Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
SC 3Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng Ðại Kinh Sáu Xứ. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 4—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 5Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 6—Này các Tỷ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy ái trước đối với cảm thọ ấy.
SC 7Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Và ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia; ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng; những thân nhiệt não tăng trưởng; những tâm khổ não tăng trưởng. Vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
SC 8Này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn tai…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn mũi…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn lưỡi…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn thân…; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn ý; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn các pháp; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn ý thức; này các Tỷ-kheo, không thấy và không biết như chơn ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không thấy và không biết như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với ý, ái trước đối với pháp, ái trước đối với ý thức, ái trước đối với ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, … vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
SC 9Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy.
SC 10Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai. Và ái của vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này chỗ kia; ái ấy được đoạn tận; những thân ưu não của vị ấy được đoạn tận; những tâm ưu não được đoạn tận; những thân nhiệt não được đoạn tận; những tâm nhiệt não được đoạn tận; những thân khổ não được đoạn tận; những tâm khổ não được đoạn tận; vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc.
SC 11Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy, bốn niệm xứ đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn chánh tinh tấn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn như ý túc cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm căn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm lực cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bảy giác chi cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn. Và nơi vị ấy, hai pháp này được chuyển vận song hành: Chỉ và Quán. Với thượng trí, vị ấy liễu tri những pháp cần phải liễu tri với thượng trí. Với thượng trí, vị ấy đoạn tận những pháp cần phải đoạn tận với thượng trí. Với thượng trí vị ấy, tu tập những pháp cần phải tu tập với thượng trí. Với thượng trí, vị ấy chứng ngộ những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí.
SC 12Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải liễu tri với thượng trí? Cần phải trả lời là năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Những pháp này là những pháp cần phải liễu tri với thượng trí.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải đoạn tận với thượng trí? Vô minh và hữu ái, những pháp này cần phải đoạn tận với thượng trí.
SC 14Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tu tập với thượng trí? Chỉ và Quán, những pháp này cần phải tu tập với thượng trí.
SC 15Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng ngộ với thượng trí.
SC 16Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn tai…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mũi…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn lưỡi…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn thân…; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ý; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn các pháp; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ý thức; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; thấy và biết như chơn cảm thọ ấy, nên vị ấy không ái trước đối với ý, không ái trước đối với các pháp, không ái trước đối với ý thức, không ái trước đối với ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy … tâm khổ não được đoạn tận. Vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc. Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy … hoạt mạng của vị ấy đi đến thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy … Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng ngộ với thượng trí.
SC 17Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“mahāsaḷāyatanikaṁ vo, bhikkhave, desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Cakkhuṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, rūpe ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhuviññāṇaṁ ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusamphassaṁ ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusmiṁ sārajjati, rūpesu sārajjati, cakkhuviññāṇe sārajjati, cakkhusamphasse sārajjati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi sārajjati.
Tassa sārattassa saṁyuttassa sammūḷhassa assādānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā upacayaṁ gacchanti.
Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pavaḍḍhati.
Tassa kāyikāpi darathā pavaḍḍhanti, cetasikāpi darathā pavaḍḍhanti;
kāyikāpi santāpā pavaḍḍhanti, cetasikāpi santāpā pavaḍḍhanti;
kāyikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti, cetasikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti.
So kāyadukkhampi cetodukkhampi paṭisaṁvedeti.
Sotaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe…
ghānaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe…
jivhaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe…
kāyaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ …pe…
manaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, dhamme, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, manoviññāṇaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, manosamphassaṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, manasmiṁ sārajjati, dhammesu sārajjati, manoviññāṇe sārajjati, manosamphasse sārajjati, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi sārajjati.
Tassa sārattassa saṁyuttassa sammūḷhassa assādānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā upacayaṁ gacchanti.
Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pavaḍḍhati.
Tassa kāyikāpi darathā pavaḍḍhanti, cetasikāpi darathā pavaḍḍhanti;
kāyikāpi santāpā pavaḍḍhanti, cetasikāpi santāpā pavaḍḍhanti;
kāyikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti, cetasikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti.
So kāyadukkhampi cetodukkhampi paṭisaṁvedeti.
Cakkhuñca kho, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, rūpe jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhuviññāṇaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusamphassaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusmiṁ na sārajjati, rūpesu na sārajjati, cakkhuviññāṇe na sārajjati, cakkhusamphasse na sārajjati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi na sārajjati.
Tassa asārattassa asaṁyuttassa asammūḷhassa ādīnavānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā apacayaṁ gacchanti.
Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pahīyati.
Tassa kāyikāpi darathā pahīyanti, cetasikāpi darathā pahīyanti;
kāyikāpi santāpā pahīyanti, cetasikāpi santāpā pahīyanti;
kāyikāpi pariḷāhā pahīyanti, cetasikāpi pariḷāhā pahīyanti.
So kāyasukhampi cetosukhampi paṭisaṁvedeti.
Yā tathābhūtassa diṭṭhi sāssa hoti sammādiṭṭhi;
yo tathābhūtassa saṅkappo svāssa hoti sammāsaṅkappo;
yo tathābhūtassa vāyāmo svāssa hoti sammāvāyāmo;
yā tathābhūtassa sati sāssa hoti sammāsati;
yo tathābhūtassa samādhi svāssa hoti sammāsamādhi.
Pubbeva kho panassa kāyakammaṁ vacīkammaṁ ājīvo suparisuddho hoti.
Evamassāyaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati.
Tassa evaṁ imaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvayato cattāropi satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi sammappadhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi iddhipādā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi indriyāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi balāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, sattapi bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
Tassime dve dhammā yuganandhā vattanti—
samatho ca vipassanā ca.
So ye dhammā abhiññā pariññeyyā te dhamme abhiññā parijānāti.
Ye dhammā abhiññā pahātabbā te dhamme abhiññā pajahati.
Ye dhammā abhiññā bhāvetabbā te dhamme abhiññā bhāveti.
Ye dhammā abhiññā sacchikātabbā te dhamme abhiññā sacchikaroti.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pariññeyyā?
‘Pañcupādānakkhandhā’ tissa vacanīyaṁ,
seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Ime dhammā abhiññā pariññeyyā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pahātabbā?
Avijjā ca bhavataṇhā ca—
ime dhammā abhiññā pahātabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā bhāvetabbā?
Samatho ca vipassanā ca—
ime dhammā abhiññā bhāvetabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā sacchikātabbā?
Vijjā ca vimutti ca—
ime dhammā abhiññā sacchikātabbā.
Sotaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe…
ghānaṁ bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe…
jivhaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe…
kāyaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ …pe…
manaṁ, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, dhamme jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, manoviññāṇaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, manosamphassaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, manasmiṁ na sārajjati, dhammesu na sārajjati, manoviññāṇe na sārajjati, manosamphasse na sārajjati, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi na sārajjati.
Tassa asārattassa asaṁyuttassa asammūḷhassa ādīnavānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā apacayaṁ gacchanti.
Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pahīyati.
Tassa kāyikāpi darathā pahīyanti, cetasikāpi darathā pahīyanti;
kāyikāpi santāpā pahīyanti, cetasikāpi santāpā pahīyanti;
kāyikāpi pariḷāhā pahīyanti, cetasikāpi pariḷāhā pahīyanti.
So kāyasukhampi cetosukhampi paṭisaṁvedeti.
Yā tathābhūtassa diṭṭhi sāssa hoti sammādiṭṭhi;
yo tathābhūtassa saṅkappo svāssa hoti sammāsaṅkappo;
yo tathābhūtassa vāyāmo svāssa hoti sammāvāyāmo;
yā tathābhūtassa sati sāssa hoti sammāsati;
yo tathābhūtassa samādhi svāssa hoti sammāsamādhi.
Pubbeva kho panassa kāyakammaṁ vacīkammaṁ ājīvo suparisuddho hoti.
Evamassāyaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati.
Tassa evaṁ imaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvayato cattāropi satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi sammappadhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi iddhipādā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi indriyāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi balāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, sattapi bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
Tassime dve dhammā yuganandhā vattanti—
samatho ca vipassanā ca.
So ye dhammā abhiññā pariññeyyā te dhamme abhiññā parijānāti.
Ye dhammā abhiññā pahātabbā te dhamme abhiññā pajahati.
Ye dhammā abhiññā bhāvetabbā te dhamme abhiññā bhāveti.
Ye dhammā abhiññā sacchikātabbā te dhamme abhiññā sacchikaroti.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pariññeyyā?
‘Pañcupādānakkhandhā’ tissa vacanīyaṁ, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Ime dhammā abhiññā pariññeyyā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pahātabbā?
Avijjā ca bhavataṇhā ca—
ime dhammā abhiññā pahātabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā bhāvetabbā?
Samatho ca vipassanā ca—
ime dhammā abhiññā bhāvetabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā sacchikātabbā?
Vijjā ca vimutti ca—
ime dhammā abhiññā sacchikātabbā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Mahāsaḷāyatanikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthi, in Jeta‘s Grove, at Anāthapiṇḍika‘s Park. There the Blessed One addressed the monks: “Monks!” “Auspicious sir,” those monks replied to the Blessed One. “Monks, I will teach you a great discourse on the six sense bases. Listen to this and carefully pay attention; I will speak.” “Yes, Bhante,” those monks replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
SC 2“Monks, when one does not accurately know and see the eye, visible objects, eye-consciousness, eye-contact, and whatever feeling arises from eye-contact – whether pleasant, painful, or neutral – then one becomes infatuated with the eye, with visible objects, with eye-consciousness, with eye-contact, and with whatever feeling arises from eye-contact – whether pleasant, painful, or neutral.
SC 3“When one remains infatuated, bound, confused, and focused on gratification, then in the future there will be further accumulation of the five aggregates affected by clinging1. One‘s craving – which leads to further existence, is accompanied by delight and passion, and seeks delight here and there – also increases. One‘s physical distress increases. One‘s mental distress increases. One‘s physical torment increases. One‘s mental torment increases. One‘s physical fever increases. One‘s mental fever increases. One experiences physical suffering and mental suffering.
SC 4“Monks, when one does not accurately know and see the ear… the nose… the tongue… the body… the mind, mental objects, mind-consciousness, mind-contact, and whatever feeling arises from mind-contact – whether pleasant, painful, or neutral – then one becomes infatuated with the mind, with mental objects, with mind-consciousness, with mind-contact, and with whatever feeling arises from mind-contact – whether pleasant, painful, or neutral. When one remains infatuated, bound, confused, and focused on gratification, then in the future there will be further accumulation of the five aggregates of clinging… one experiences physical suffering and mental suffering.
SC 5“Monks, when one accurately knows and sees the eye… the ear… the nose… the tongue… the body… the mind, mental objects, mind-consciousness, mind-contact, and whatever feeling arises from mind-contact – whether pleasant, painful, or neutral – then one does not become infatuated with the mind, with mental objects, with mind-consciousness, with mind-contact, and with whatever feeling arises from mind-contact – whether pleasant, painful, or neutral.
SC 6“When one remains uninfatuated, unbound, unconfused, and focused on drawbacks2, then in the future there will be diminution of the five aggregates affected by clinging. One‘s craving – which leads to further existence, is accompanied by delight and passion, and seeks delight here and there – is left behind. One‘s physical distress is left behind. One‘s mental distress is left behind. One‘s physical torment is left behind. One‘s mental torment is left behind. One‘s physical fever is left behind. One‘s mental fever is left behind. One experiences physical pleasure and mental pleasure.
SC 7“The perspective of such a person is right perspective. The thought of such a person is right thought. The effort of such a person is right effort. The mindfulness of such a person is right mindfulness. The concentration of such a person is right concentration. Furthermore, that person‘s speech, actions, and livelihood were already well-purified. Thus this leads to that person‘s fulfillment of the Noble Eightfold Path by development.
SC 8“For one who develops the Noble Eightfold Path in this way, the Four Establishments of Mindfulness, the Four Right Strivings, the Four Paths to Success, the Five Faculties, the Five Powers, and the Seven Enlightenment Factors also reach fulfillment by development.
SC 9“For that person, these two phenomena progress together: tranquility and insight3. That person understands with higher knowledge those phenomena which are to be understood by higher knowledge. That person abandons those phenomena which are to be abandoned. That person develops those phenomena which are developed. That person realizes with higher knowledge those phenomena which are to be realized by higher knowledge.
SC 10“And, monks, what phenomena are to be understood by higher knowledge? ‘The five aggregates affected by clinging’ is to be said – that is, the body-aggregate affected by clinging, the feeling-aggregate affected by clinging, the recognition-aggregate affected by clinging, the thought-aggregate affected by clinging, and the consciousness-aggregate affected by clinging. These phenomena are to be understood by higher knowledge.
SC 11“And, monks, what phenomena are to be abandoned? Ignorance and the desire for existence – these phenomena are to be abandoned.
SC 12“And, monks, what phenomena are to be developed? Tranquility and insight – these phenomena are to be developed.
SC 13“And, monks, what phenomena are to be realized? Knowledge and liberation – these phenomena are to be realized.”
SC 14This is what the Blessed One said. Satisfied, those monks delighted in the Blessed One‘s speech.