Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Kotthita (Ðại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahā Kotthita nói với Tôn giả Sāriputta
(Tuệ giác)
SC 2—Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Suppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?
SC 3—Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nappajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.
- -Lành thay, Hiền giả!
SC 4Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi nữa
SC 5—Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
SC 6—Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.
(Thức)
SC 7—Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
SC 8—Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.
SC 9—Nầy Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
SC 10—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
SC 11—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
SC 12—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.
(Thọ)
SC 13—Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
SC 14—Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.
(Tưởng)
SC 15—Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?
SC 16—Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.
SC 17—Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
SC 18—Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
(Thắng tri)
SC 19—Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?
SC 20—Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.
SC 21—Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được?
SC 22—Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
SC 23—Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?
SC 24—Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).
(Chánh kiến)
SC 25—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?
SC 26—Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.
SC 27—Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?
SC 28—Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ở đây, này Hiền giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (Suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ trợ, có chỉ (Samatha) hỗ trợ, có quán (Vipassana) hỗ trợ. Này Hiền giả, chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức.
(Hữu)
SC 29—Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (Bhava)?
SC 30—Này Hiền giả có ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.
SC 31—Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai được xảy ra?
SC 32—Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy, sự tái sinh trong tương lai được xảy ra.
SC 33—Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai không xảy ra?
SC 34—Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không xảy ra.
(Thiền-na thứ nhất)
SC 35—Này Hiền giả, thế nào là Thiền thứ nhất?
SC 36—Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.
SC 37—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?
SC 38—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.
SC 39—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?
SC 40- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần.
(Năm căn)
SC 41—Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh giới, hành giới của chúng?
SC 42—Nầy Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng.
SC 43—Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?
SC 44—Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên tuổi thọ (Ayu) mà chúng an trú.
SC 45—Này Hiền giả, tuổi thọ do duyên gì mà an trú?
SC 46—Tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.
SC 47—Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an trú?
SC 48—Hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
SC 49—Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ lời nói của Tôn giả Sāriputta là tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sāriputta là hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?
SC 50—Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Nhờ ví dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên tim đèn, ánh sáng được hiện ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
(Pháp thọ hành)
SC 51—Này Hiền giả, những pháp thọ hành (Ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (Vedaniya) này, hay những pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?
SC 52—Này Hiền giả, những pháp thọ hành này không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.
SC 53—Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri?
SC 54—Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba pháp được từ bỏ: Tuổi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri.
SC 55—Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định?
SC 56—Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này, thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm hành chấm dứt, dừng lại, tuổi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị bại hoại. Còn vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuổi thọ không diệt tận, hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định.
(Tâm giải thoát)
SC 57—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc?
SC 58—Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc.
SC 59—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?
SC 60—Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát: không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.
SC 61—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?
SC 62—Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới, và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát.
SC 63—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?
SC 64—Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.
SC 65—Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.
SC 66—Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.
SC 67Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.
SC 68Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: “Ðây trống không, không có tự ngã hay không có ngã sở”. Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.
SC 69Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.
SC 70Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa đồng nhất nhưng danh sai biệt. Tham, này Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng; sân là nguyên nhân của hạn lượng; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát không có tham, không có sân, không có si.
SC 71Tham, này Hiền giả, là một vật gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì (chướng ngại). Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy không có tham, không có sân, không có si.
SC 72Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si. Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đồng nghĩa nhưng danh sai biệt.
SC 73Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“‘Duppañño duppañño’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, duppaññoti vuccatī”ti?
“‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccati.
Kiñca nappajānāti?
‘Idaṁ dukkhan’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti nappajānāti.
‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccatī”ti.
“Sādhāvuso”ti kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“‘Paññavā paññavā’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, paññavāti vuccatī”ti?
“‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccati.
Kiñca pajānāti?
‘Idaṁ dukkhan’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti pajānāti.
‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccatī”ti.
“‘Viññāṇaṁ viññāṇan’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, viññāṇanti vuccatī”ti?
“‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccati.
Kiñca vijānāti?
Sukhantipi vijānāti, dukkhantipi vijānāti, adukkhamasukhantipi vijānāti.
‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccatī”ti.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ.
Yaṁ hāvuso, pajānāti taṁ vijānāti, yaṁ vijānāti taṁ pajānāti.
Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ paññā bhāvetabbā, viññāṇaṁ pariññeyyaṁ.
Idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“‘Vedanā vedanā’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, vedanāti vuccatī”ti?
“‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccati.
Kiñca vedeti?
Sukhampi vedeti, dukkhampi vedeti, adukkhamasukhampi vedeti.
‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccatī”ti.
“‘Saññā saññā’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, saññāti vuccatī”ti?
“‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccati.
Kiñca sañjānāti?
Nīlakampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti.
‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccatī”ti.
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ.
Yaṁ hāvuso, vedeti taṁ sañjānāti, yaṁ sañjānāti taṁ vijānāti.
Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
“Nissaṭṭhena hāvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena kiṁ neyyan”ti?
“Nissaṭṭhena, āvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ neyyan”ti.
“Neyyaṁ panāvuso, dhammaṁ kena pajānātī”ti?
“Neyyaṁ kho, āvuso, dhammaṁ paññācakkhunā pajānātī”ti.
“Paññā panāvuso, kimatthiyā”ti?
“Paññā kho, āvuso, abhiññatthā pariññatthā pahānatthā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti?
“Dve kho, āvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya—
parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro.
Ime kho, āvuso, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
“Katihi panāvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti?
“Pañcahi kho, āvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca.
Idhāvuso, sammādiṭṭhi sīlānuggahitā ca hoti, sutānuggahitā ca hoti, sākacchānuggahitā ca hoti, samathānuggahitā ca hoti, vipassanānuggahitā ca hoti.
Imehi kho, āvuso, pañcahaṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti.
“Kati panāvuso, bhavā”ti?
“Tayome, āvuso, bhavā—
kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo”ti.
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti?
“Avijjānīvaraṇānaṁ kho, āvuso, sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ tatratatrābhinandanā—
evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti.
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti?
“Avijjāvirāgā kho, āvuso, vijjuppādā taṇhānirodhā—
evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti.
“Katamaṁ panāvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti?
“Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—
idaṁ vuccati, āvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti.
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ katiaṅgikan”ti?
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgikaṁ.
Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca.
Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgikan”ti.
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ kataṅgavippahīnaṁ kataṅgasamannāgatan”ti?
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ, pañcaṅgasamannāgataṁ.
Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti;
vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca.
Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ pañcaṅgasamannāgatan”ti.
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, kiṁ paṭisaraṇaṁ, ko ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti?
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, mano paṭisaraṇaṁ, mano ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti.
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni kiṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti?
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni āyuṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti.
“Āyu panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“Āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Usmā panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“Usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Idāneva kho mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
Idāneva pana mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
Yathā kathaṁ panāvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Tena hāvuso, upamaṁ te karissāmi;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, āvuso, telappadīpassa jhāyato acciṁ paṭicca ābhā paññāyati, ābhaṁ paṭicca acci paññāyati;
evameva kho, āvuso, āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhati, usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Teva nu kho, āvuso, āyusaṅkhārā, te vedaniyā dhammā udāhu aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā”ti?
“Na kho, āvuso, teva āyusaṅkhārā te vedaniyā dhammā.
Te ca hāvuso, āyusaṅkhārā abhaviṁsu te vedaniyā dhammā, na yidaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyetha.
Yasmā ca kho, āvuso, aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā, tasmā saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyatī”ti.
“Yadā nu kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ kati dhammā jahanti; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti?
“Yadā kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ tayo dhammā jahanti—āyu usmā ca viññāṇaṁ; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti.
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—imesaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni paribhinnāni.
Yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno tassapi kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu na parikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni.
Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“Kati panāvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“Cattāro kho, āvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā.
Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ime kho, āvuso, cattāro paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā—
sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro.
Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti?
“Tayo kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā—
sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro, pubbe ca abhisaṅkhāro.
Ime kho, āvuso, tayo paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti?
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāya—
sabbanimittānañca manasikāro, animittāya ca dhātuyā amanasikāro.
Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti.
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—atthi kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca;
atthi ca kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṁ.
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca?
Idhāvuso, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Ayaṁ vuccatāvuso, appamāṇā cetovimutti.
Katamā cāvuso, ākiñcaññā cetovimutti?
Idhāvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ākiñcaññā cetovimutti.
Katamā cāvuso, suññatā cetovimutti?
Idhāvuso, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Ayaṁ vuccatāvuso, suññatā cetovimutti.
Katamā cāvuso, animittā cetovimutti?
Idhāvuso, bhikkhu sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccatāvuso, animittā cetovimutti.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca.
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānaṁ?
Rāgo kho, āvuso, pamāṇakaraṇo, doso pamāṇakaraṇo, moho pamāṇakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, āvuso, appamāṇā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, āvuso, kiñcano, doso kiñcano, moho kiñcano.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, āvuso, ākiñcaññā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, āvuso, nimittakaraṇo, doso nimittakaraṇo, moho nimittakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, āvuso, animittā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
Idamavocāyasmā sāriputto.
Attamano āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandīti.
Mahāvedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthi, in Jeta‘s Grove, in Anāthapiṇḍika‘s Park. Then in the evening Venerable Mahākoṭṭhita emerged from seclusion, approached Venerable Sāriputta, and conversed with him. When the appropriate polite conversation was completed, he sat to one side. When he was seated to one side, Venerable Mahākoṭṭhita said to Venerable Sāriputta:
SC 2Wisdom, Consciousness, Feeling, and Recognition
SC 3“Venerable, it is said ‘foolish, foolish.’ Venerable, why is one called ‘foolish’?”
SC 4“‘One does not understand, one does not understand’ – therefore, Venerable, one is called ‘foolish.’ And what does one not understand? One does not understand suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the path of practice which leads to the cessation of suffering. ‘One does not understand, one does not understand’ – therefore, Venerable, one is called ‘foolish.’”
SC 5“Excellent, Venerable,” Venerable Mahākoṭṭhita delighted and rejoiced in Venerable Sāriputta statements, then asked him a further question:
SC 6“Venerable, it is said ‘wise, wise.’ Venerable, why is one called ‘wise’?”
SC 7“‘One understands, one understands’ – therefore, Venerable, one is called ‘wise.’ And what does one understand? One understands suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the path of practice which leads to the cessation of suffering. ‘One understands, one understands’ – therefore, Venerable, one is called ‘wise.’”
SC 8“Venerable, it is said ‘consciousness, consciousness.’ Venerable, why is it called ‘consciousness’?”
SC 9“‘One cognizes, one cognizes’ – therefore, Venerable, it is called ‘consciousness.’ And what does one cognize? One cognizes ‘pleasant,’ ‘unpleasant,’ and ‘neither pleasant nor unpleasant.’ ‘One cognizes, one cognizes’ – therefore, Venerable, it is called ‘consciousness.’”
SC 10“Venerable, regarding wisdom and consciousness: are these phenomena separate or conjoined? Is it possible to distinguish these phenomena in order to describe what makes them different?”
SC 11“Venerable, regarding wisdom and consciousness: these phenomena are conjoined, not separate. It is not possible to distinguish these phenomena in order to describe what makes them different. Venerable, what one understands, one cognizes; what one cognizes, one understands. Therefore these phenomena are conjoined, not separate. It is not possible to distinguish these phenomena in order to describe what makes them different.”
SC 12“Venerable, regarding wisdom and consciousness: what is the difference between these phenomena which are conjoined and not separate?”
SC 13“Venerable, regarding wisdom and consciousness: the difference between these phenomena which are conjoined and not separate is that wisdom is to be developed, whereas consciousness is to be completely understood.”
SC 14“Venerable, it is said ‘feeling, feeling.’ Venerable, why is it called ‘feeling’?”
SC 15“‘One feels, one feels’ – therefore, Venerable, it is called ‘feeling.’ And what does one feel? One feels ‘pleasant,’ ‘unpleasant,’ and ‘neither pleasant nor unpleasant.’ ‘One feels, one feels’ – therefore, Venerable, it is called ‘feeling.’”
SC 16“Venerable, it is said ‘recognition, recognition.’ Venerable, why is it called ‘recognition’?”
SC 17“‘One recognizes, one recognizes’ – therefore, Venerable, it is called ‘recognition.’ And what does one recognize? One recognizes blue, yellow, red, and white.1 ‘One recognizes, one recognizes’ – therefore, Venerable, it is called ‘recognition.’”
SC 18“Venerable, regarding feeling, recognition, and consciousness: are these phenomena separate or conjoined? Is it possible to distinguish these phenomena in order to describe what makes them different?”
SC 19“Venerable, regarding feeling, recognition, and consciousness: these phenomena are conjoined, not separate. It is not possible to distinguish these phenomena in order to describe what makes them different. Venerable, what one feels, one recognizes; what one recognizes, one cognizes. Therefore these phenomena are conjoined, not separate. It is not possible to distinguish these phenomena in order to describe what makes them different.”
SC 20The Domain of Completely Pure Mind-consciousness
SC 21“Venerable, what can be known by a completely pure mind-consciousness which has been released from the five faculties?”
SC 22“Venerable, a completely pure mind-consciousness which has been released from the five faculties can know the dimension of infinite space with the thought ‘Space is infinite’; it can know the dimension of infinite consciousness with the thought ‘Consciousness is infinite’; it can know the dimension of nothingness with the thought ‘There is nothing.’”
SC 23“Venerable, using what does one understand a knowable phenomenon?”
SC 24“Venerable, one understands a knowable phenomenon using the eye of wisdom.”
SC 25“Venerable, what is the purpose of wisdom?”
SC 26“Venerable, the purpose of wisdom is higher knowledge, complete knowledge, and letting go.”
SC 27Right Perspective
SC 28“Venerable, how many conditions are there for the arising of right perspective?”
SC 29“Venerable, there are two conditions for the arising of right perspective: the voice of another, and wise attention. Venerable, these are the two conditions for the arising of right perspective.”
SC 30“Venerable, supported by how many factors does right perspective have mental liberation as its result and benefit and wisdom-liberation as its result and benefit?”
SC 31“Venerable, when supported by five factors, right perspective has mental liberation as its result and benefit and wisdom-liberation as its result and benefit. Here, Venerable, right perspective is supported by virtue, learning, conversation, tranquility, and insight2. Venerable, when supported by these five factors, right perspective has mental liberation as its result and benefit and wisdom-liberation as its result and benefit.”
SC 33“Venerable, how many kinds of existence are there?”
SC 34“Venerable, there are three kinds of existence: sensual existence, material existence, and immaterial existence.”
SC 35“Venerable, how does there come to be the production of renewed existence?”
SC 36“Venerable, when beings who are obstructed by ignorance and bound by craving seek delight in various places, there is production of renewed existence.”
SC 37“Venerable, how does there come to be no production of renewed existence?”
SC 38“Venerable, with the fading away of ignorance, the arising of knowledge, and the cessation of craving, there is no production of renewed existence.”
SC 39The First Jhāna
SC 40“Venerable, what is the first Jhāna?”
SC 41“Here, Venerable, a monk who is separated from sensuality and separated from unwholesome phenomena attains and remains in the first Jhāna, which is accompanied by thought and investigation, and has rapture and happiness produced by seclusion.”
SC 42“Venerable, how many factors does the first Jhāna have?”
SC 43“Venerable, the first Jhāna has five factors. Here, Venerable, a monk who has attained the first Jhāna engages in thought, investigation, rapture, happiness, and mental one-pointedness. Venerable, in this way the first Jhāna has five factors.”
SC 44“Venerable, in the first Jhāna, what factors have been abandoned and what factors are present?”
SC 45“Venerable, in the first Jhāna, five factors have been abandoned and five factors are present. Here, Venerable, a monk who has attained the first Jhāna has abandoned interest in sensuality, he has abandoned aversion, he has abandoned sloth and torpor, he has abandoned restlessness and remorse, and he has abandoned doubt. He engages in thought, investigation, rapture, happiness, and mental one-pointedness. Venerable, it is in this way that, in the first Jhāna, five factors have been abandoned and five factors are present.”
SC 46The Five Sense-Faculties and the Nature of Vitality
SC 47“Venerable, these five faculties have different territories and different domains, and they do not experience each other‘s territories and domains: namely, the eye-faculty, the ear-faculty, the nose-faculty, the tongue-faculty, and the body-faculty. Venerable, as regards these five faculties that have different territories and different domains, and that do not experience each other‘s territories and domains: what is their resort, and what experiences their territories and domains?”
SC 48“Venerable, these five faculties have different territories and different domains, and they do not experience each other‘s territories and domains: namely, the eye-faculty, the ear-faculty, the nose-faculty, the tongue-faculty, and the body-faculty. Venerable, as regards these five faculties that have different territories and different domains, and that do not experience each other‘s territories and domains: the mind is their resort, and the mind experiences their territories and domains.”
SC 49“Venerable, these are the five faculties: the eye-faculty, the ear-faculty, the nose-faculty, the tongue-faculty, and the body-faculty. Venerable, what is it that the existence of the five faculties depends on?”
SC 50“Venerable, these are the five faculties: the eye-faculty, the ear-faculty, the nose-faculty, the tongue-faculty, and the body-faculty. Venerable, the existence of the five faculties depends on vitality.”
SC 51“Venerable, what is it that the existence of vitality depends on?”
SC 52“The existence of vitality depends on warmth.”
SC 53“Venerable, what is it that the existence of warmth depends on?”
SC 54“The existence of warmth depends on vitality.”
SC 55“Venerable, we understand the Venerable Sāriputta‘s statement just now as ‘The existence of vitality depends on warmth.’ We also understand the Venerable Sāriputta‘s statement just now as ‘The existence of warmth depends on vitality.’ Venerable, how is the meaning of this speech to be seen?”
SC 56“Therefore, Venerable, I will make a simile; some discerning people understand the meaning of a statement by means of a simile. Venerable, just as the radiance of a burning oil-lamp is apparent because of the flame, and the flame is apparent because of the radiance; in the same way, Venerable, the existence of vitality depends on warmth, and the existence of warmth depends on vitality.”
SC 57“Venerable, are vitality-formations experienceable phenomena, or are vitality-formations one thing and experienceable phenomena something else?”
SC 58“Venerable, vitality-formations are not experienceable phenomena. Venerable, if vitality-formations were experienceable phenomena, then a monk who has attained the cessation of perception and feeling3 cannot be seen emerging from that attainment. Venerable, because vitality-formations are one thing and experienceable phenomena are something else, then a monk who has attained the cessation of perception and feeling can be seen emerging from that attainment.”
SC 59“Venerable, how many phenomena has this body abandoned when it lies forsaken and discarded like an insentient log?”
SC 60“Venerable, when this body has abandoned three phenomena – vitality, heat, and consciousness – then this body lies forsaken and discarded like an insentient log.”
SC 61“Venerable, what is the difference between one who is dead, and a monk who has attained the cessation of perception and feeling?”
SC 62“Venerable, when one is dead, the physical formations have ceased and subsided, the verbal formations have ceased and subsided, the mental formations have ceased and subsided, vitality is completely eliminated, warmth has faded, and the faculties have dissipated. When a monk has attained the cessation of perception and feeling, the physical formations have ceased and subsided, the verbal formations have ceased and subsided, the mental formations have ceased and subsided, vitality is not completely eliminated, warmth has not faded, and the faculties are very clear. Venerable, this is the difference between one who is dead, and a monk who has attained the cessation of perception and feeling.”
SC 63Mental Liberations
SC 64“Venerable, how many conditions are there for attainment of the mental liberation that is neither painful nor pleasant?”
SC 65“Venerable, there are four conditions for the attainment of the mental liberation that is neither painful nor pleasant. Here, Venerable, a monk has abandoned pleasure, has abandoned pain, and with the prior disappearance of elation and dejection, he attains and remains in the fourth Jhāna, which is neither painful nor pleasant, and has purification due to equanimity and mindfulness. Venerable, these are the four conditions for the attainment of the mental liberation that is neither painful nor pleasant.”
SC 66“Venerable, how many conditions are there for attainment of the mental liberation that has no subject5?”
SC 67“Venerable, there are two conditions for attainment of the mental liberation that has no subject – non-attention to any subject, and attention to the element of subjectlessness. Venerable, these are the two conditions for attainment of the mental liberation that has no subject.”
SC 68“Venerable, how many conditions are there for continuation of the mental liberation that has no subject?”
SC 69“Venerable, there are three conditions for continuation of the mental liberation that has no subject – non-attention to any subject, attention to the element of subjectlessness, and prior preparation6. Venerable, these are the three conditions for continuation of the mental liberation that has no subject.”
SC 70“Venerable, how many conditions are there for emergence from the mental liberation that has no subject?”
SC 71“Venerable, there are two conditions for emergence from the mental liberation that has no subject – attention to any subject, and non-attention to the element of subjectlessness. Venerable, these are the two conditions for emergence from the mental liberation that has no subject.”
SC 72“Venerable, regarding limitless mental liberation, nothingness mental liberation, emptiness mental liberation, and subjectless mental liberation: are these phenomena different in meaning and different in name, or are they one in meaning and different only in name?”
SC 73“Venerable, regarding limitless mental liberation, nothingness mental liberation, emptiness mental liberation, and subjectless mental liberation: Venerable, there is a description whereby these phenomena are different in meaning and different in name, and there is a description whereby these phenomena are one in meaning and different only in name.”
SC 74“Venerable, what is the description whereby these phenomena are different in meaning and different in name?”
SC 75“Here, venerable, with a mind of loving-friendliness, a monk pervades the first direction, as well as the second, third, and fourth direction7. Thus, above, below, all around, impartially, and all-encompassing, he pervades the entire world with a mind of loving-friendliness that is abundant, vast, limitless, free of hostility, and free of enmity. With a mind of compassion… empathic joy8… equanimity, a monk pervades the first direction, as well as the second, third, and fourth direction. Thus, above, below, all around, impartially, and all-encompassing, he pervades the entire world with a mind of equanimity that is abundant, vast, limitless, free of hostility, and free of enmity. Venerable, this is called ‘limitless mental liberation.’”
SC 76“Venerable, what is ‘nothingness mental liberation’?”
SC 77“Here, Venerable, a monk completely transcends the dimension of consciousness, and, perceiving ‘There is nothing,’ he attains and remains in the dimension of nothingness. Venerable, this is called ‘nothingness mental liberation.’”
SC 78“Venerable, what is ‘emptiness mental liberation’?”
SC 79“Here, Venerable, a monk who has gone to a forest, to the base of a tree, or to an empty house, considers in this way: ‘This is empty of a soul or of anything belonging to a soul.’ Venerable, this is called ‘emptiness mental liberation.’”
SC 80“Venerable, what is ‘subjectless mental liberation’?”
SC 81“Here, Venerable, by not paying attention to any subject, a monk attains and remains in the subjectless mental liberation. Venerable, this is called ‘subjectless mental liberation.’
SC 82“Venerable, this is the description whereby these phenomena are different in meaning and different in name.”
SC 83“Venerable, what is the description whereby these phenomena are one in meaning in different only in name?”
SC 84“Venerable, lust is a limit-maker, hatred is a limit-maker, delusion is a limit-maker. For a monk who has eliminated his defilements, these are abandoned, cut off at the root, made like a tree-trunk, obliterated, incapable of arising in the future. Venerable, of all the limitless mental liberations, the unshakable mental liberation is considered the best; and the unshakable mental liberation is empty of lust, empty of hatred, empty of delusion.
SC 85“Venerable, lust is something, hatred is something, delusion is something. For a monk who has eliminated his defilements, these are abandoned, cut off at the root, made like a tree-trunk, obliterated, incapable of arising in the future. Venerable, of all the nothingness mental liberations, the unshakable mental liberation is considered the best; and the unshakable mental liberation is empty of lust, empty of hatred, empty of delusion.
SC 86“Venerable, lust is a subject-maker, hatred is a subject-maker, delusion is a subject-maker. For a monk who has eliminated his defilements, these are abandoned, cut off at the root, made like a tree-trunk, obliterated, incapable of arising in the future. Venerable, of all the subjectless mental liberations, the unshakable mental liberation is considered the best; and the unshakable mental liberation is empty of lust, empty of hatred, empty of delusion.
SC 87“Venerable, this is the description whereby these phenomena are one in meaning in different only in name.”
SC 88This is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, Venerable Mahākoṭṭhita delighted in Venerable Sāriputta‘s speech.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Kotthita (Ðại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahā Kotthita nói với Tôn giả Sāriputta
(Tuệ giác)
SC 2—Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Suppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?
SC 3—Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nappajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.
- -Lành thay, Hiền giả!
SC 4Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi nữa
SC 5—Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
SC 6—Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.
(Thức)
SC 7—Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
SC 8—Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.
SC 9—Nầy Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
SC 10—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
SC 11—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
SC 12—Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.
(Thọ)
SC 13—Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
SC 14—Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.
(Tưởng)
SC 15—Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?
SC 16—Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.
SC 17—Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
SC 18—Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
(Thắng tri)
SC 19—Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?
SC 20—Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.
SC 21—Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được?
SC 22—Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
SC 23—Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?
SC 24—Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).
(Chánh kiến)
SC 25—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?
SC 26—Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.
SC 27—Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?
SC 28—Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ở đây, này Hiền giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (Suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ trợ, có chỉ (Samatha) hỗ trợ, có quán (Vipassana) hỗ trợ. Này Hiền giả, chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức.
(Hữu)
SC 29—Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (Bhava)?
SC 30—Này Hiền giả có ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.
SC 31—Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai được xảy ra?
SC 32—Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy, sự tái sinh trong tương lai được xảy ra.
SC 33—Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai không xảy ra?
SC 34—Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không xảy ra.
(Thiền-na thứ nhất)
SC 35—Này Hiền giả, thế nào là Thiền thứ nhất?
SC 36—Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.
SC 37—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?
SC 38—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.
SC 39—Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?
SC 40- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần.
(Năm căn)
SC 41—Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh giới, hành giới của chúng?
SC 42—Nầy Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng.
SC 43—Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?
SC 44—Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên tuổi thọ (Ayu) mà chúng an trú.
SC 45—Này Hiền giả, tuổi thọ do duyên gì mà an trú?
SC 46—Tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.
SC 47—Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an trú?
SC 48—Hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
SC 49—Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ lời nói của Tôn giả Sāriputta là tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sāriputta là hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?
SC 50—Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Nhờ ví dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên tim đèn, ánh sáng được hiện ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
(Pháp thọ hành)
SC 51—Này Hiền giả, những pháp thọ hành (Ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (Vedaniya) này, hay những pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?
SC 52—Này Hiền giả, những pháp thọ hành này không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.
SC 53—Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri?
SC 54—Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba pháp được từ bỏ: Tuổi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri.
SC 55—Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định?
SC 56—Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này, thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm hành chấm dứt, dừng lại, tuổi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị bại hoại. Còn vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuổi thọ không diệt tận, hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định.
(Tâm giải thoát)
SC 57—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc?
SC 58—Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc.
SC 59—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?
SC 60—Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát: không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.
SC 61—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?
SC 62—Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới, và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát.
SC 63—Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?
SC 64—Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.
SC 65—Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.
SC 66—Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.
SC 67Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.
SC 68Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: “Ðây trống không, không có tự ngã hay không có ngã sở”. Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.
SC 69Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.
SC 70Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa đồng nhất nhưng danh sai biệt. Tham, này Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng; sân là nguyên nhân của hạn lượng; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát không có tham, không có sân, không có si.
SC 71Tham, này Hiền giả, là một vật gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì (chướng ngại). Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy không có tham, không có sân, không có si.
SC 72Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si. Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đồng nghĩa nhưng danh sai biệt.
SC 73Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“‘Duppañño duppañño’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, duppaññoti vuccatī”ti?
“‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccati.
Kiñca nappajānāti?
‘Idaṁ dukkhan’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti nappajānāti.
‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccatī”ti.
“Sādhāvuso”ti kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“‘Paññavā paññavā’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, paññavāti vuccatī”ti?
“‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccati.
Kiñca pajānāti?
‘Idaṁ dukkhan’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti pajānāti.
‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccatī”ti.
“‘Viññāṇaṁ viññāṇan’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, viññāṇanti vuccatī”ti?
“‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccati.
Kiñca vijānāti?
Sukhantipi vijānāti, dukkhantipi vijānāti, adukkhamasukhantipi vijānāti.
‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccatī”ti.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ.
Yaṁ hāvuso, pajānāti taṁ vijānāti, yaṁ vijānāti taṁ pajānāti.
Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ paññā bhāvetabbā, viññāṇaṁ pariññeyyaṁ.
Idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“‘Vedanā vedanā’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, vedanāti vuccatī”ti?
“‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccati.
Kiñca vedeti?
Sukhampi vedeti, dukkhampi vedeti, adukkhamasukhampi vedeti.
‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccatī”ti.
“‘Saññā saññā’ti, āvuso, vuccati.
Kittāvatā nu kho, āvuso, saññāti vuccatī”ti?
“‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccati.
Kiñca sañjānāti?
Nīlakampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti.
‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccatī”ti.
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—
ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ.
Yaṁ hāvuso, vedeti taṁ sañjānāti, yaṁ sañjānāti taṁ vijānāti.
Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā no visaṁsaṭṭhā.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
“Nissaṭṭhena hāvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena kiṁ neyyan”ti?
“Nissaṭṭhena, āvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ neyyan”ti.
“Neyyaṁ panāvuso, dhammaṁ kena pajānātī”ti?
“Neyyaṁ kho, āvuso, dhammaṁ paññācakkhunā pajānātī”ti.
“Paññā panāvuso, kimatthiyā”ti?
“Paññā kho, āvuso, abhiññatthā pariññatthā pahānatthā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti?
“Dve kho, āvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya—
parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro.
Ime kho, āvuso, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
“Katihi panāvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti?
“Pañcahi kho, āvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca.
Idhāvuso, sammādiṭṭhi sīlānuggahitā ca hoti, sutānuggahitā ca hoti, sākacchānuggahitā ca hoti, samathānuggahitā ca hoti, vipassanānuggahitā ca hoti.
Imehi kho, āvuso, pañcahaṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti.
“Kati panāvuso, bhavā”ti?
“Tayome, āvuso, bhavā—
kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo”ti.
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti?
“Avijjānīvaraṇānaṁ kho, āvuso, sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ tatratatrābhinandanā—
evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti.
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti?
“Avijjāvirāgā kho, āvuso, vijjuppādā taṇhānirodhā—
evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti.
“Katamaṁ panāvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti?
“Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—
idaṁ vuccati, āvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti.
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ katiaṅgikan”ti?
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgikaṁ.
Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca.
Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgikan”ti.
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ kataṅgavippahīnaṁ kataṅgasamannāgatan”ti?
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ, pañcaṅgasamannāgataṁ.
Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti;
vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca.
Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ pañcaṅgasamannāgatan”ti.
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, kiṁ paṭisaraṇaṁ, ko ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti?
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, mano paṭisaraṇaṁ, mano ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti.
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni kiṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti?
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni āyuṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti.
“Āyu panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“Āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Usmā panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“Usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Idāneva kho mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
Idāneva pana mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
Yathā kathaṁ panāvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Tena hāvuso, upamaṁ te karissāmi;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, āvuso, telappadīpassa jhāyato acciṁ paṭicca ābhā paññāyati, ābhaṁ paṭicca acci paññāyati;
evameva kho, āvuso, āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhati, usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Teva nu kho, āvuso, āyusaṅkhārā, te vedaniyā dhammā udāhu aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā”ti?
“Na kho, āvuso, teva āyusaṅkhārā te vedaniyā dhammā.
Te ca hāvuso, āyusaṅkhārā abhaviṁsu te vedaniyā dhammā, na yidaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyetha.
Yasmā ca kho, āvuso, aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā, tasmā saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyatī”ti.
“Yadā nu kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ kati dhammā jahanti; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti?
“Yadā kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ tayo dhammā jahanti—āyu usmā ca viññāṇaṁ; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti.
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—imesaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni paribhinnāni.
Yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno tassapi kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu na parikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni.
Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
“Kati panāvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“Cattāro kho, āvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā.
Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ime kho, āvuso, cattāro paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā—
sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro.
Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti?
“Tayo kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā—
sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro, pubbe ca abhisaṅkhāro.
Ime kho, āvuso, tayo paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti.
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti?
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāya—
sabbanimittānañca manasikāro, animittāya ca dhātuyā amanasikāro.
Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti.
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—atthi kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca;
atthi ca kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṁ.
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca?
Idhāvuso, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Ayaṁ vuccatāvuso, appamāṇā cetovimutti.
Katamā cāvuso, ākiñcaññā cetovimutti?
Idhāvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ākiñcaññā cetovimutti.
Katamā cāvuso, suññatā cetovimutti?
Idhāvuso, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Ayaṁ vuccatāvuso, suññatā cetovimutti.
Katamā cāvuso, animittā cetovimutti?
Idhāvuso, bhikkhu sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccatāvuso, animittā cetovimutti.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca.
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānaṁ?
Rāgo kho, āvuso, pamāṇakaraṇo, doso pamāṇakaraṇo, moho pamāṇakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, āvuso, appamāṇā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, āvuso, kiñcano, doso kiñcano, moho kiñcano.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, āvuso, ākiñcaññā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, āvuso, nimittakaraṇo, doso nimittakaraṇo, moho nimittakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, āvuso, animittā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
Idamavocāyasmā sāriputto.
Attamano āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandīti.
Mahāvedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.