appropriate, he approached the Blessed One; after approaching and venerating the Blessed One, he sat to one side. When he was seated to one side, the lay disciple Visākha reported his conversation with Dhammadinnā Bhikkhunī to the Blessed One. When this was said, the Blessed One said to Visākha, “Visākha, Dhammadinnā Bhikkhunī is wise. Visākha, Dhammadinnā Bhikkhunī has great wisdom. Visākha, if you had asked me about that matter, I would have explained it in the same way that Dhammadinnā Bhikkhunī explained it. That is the meaning of it. Remember it in that way.”
SC 79This is what the Blessed One said. Satisfied, the lay disciple Visākha delighted in the Blessed One‘s statement.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tai Veluvana (Trúc Lâm), chỗ Kalandaka Nivapa. Rồi nam cư sĩ Visākha đến chỗ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna ở, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Dhammadinna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Visākha thưa với Tỷ-kheo ni Dhammadinna
(Tự thân)
SC 2—Thưa Ni sư, tự thân, tự thân, (Sakkaya), được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân là như thế nào?
SC 3—Hiền giả Visākha, Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Hiền giả Visākha, năm thủ uẩn này, Thế Tôn gọi là tự thân.
SC 4—Lành thay, thưa Ni sư.
SC 5Nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinna nói, rồi hỏi Tỷ-kheo-ni Dhammadinna thêm một câu hỏi nữa
SC 6—Tự thân tập khởi, tự thân tập khởi, thưa Ni sư, được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân tập khởi (Sakkaya samudaya) là như thế nào?
SC 7—Hiền giả Visākha, khát ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Hiền giả Visākha, khát ái này, Thế Tôn gọi là tự thân tập khởi.
SC 8—Tự thân diệt, tự thân diệt, thưa Ni sư, được gọi là như vậy. Thế Tôn gọi tự thân diệt là như thế nào?
SC 9—Hiền giả Visākha, sự đoạn diệt, không tham đắm, không có dư tàn của khát ái ấy, sự xả ly, sự vất bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp. Hiền giả Visākha, sự đoạn diệt này, Thế Tôn gọi là tự thân diệt.
SC 10—Thưa Ni sư, tự thân diệt đạo, tự thân diệt đạo, được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân diệt đạo là như thế nào?
SC 11—Hiền giả Visākha, Con đường Thánh tám ngành này, Thế Tôn gọi là tự thân diệt đạo, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 12—Thưa Ni sư, thủ này tức là năm thủ uẩn kia hay thủ này khác với năm thủ uẩn?
SC 13—Không phải, Hiền giả Visākha. Thủ này tức là năm thủ uẩn kia, thủ này không khác với năm thủ uẩn kia, Hiền giả Visākha, phàm có dục tham đối với năm thủ uẩn, tức là (chấp) thủ đối với chúng ở đây vậy.
(Thân kiến)
SC 14—Thưa Ni sư, thế nào là thân kiến?
SC 15—Ở đây, Hiền giả Visākha, kẻ vô văn phàm phu không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, xem sắc là tự ngã hay xem tự ngã là có sắc, hay xem sắc là trong tự ngã hay xem tự ngã là trong sắc; xem thọ là tự ngã, hay xem tự ngã là có thọ, hay xem thọ là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong thọ; xem tưởng là tự ngã, hay xem tự ngã là có tưởng, hay xem tưởng là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong tưởng; xem hành là tự ngã, xem tự ngã là có hành, hay xem hành là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong hành; xem thức là tự ngã, hay xem tự ngã là có thức, hay xem thức là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là thân kiến.
SC 16—Thưa Ni sư, thế nào là không phải thân kiến?
SC 17—Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Ða văn Thánh đệ tử đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc; không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có thọ, không xem thọ là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thọ; không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong tưởng; không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong các hành; không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là không có thân kiến.
(Bát chánh đạo)
SC 18—Thưa Ni sư, thế nào là Thánh đạo Tám ngành?
SC 19—Hiền giả Visākha, đây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
SC 20—Thưa Ni sư, Thánh đạo Tám ngành này là hữu vi hay vô vi?
SC 21—Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành này là hữu vi.
SC 22—Thưa Ni sư, ba uẩn được Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp hay Thánh đạo Tám ngành được ba uẩn thâu nhiếp?
SC 23—Hiền giả Visākha, ba uẩn không bị Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp; Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành bị ba uẩn thâu nhiếp. Hiền giả Visākha, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, những pháp này được thâu nhiếp trong giới uẩn. Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, những pháp này được thâu nhiếp trong định uẩn. Chánh tri kiến và chánh tư duy, những pháp này được thâu nhiếp trong tuệ uẩn
(Ðịnh)
SC 24—Thưa Ni sư thế nào là định, thế nào là định tướng, thế nào là định tư cụ, thế nào là định tu tập?
SC 25—Hiền giả Visākha, nhất tâm là định, Bốn Niệm Xứ là định tướng, Bốn Tinh cần là định tư cụ, sự luyện tập, sự tu tập, sự tái tu tập của những pháp ấy là định tu tập ở đây vậy.
(Hành)
SC 26—Thưa Ni sư, có bao nhiêu hành?
SC 27—Hiền giả, có ba loại hành này: thân hành, khẩu hành, và tâm hành.
SC 28—Thưa Ni sư, thế nào là thân hành, thế nào là khẩu hành, thế nào là tâm hành?
SC 29—Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, là thân hành, tầm tứ là khẩu hành, tưởng và thọ là tâm hành.
SC 30—Thưa Ni sư, vì sao thở vô thở ra là thân hành, vì sao tầm tứ là khẩu hành, vì sao tưởng và thọ là tâm hành?
SC 31—Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, thuộc về thân, những pháp này lệ thuộc với thân, nên thở vô thở ra thuộc về thân hành. Hiền giả Visākha, trước phải tầm và tứ rồi sau mới phát lời nói, nên tầm tứ thuộc về khẩu hành. Tưởng và thọ và tâm sở, các pháp này lệ thuộc với tâm, nên tưởng và thọ thuộc về tâm hành.
(Diệt định)
SC 32—Thưa Ni sư, như thế nào là chứng nhập Diệt thọ tưởng định?
SC 33—Hiền giả Visākha, Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, vị ấy không nghĩ rằng: “Tôi sẽ chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định” hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”. Vì rằng, tâm của vị này trước đã được tu tập như vậy nên đưa đến trạng thái như vậy.
SC 34—Thưa Ni sư, Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, những pháp gì diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay tâm hành?
SC 35—Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo chứng nhập Diệt thọ tưởng định, khẩu hành diệt trước, rồi đến thân hành, rồi đến tâm hành.
SC 36—Thưa Ni sư, làm thế nào xuất khởi Diệt thọ tưởng định?
SC 37—Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, không có nghĩ rằng: “Tôi sẽ xuất khởi Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đang xuất khởi Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã xuất khởi Diệt thọ tưởng định”. Vì rằng tâm của vị này trước đã tu tập như vậy nên đưa đến trạng thái như vậy.
SC 38—Thưa Ni sư, Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, những pháp nào khởi lên trước, thân hành, hay khẩu hành hay tâm hành?
SC 39—Hiền giả Visākha, Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm hành khởi lên trước nhất, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
SC 40—Thưa Ni sư, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, vị ấy cảm giác những xúc nào?
SC 41—Hiền giả Visākha, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, vị ấy cảm giác ba loại xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
SC 42—Thưa Ni sư, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về gì, hướng về gì, khuynh hướng về gì?
SC 43—Hiền giả Visākha, khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về độc cư, hướng về độc cư, khuynh hướng về độc cư.
(Thọ)
SC 44—Thưa Ni sư, có bao nhiêu thọ?
SC 45—Hiền giả Visākha, có ba thọ này, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
SC 46—Thưa Ni sư, thế nào là lạc thọ, thế nào là khổ thọ, thế nào là bất khổ bất lạc thọ?
SC 47—Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách khoái lạc, khoái cảm, như vậy là lạc thọ. Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách đau khổ, không khoái cảm, như vậy là khổ thọ. Hiền giả Visākha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm không khoái cảm, không khoái cảm như vậy là bất khổ bất lạc thọ.
SC 48—Thưa Ni sư, đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Ðối với khổ thọ, cái gì khổ, cái gì lạc? Ðối với bất khổ bất lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ?
SC 49—Hiền giả Visākha, đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ. Ðối với khổ thọ, cái gì trú là khổ, cái gì biến hoại là lạc. Ðối với bất khổ bất lạc thọ, có trí là lạc, vô trí là khổ.
(Tùy miên)
SC 50—Thưa Ni sư, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong khổ thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong bất khổ bất lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại?
SC 51—Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
SC 52—Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại?
SC 53—Hiền giả Visākha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
SC 54—Thưa Ni sư, trong lạc thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong khổ thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, cái gì phải từ bỏ?
SC 55—Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ.
SC 56—Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ?
SC 57—Hiền giả Visākha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ. Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ. Do vậy tham đã được từ bỏ, không còn tham tùy miên tồn tại ở đây.
SC 58Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo suy tư như sau: “Chắc chắn ta sẽ chứng và an trú trong trú xứ mà nay các vị Thánh đang an trú”. Vì muốn phát nguyện hướng đến các cảnh giải thoát vô thượng, do ước nguyện ấy, khởi lên ưu tư. Do vậy, sân được từ bỏ, không còn sân tùy miên tồn tại ở đây.
SC 59Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Tỷ-kheo xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Do vậy vô minh đã được từ bỏ, không còn vô minh tùy miên tồn tại ở đây.
(Ðối tác)
SC 60—Thưa Ni sư, lạc thọ lấy gì làm tương đương?
SC 61—Hiền giả Visākha, lạc thọ lấy khổ thọ làm tương đương.
SC 62—Thưa Ni sư, khổ thọ lấy gì làm tương đương?
SC 63—Hiền giả Visākha, khổ thọ lấy lạc thọ làm tương đương.
SC 64—Thưa Ni sư, bất khổ bất lạc thọ lấy gì làm tương đương?
SC 65—Hiền giả Visākha, bất khổ bất lạc thọ lấy vô minh làm tương đương.
SC 66—Thưa Ni sư, vô minh lấy gì làm tương đương?
SC 67—Hiền giả Visākha, vô minh lấy minh làm tương đương.
SC 68—Thưa Ni sư, minh lấy gì làm tương đương?
SC 69—Hiền giả Visākha, minh lấy giải thoát làm tương đương.
SC 70—Thưa Ni sư, giải thoát lấy gì làm tương đương?
SC 71—Hiền giả Visākha, giải thoát lấy Niết-bàn làm tương đương?
SC 72—Thưa Ni sư, Niết-bàn lấy gì làm tương đương?
SC 73—Hiền giả Visākha, câu hỏi đi quá xa, vượt ra ngoài giới hạn câu trả lời. Hiền giả Visākha, phạm hạnh là để thể nhập vào Niết-bàn, để vượt qua đến Niết-bàn, để đạt cứu cánh Niết-bàn. Hiền giả Visākha, nếu Hiền giả muốn, hãy đến chỗ Thế Tôn ở, và hỏi ý nghĩa này. Và Thế Tôn trả lời cho Hiền giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
(Kết luận)
SC 74Rồi nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinna giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo ni Dhammadinna, thân bên phải hướng về phía Tỷ-kheo-ni rồi từ biệt, đi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, nam cư sĩ Visākha thuật lại cho Thế Tôn tất cả câu chuyện đàm đạo với Tỷ-kheo-ni Dhammadinna. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với nam cư sĩ Visākha
SC 75—Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Hiền trí! Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Ðại tuệ. Này Visākha, nếu Ông hỏi Ta ý nghĩa ấy, Ta cũng trả lời như Tỷ-kheo-ni Dhammadinna đã trả lời. Ông đối với nghĩa này, hãy như vậy thọ trì.
SC 76Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nam cư sĩ Visākha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho visākho upāsako yena dhammadinnā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho visākho upāsako dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ etadavoca:
“‘sakkāyo sakkāyo’ti, ayye, vuccati.
Katamo nu kho, ayye, sakkāyo vutto bhagavatā”ti?
“Pañca kho ime, āvuso visākha, upādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā,
seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Ime kho, āvuso visākha, pañcupādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā”ti.
“Sādhayye”ti kho visākho upāsako dhammadinnāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“‘sakkāyasamudayo sakkāyasamudayo’ti, ayye, vuccati.
Katamo nu kho, ayye, sakkāyasamudayo vutto bhagavatā”ti?
“Yāyaṁ, āvuso visākha, taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—
kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā;
ayaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyasamudayo vutto bhagavatā”ti.
“‘Sakkāyanirodho sakkāyanirodho’ti, ayye, vuccati.
Katamo nu kho, ayye, sakkāyanirodho vutto bhagavatā”ti?
“Yo kho, āvuso visākha, tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo;
ayaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyanirodho vutto bhagavatā”ti.
“‘Sakkāyanirodhagāminī paṭipadā sakkāyanirodhagāminī paṭipadā’ti, ayye, vuccati.
Katamā nu kho, ayye, sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā bhagavatā”ti?
“Ayameva kho, āvuso visākha, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhī”ti.
“Taññeva nu kho, ayye, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā udāhu aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, āvuso visākha, taññeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā, nāpi aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānaṁ.
Yo kho, āvuso visākha, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
“Kathaṁ panāyye, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idhāvuso visākha, assutavā puthujjano, ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto,
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …pe…
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Kathaṁ panāyye, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idhāvuso visākha, sutavā ariyasāvako, ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto,
na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Na vedanaṁ …pe…
na saññaṁ …
na saṅkhāre …pe…
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Evaṁ kho, āvuso visākha, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Katamo panāyye, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo”ti?
“Ayameva kho, āvuso visākha, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhī”ti.
“Ariyo panāyye, aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhato udāhu asaṅkhato”ti?
“Ariyo kho, āvuso visākha, aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhato”ti.
“Ariyena nu kho, ayye, aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā udāhu tīhi khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito”ti?
“Na kho, āvuso visākha, ariyena aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā; tīhi ca kho, āvuso visākha, khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito.
Yā cāvuso visākha, sammāvācā yo ca sammākammanto yo ca sammāājīvo ime dhammā sīlakkhandhe saṅgahitā.
Yo ca sammāvāyāmo yā ca sammāsati yo ca sammāsamādhi ime dhammā samādhikkhandhe saṅgahitā.
Yā ca sammādiṭṭhi yo ca sammāsaṅkappo, ime dhammā paññākkhandhe saṅgahitā”ti.
“Katamo panāyye, samādhi, katame dhammā samādhinimittā, katame dhammā samādhiparikkhārā, katamā samādhibhāvanā”ti?
“Yā kho, āvuso visākha, cittassa ekaggatā ayaṁ samādhi;
cattāro satipaṭṭhānā samādhinimittā;
cattāro sammappadhānā samādhiparikkhārā.
Yā tesaṁyeva dhammānaṁ āsevanā bhāvanā bahulīkammaṁ, ayaṁ ettha samādhibhāvanā”ti.
“Kati panāyye, saṅkhārā”ti?
“Tayome, āvuso visākha, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti.
“Katamo panāyye, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Kasmā panāyye, assāsapassāsā kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti?
“Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyikā ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā kāyasaṅkhāro.
Pubbe kho, āvuso visākha, vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṁ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro.
Saññā ca vedanā ca cetasikā ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“Kathaṁ panāyye, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti?
“Na kho, āvuso visākha, saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjissan’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā.
Atha khvāssa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa panāyye, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ nirujjhanti—yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjantassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno paṭhamaṁ nirujjhati vacīsaṅkhāro, tato kāyasaṅkhāro, tato cittasaṅkhāro”ti.
“Kathaṁ panāyye, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṁ hotī”ti?
“Na kho, āvuso visākha, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahissan’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahāmī’ti vā, ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhito’ti vā.
Atha khvāssa pubbeva tathā cittaṁ bhāvitaṁ hoti yaṁ taṁ tathattāya upanetī”ti.
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa panāyye, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṁ uppajjanti—yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno paṭhamaṁ uppajjati cittasaṅkhāro, tato kāyasaṅkhāro, tato vacīsaṅkhāro”ti.
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ panāyye, bhikkhuṁ kati phassā phusantī”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṁ kho, āvuso visākha, bhikkhuṁ tayo phassā phusanti—suññato phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa panāyye, bhikkhuno kiṁninnaṁ cittaṁ hoti kiṁpoṇaṁ kiṁpabbhāran”ti?
“Saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, āvuso visākha, bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti, vivekapoṇaṁ vivekapabbhāran”ti.
“Kati panāyye, vedanā”ti?
“Tisso kho imā, āvuso visākha, vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā”ti.
“Katamā panāyye, sukhā vedanā, katamā dukkhā vedanā, katamā adukkhamasukhā vedanā”ti?
“Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā sukhaṁ sātaṁ vedayitaṁ—
ayaṁ sukhā vedanā.
Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ—
ayaṁ dukkhā vedanā.
Yaṁ kho, āvuso visākha, kāyikaṁ vā cetasikaṁ vā neva sātaṁ nāsātaṁ vedayitaṁ—
ayaṁ adukkhamasukhā vedanā”ti.
“Sukhā panāyye, vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā, dukkhā vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā, adukkhamasukhā vedanā kiṁsukhā kiṁdukkhā”ti?
“Sukhā kho, āvuso visākha, vedanā ṭhitisukhā vipariṇāmadukkhā;
dukkhā vedanā ṭhitidukkhā vipariṇāmasukhā;
adukkhamasukhā vedanā ñāṇasukhā aññāṇadukkhā”ti.
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ anusayo anuseti, dukkhāya vedanāya kiṁ anusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya kiṁ anusayo anusetī”ti?
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo anuseti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
“Sabbāya nu kho, ayye, sukhāya vedanāya rāgānusayo anuseti, sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti?
“Na kho, āvuso visākha, sabbāya sukhāya vedanāya rāgānusayo anuseti, na sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, na sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ pahātabbaṁ, dukkhāya vedanāya kiṁ pahātabbaṁ, adukkhamasukhāya vedanāya kiṁ pahātabban”ti?
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo pahātabbo, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo”ti.
“Sabbāya nu kho, ayye, sukhāya vedanāya rāgānusayo pahātabbo, sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo”ti?
“Na kho, āvuso visākha, sabbāya sukhāya vedanāya rāgānusayo pahātabbo, na sabbāya dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, na sabbāya adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo.
Idhāvuso visākha, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Rāgaṁ tena pajahati, na tattha rāgānusayo anuseti.
Idhāvuso visākha, bhikkhu iti paṭisañcikkhati:
‘kudāssu nāmāhaṁ tadāyatanaṁ upasampajja viharissāmi yadariyā etarahi āyatanaṁ upasampajja viharantī’ti?
Iti anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpayato uppajjati pihāppaccayā domanassaṁ.
Paṭighaṁ tena pajahati, na tattha paṭighānusayo anuseti.
Idhāvuso visākha, bhikkhu sukhassa ca pahānā, dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Avijjaṁ tena pajahati, na tattha avijjānusayo anusetī”ti.
“Sukhāya panāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya dukkhā vedanā paṭibhāgo”ti.
“Dukkhāya pannāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Dukkhāya kho, āvuso visākha, vedanāya sukhā vedanā paṭibhāgo”ti.
“Adukkhamasukhāya panāyye, vedanāya kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Adukkhamasukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya avijjā paṭibhāgo”ti.
“Avijjāya panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Avijjāya kho, āvuso visākha, vijjā paṭibhāgo”ti.
“Vijjāya panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Vijjāya kho, āvuso visākha, vimutti paṭibhāgo”ti.
“Vimuttiyā panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Vimuttiyā kho, āvuso visākha, nibbānaṁ paṭibhāgo”ti.
“Nibbānassa panāyye, kiṁ paṭibhāgo”ti?
“Accayāsi, āvuso visākha, pañhaṁ, nāsakkhi pañhānaṁ pariyantaṁ gahetuṁ.
Nibbānogadhañhi, āvuso visākha, brahmacariyaṁ, nibbānaparāyanaṁ nibbānapariyosānaṁ.
Ākaṅkhamāno ca tvaṁ, āvuso visākha, bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī”ti.
Atha kho visākho upāsako dhammadinnāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā dhammadinnaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho visākho upāsako yāvatako ahosi dhammadinnāya bhikkhuniyā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Evaṁ vutte, bhagavā visākhaṁ upāsakaṁ etadavoca:
“paṇḍitā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī, mahāpaññā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī.
Mañcepi tvaṁ, visākha, etamatthaṁ puccheyyāsi, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ, yathā taṁ dhammadinnāya bhikkhuniyā byākataṁ.
Eso cevetassa attho. Evañca naṁ dhārehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano visākho upāsako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Cūḷavedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.