Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Mithila (Di-tát-la), tại rừng Makhadevamba.
SC 2Rồi Thế Tôn mỉm cười khi đến tại một địa điểm. Tôn giả Ānanda liền suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không có lý do khiến Thế Tôn mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ānanda, đắp y phía một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do khiến Thế Tôn mỉm cười.
SC 4—Thuở xưa, này Ānanda, vị vua chính nước Mithila này tên là Makhadeva, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp, giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8. Rồi này Ānanda, vua Makhadeva sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, bảo người thợ cạo tóc:
SC 5“—Này Thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu ta, có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 6“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 7Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Makhadeva. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu vua Makhadeva có sanh tóc bạc, thấy vậy liền tâu vua Makhadeva:
SC 8“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 9“—Vậy này Thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 10“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 11Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Makhadeva, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay của vua Makhadeva. Rồi này Ānanda, vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi hoàng tử con đầu và nói:
SC 12“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ các dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, này Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia cho hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 13Rồi này Ānanda, vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như là một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, vua Makhadeva đã xuất gia.
SC 14Vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 15Với tâm thấm nhuần lòng bi … với tâm thấm nhuần lòng hỷ, … an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 16Nhưng này Ānanda, vua Makhadeva, tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử, tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tụ tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 17Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người thợ cạo tóc:
SC 18“—Này thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu Ta có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 19“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 20Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp con vua Makhadeva. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu con vua Makhadeva có sanh tóc bạc, thấy vậy liền tâu với con vua Makhadeva:
SC 21“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 22“—Vậy này thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 23“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 24Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp con vua Makhadeva, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay của con vua Makhadeva. Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi vị hoàng tử con đầu và nói:
SC 25“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã thấy sanh ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, này Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và nay, này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia này cho vị hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập. Con phải tiếp tục duy trì, chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 26Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho vị hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài này, con vua Makhadeva, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Nhưng này Ānanda, con vua Makhadeva tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử; tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài này, con vua Makhadeva sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 27Rồi này Ānanda, các tử tôn của vua Makhadeva truyền nối tiếp tục vua ấy, sau tám vạn bốn ngàn năm làm vương tộc (Khattiya), chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các vị ấy biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … … an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, những vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy tám vạn bốn ngàn năm đã chơi trò chơi của hoàng tử, tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Các vị ấy, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 28Nemi là vị cuối cùng của các vị vua ấy, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị đại vương thực hành Chánh pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
SC 29Thuở xưa, này Ānanda, khi chư Thiên ở Tāvatiṁsa (Tam thập tam thiên) ngồi hội họp với nhau tại giảng đường Thiện Pháp (Sudhamma), cuộc đối thoại sau đây được khởi lên: “Thật hạnh phúc thay cho dân chúng Videha, thật tốt đẹp thay cho dân chúng Videha, được vua Nemi là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
SC 30Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba:
SC 31“—Chư Khanh, chư Khanh có muốn yết kiến vua Nemi không?”.
SC 32“—Thưa Thiên chủ, chúng tôi muốn yết kiến vua Nemi”.
SC 33Lúc bấy giờ, vua Nemi trong ngày rằm lễ Bố-Tát (Uposatha), đã gội đầu, giữ trai giới đang ngồi trên lầu cung điện. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thiên chủ biến mất giữa chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, và hiện ra trước mặt vua Nemi. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với vua Nemi:
SC 34“—Tâu Ðại vương, thật hạnh phúc thay cho Ðại vương, thật tốt lành thay cho Ðại vương! Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba đang ngồi tại giảng đường Thiện Pháp tán thán Ðại vương và nói: “Thật hạnh phúc thay cho dân chúng Videha … và ngày mồng 8”. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba muốn yết kiến Ðại vương. Tâu Ðại vương, tôi sẽ gởi cho Ðại vương một cỗ xe có ngàn ngựa kéo, Ðại vương hãy cưỡi thiên xa ấy, chớ có sợ hãi! ”
SC 35Này Ānanda, vua Nemi im lặng nhận lời. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka, sau khi biết được vua Nemi đã nhận lời, như nhà lực sĩ … liền biến mất và hiện ra giữa chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba.
SC 36Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka gọi người đánh xe Mātali và nói:
SC 37“—Này Mātali, sau khi thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo hãy đi đến vua Nemi và nói: “Tâu Ðại vương, đây là cỗ xe có ngàn ngựa kéo do Thiên chủ Sakka gửi đến cho Ðại vương. Ðại vương hãy cưỡi thiên xa, chớ có sợ hãi! ”.
SC 38“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 39Người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka, cho thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, đi đến vua Nemi và thưa:
SC 40“—Tâu Ðại vương, đây là cỗ xe có ngàn ngựa kéo do Thiên chủ Sakka gửi đến cho Ðại vương. Ðại vương hãy cưỡi thiên xa, chớ có sợ hãi! Và tâu Ðại vương, con sẽ dẫn Ðại vương đi đường nào? Con đường do đó các nghiệp ác đưa đến sự cảm thọ quả báo các nghiệp ác hay con đường do đó các thiện nghiệp đưa đến sự cảm thọ quả báo các thiện nghiệp”.
SC 41“—Hãy đưa Ta đi, cả hai con đường”.
SC 42Và này Ānanda, người đánh xe Mātali đưa vua Nemi đến giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp). Này Ānanda, Thiên chủ Sakka thấy vua Nemi đường xa đi đến, sau khi thấy vậy, liền nói với vua Nemi:
SC 43“—Hãy đến, tâu Ðại vương; thiện lai, tâu Ðại vương. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba ngồi ở giảng đường Sudhamma, tán thán Ðại vương như sau: “Thật là hạnh phúc … và ngày mồng 8”. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba muốn yết kiến Ðại vương. Tâu Ðại vương, hãy hoan lạc với thiên uy lực giữa chư Thiên”.
SC 44“—Thôi vừa rồi, Tôn giả. Hãy đưa tôi về Mithila, tại đấy tôi sẽ sống theo Chánh pháp giữa các vị Bà-la-môn, gia chủ, và giữa các thị dân và thôn dân và thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
SC 45Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Mātali:
SC 46“—Này Mātali, sau khi thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, hãy đưa vua Nemi về tại Mithila”.
SC 47“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 48Này Ānanda, người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka, thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, và đưa vua Nemi về Mithila.
SC 49Ở đây, này Ānanda, vua Nemi sống như pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ và giữa thị dân và thôn dân, thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
SC 50Và này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm; vua Nemi gọi người thợ cạo tóc:
SC 51“—Này Thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu ta có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 52“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 53Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Nemi. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu vua Nemi có mọc tóc bạc, thấy vậy liền tâu với vua Nemi:
SC 54“—Các Thiên sứ đã hiện cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 55“—Vậy này Thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 56“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 57Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Nemi, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay vua Nemi. Rồi này Ānanda, vua Nemi, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi vị hoàng tử con đầu và nói:
SC 58“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ các dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia cho vị hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 59Rồi này Ānanda, vua Nemi, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như là một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho vị Hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … … an trú biến mãn mọt phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Nhưng này Ānanda, vua Nemi, tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử; tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 60Nhưng này Ānanda, người con của vua Nemi tên là Kalarajanaka. Vị này không xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị này đã cắt đứt truyền thống tốt đẹp ấy. Vị này là người tối hậu của các vị ấy. Này Ānanda, rất có thể Ông nghĩ như sau: “Trong thời ấy, vua Makhadeva, vị đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy là một vị khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có hiểu như vậy. Trong thời ấy, ta là Makhadeva. Ta đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy. Dân chúng đến sau cho rằng truyền thống tốt đẹp ấy được Ta thiết lập. Nhưng này Ānanda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ānanda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ānanda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 61Này Ānanda, về vấn đề này, Ta nói như sau: “Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta”. Này Ānanda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ānanda, Ta nói với Ông: “Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta”.
SC 62Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā mithilāyaṁ viharati maghadevaambavane.
Atha kho bhagavā aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“ko nu kho hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
Atha kho āyasmā ānando ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imissāyeva mithilāyaṁ rājā ahosi maghadevo nāma dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi:
‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha me āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena rañño maghadevassa sirasmiṁ palitāni jātāni.
Disvāna rājānaṁ maghadevaṁ etadavoca:
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā, dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā rañño maghadevassa añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca:
‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni;
bhuttā kho pana me mānusakā kāmā;
samayo dibbe kāme pariyesituṁ.
Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja.
Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi.
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi—
yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Rājā kho panānanda, maghadevo caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Atha kho rañño, ānanda, maghadevassa putto bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi:
‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kho āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa puttassa paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena rañño maghadevassa puttassa sirasmiṁ palitāni jātāni.
Disvāna rañño maghadevassa puttaṁ etadavoca:
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa puttassa paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā rañño maghadevassa puttassa añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Atha kho, ānanda, rañño maghadevassa putto kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca:
‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni;
bhuttā kho pana me mānusakā kāmā;
samayo dibbe kāme pariyesituṁ.
Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja.
Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi.
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi—
yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī’ti.
Atha kho, ānanda, rañño maghadevassa putto kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Rañño kho panānanda, maghadevassa putto caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Rañño kho panānanda, maghadevassa puttapaputtakā tassa paramparā caturāsītirājasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁsu.
Te mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷiṁsu, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresuṁ, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresuṁ, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā brahmacariyamacariṁsu.
Te cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpagā ahesuṁ.
Nimi tesaṁ rājā pacchimako ahosi dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
‘lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ,
yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘iccheyyātha no tumhe, mārisā, nimiṁ rājānaṁ daṭṭhun’ti?
‘Icchāma mayaṁ, mārisa, nimiṁ rājānaṁ daṭṭhun’ti.
Tena kho pana, ānanda, samayena nimi rājā tadahuposathe pannarase sīsaṁnhāto uposathiko uparipāsādavaragato nisinno hoti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito nimissa rañño pamukhe pāturahosi.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo nimiṁ rājānaṁ etadavoca:
‘lābhā te, mahārāja, suladdhaṁ te, mahārāja.
Devā, mahārāja, tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ kittayamānarūpā sannisinnā:
“lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ,
yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā”ti.
Devā te, mahārāja, tāvatiṁsā dassanakāmā.
Tassa te ahaṁ, mahārāja, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ pahiṇissāmi;
abhiruheyyāsi, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, nimi rājā tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo nimissa rañño adhivāsanaṁ viditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—nimissa rañño pamukhe antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadehi—
ayaṁ te, mahārāja, sahassayutto ājaññaratho sakkena devānamindena pesito;
abhiruheyyāsi, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ upasaṅkamitvā etadavoca:
‘ayaṁ te, mahārāja, sahassayutto ājaññaratho sakkena devānamindena pesito;
abhiruha, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno.
Api ca, mahārāja, katamena taṁ nemi, yena vā pāpakammā pāpakānaṁ kammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedenti, yena vā kalyāṇakammā kalyāṇakammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedentī’ti?
‘Ubhayeneva maṁ, mātali, nehī’ti.
Sampavesesi kho, ānanda, mātali, saṅgāhako nimiṁ rājānaṁ sudhammaṁ sabhaṁ.
Addasā kho, ānanda, sakko devānamindo nimiṁ rājānaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna nimiṁ rājānaṁ etadavoca:
‘ehi kho, mahārāja.
Svāgataṁ, mahārāja.
Devā te dassanakāmā, mahārāja, tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ kittayamānarūpā sannisinnā:
“lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ,
yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā”ti.
Devā te, mahārāja, tāvatiṁsā dassanakāmā.
Abhirama, mahārāja, devesu devānubhāvenā’ti.
‘Alaṁ, mārisa, tattheva maṁ mithilaṁ paṭinetu.
Tathāhaṁ dhammaṁ carissāmi brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasāmi cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ tattheva mithilaṁ paṭinehī’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ tattheva mithilaṁ paṭinesi.
Tatra sudaṁ, ānanda, nimi rājā dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca, uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassāti.
Atha kho, ānanda, nimi rājā bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi:
‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha me āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako nimissa rañño paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena nimissa rañño sirasmiṁ palitāni jātāni.
Disvāna nimiṁ rājānaṁ etadavoca:
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako nimissa rañño paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā nimissa rañño añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Atha kho, ānanda, nimi rājā kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca:
‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni;
bhuttā kho pana me mānusakā kāmā;
samayo dibbe kāme pariyesituṁ.
Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja.
Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi.
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi:
“yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī”’ti.
Atha kho, ānanda, nimi rājā kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Nimi kho panānanda, rājā caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Nimissa kho panānanda, rañño kaḷārajanako nāma putto ahosi.
Na so agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ samucchindi.
So tesaṁ antimapuriso ahosi.
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa:
‘añño nūna tena samayena rājā maghadevo ahosi, yena taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitan’ti.
Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena rājā maghadevo ahosiṁ.
Ahaṁ taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihiniṁ, mayā taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ;
pacchimā janatā anuppavattesi.
Taṁ kho panānanda, kalyāṇaṁ vattaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva brahmalokūpapattiyā.
Idaṁ kho panānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamañcānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Idaṁ kho, ānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Taṁ vo ahaṁ, ānanda, evaṁ vadāmi:
‘yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyātha, mā kho me tumhe antimapurisā ahuvattha’.
Yasmiṁ kho, ānanda, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ vo ahaṁ, ānanda, evaṁ vadāmi:
‘yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyātha, mā kho me tumhe antimapurisā ahuvatthā’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Maghadevasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Dhdas-bh 1Nya 1Thus have I heard: At one time the Lord was staying near Mithilā in Makhādeva's Mango Grove. Then the Lord smiled (when he PTS vp En 268 came to a) certain place. Then it occurred to the venerable Ānanda: “What is the cause, what the reason that the Lord is smiling? Not without motive do Tathāgatas smile.” Then the venerable Ānanda, having arranged his robe over one shoulder, having saluted the Lord with joined palms, spoke thus to the Lord: “Now, revered sir, what is the cause, what the reason that the Lord is smiling? Not without motive do Tathāgatas smile.”
Dhdas-bh 2“Once upon a time, Ānanda, in this very Mithilā there was a king named Makhādeva, a Dhamma-man, a king under Dhamma, firm in Dhamma, a great king who fared by Dhamma among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk, and who observed the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month. Then, Ānanda, at the end of many years, many hundreds of years, many thousands of years, King Makhādeva addressed his barber, saying: ‘When, good barber, you see grey hairs growing on my head, then you may tell me.’ Ānanda, the barber answered King Makhādeva in assent, saying, ‘Yes, sire.’
Dhdas-bh 3Then, Ānanda, at the end of many years, many hundreds of years, many thousands of years, the barber saw grey hairs growing on King Makhādeva's head. Seeing that, Ānanda, he spoke thus to King Makhādeva: ‘Death's messengers have appeared to his majesty; grey hairs are to be seen growing on his head.’ ‘Well then, good barber, when you have pulled out those grey hairs properly with the tweezers, place them on my fingers.’ ‘Yes, your majesty.’ And when, Ānanda, the barber had answered King Makhādeva in assent, he pulled out the grey hairs properly with the tweezers and placed them on King Makhādeva's fingers.
Dhdas-bh 4And, Ānanda, King Makhādeva, having given the boon of a village to the barber, had the prince who was his eldest son summoned and spoke thus: ‘Dear Prince, Death's messengers have appeared to me; grey hairs are to be seen growing on my head. Human sense-pleasures PTS vp En 269 have been enjoyed by me; it is now time to seek deva-like sense-pleasures. Come you, dear Prince, rule this kingdom. For I, having cut off my hair and beard, having donned saffron garments, will go forth from home into homelessness. And now, dear Prince, when you too see grey hairs growing on your head, then, having given the boon of a village to the barber, having handed over the kingdom properly to the prince who is your eldest son, having cut off your hair and beard, having donned saffron garments, you should go forth from home into homelessness. This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me. Dear Prince, while two persons exist and there is a breaking of such a lovely custom, whichever of these (breaks it) he is the last man. So I, dear Prince, speak thus to you: ‘This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me.’ Then, Ānanda, King Makhādeva, having given the boon of the village to the barber, having handed over the kingdom properly to the prince who was his eldest son, having in this very Makhādeva Mango Grove cut off his hair and beard, having donned saffron garments, went forth from home into homelessness.
Dhdas-bh 5He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of friendliness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of friendliness that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 6He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of compassion, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of compassion that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 7He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of sympathetic joy, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of sympathetic joy that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 8He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of equanimity that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 9But, Ānanda, King Makhādeva had played at boys' sports for 84,000 years, had ruled as a viceroy for 84,000 years, and had ruled as a king for 84,000 years; for 84,000 years, gone forth from home into homelessness in this very Makhādeva Mango Grove, he fared the Brahma-faring. He, having developed the four Brahma-abidings, was one who at the breaking up of the body after dying reached the Brahma-world. And, Ānanda, at the end of many years, many hundreds of years, many thousands of years, King Makhādeva's son addressed his barber, saying: ‘When, good barber, you see grey hairs growing on my head, then you may tell me.’ Ānanda, the barber answered King Makhādeva's son in assent, saying, ‘Yes, sire.’
Dhdas-bh 10Then, Ānanda, at the end of many years, many hundreds of years, many thousands of years, the barber saw grey hairs growing on King Makhādeva's son head. Seeing that, Ānanda, he spoke thus to King Makhādeva's son: ‘Death's messengers have appeared to his majesty; grey hairs are to be seen growing on his head.’ ‘Well then, good barber, when you have pulled out those grey hairs properly with the tweezers, place them on my fingers.’ ‘Yes, your majesty.’ And when, Ānanda, the barber had answered King Makhādeva's son in assent, he pulled out the grey hairs properly with the tweezers and placed them on King Makhādeva's son's fingers. And, Ānanda, King Makhādeva's son, having given the boon of a village to the barber, had the prince who was his eldest son summoned and spoke thus: ‘Dear Prince, Death's messengers have appeared to me; grey hairs are to be seen growing on my head. Human sense-pleasures have been enjoyed by me; it is now time to seek deva-like sense-pleasures. Come you, dear Prince, rule this kingdom. For I, having cut off my hair and beard, having donned saffron garments, will go forth from home into homelessness.
Dhdas-bh 11And now, dear Prince, when you too see grey hairs growing on your head, then, having given the boon of a village to the barber, having handed over the kingdom properly to the prince who is your eldest son, having cut off your hair and beard, having donned saffron garments, you should go forth from home into homelessness. This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me. Dear Prince, while two persons exist and there is a breaking of such a lovely custom, whichever of these (breaks it) he is the last man. So I, dear Prince, speak thus to you: This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me.’ Then, Ānanda, King Makhādeva's son, having given the boon of the village to the barber, having handed over the kingdom properly to the prince who was his eldest son, having in this very Makhādeva Mango Grove cut off his hair and beard, having donned saffron garments, went forth from home into homelessness.
Dhdas-bh 12He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of friendliness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of friendliness that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 13He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of compassion, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of compassion that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 14He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of sympathetic joy, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of sympathetic joy that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 15He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of equanimity that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 16But, Ānanda, King Makhādeva's son had played at boys' sports for 84,000 years, had ruled as a viceroy for 84,000 years, and had ruled as a king for 84,000 years; for 84,000 years, gone forth from home into homelessness in this very Makhādeva Mango Grove, he fared the Brahma-faring. He, having developed the four Brahma-abidings, was PTS vp En 270 one who at the breaking up of the body after dying reached the Brahma-world. And then, Ānanda, King Makhādeva's sons' descendants who succeeded him, after 84,(KM) years as nobles, having in this very Makhādeva Mango Grove cut off their hair and beards, having donned saffron garments, went forth from home into homelessness.
Dhdas-bh 17These dwelt, having suffused the first quarter with a mind of friendliness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of friendliness that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 18These dwelt, having suffused the first quarter with a mind of compassion, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of compassion that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 19These dwelt, having suffused the first quarter with a mind of sympathetic joy, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of sympathetic joy that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 20These dwelt, having suffused the first quarter with a mind of equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of equanimity that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 21These, having developed the four Brahma-abidings, were those who at the breaking up of the body after dying reached the Brahma-world. Nimi was the last of these kings, a Dhamma-man, a king under Dhamma, firm in Dhamma, a great king who fared by Dhamma among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk, and who observed the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month.
Dhdas-bh 22Once upon a time, Ānanda, when the Devas of the Thirty-Three were sitting down gathered together in the Sudhammā debating hall, this chance talk arose: ‘Indeed it is a gain for the Videhas indeed it is well gotten by the Videhas in that their King Nimi is a Dhamma-man, a king under Dhamma, firm in Dhamma, a great king who fares by Dhamma among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk, and who observes the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month.’
Dhdas-bh 23Then, Ānanda, Sakka, the lord of devas, addressed the Devas of the Thirty-Three: saying; ‘Do you, good sirs, want to see King Nimi?’ ‘We, good sir, want to see King Nimi.’ At that time King Nimi, keeping an Observance day, having washed his head on that Observance day, a fifteenth day, was sitting down on an upper terrace of his palace. Then, Ānanda, as a strong man might stretch out his bent arm or might bend back his outstretched arm, so did Sakka, the lord of devas, disappearing from the Devas of the Thirty-Three, appear before King Nimi.
Dhdas-bh 24Then, Ānanda, Sakka, the lord of devas, spoke thus to King Nimi: ‘It is a gain for you, sire, it is well gotten by you, sire. Sire, the Devas of the Thirty-Three are sitting down in the Sudhammā debating hall, praising you and saying: “Indeed it is a gain for the Videhas indeed it is well gotten by the Videhas in that their King Nimi is a Dhamma-man, a king under Dhamma, firm in Dhamma, a great king who fares by Dhamma among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk, and who observes the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month.” Sire, the Devas of the Thirty-Three are anxious to see you, so I, sire, will send you a chariot harnessed PTS vp En 271 with a thousand thoroughbreds; sire, you should mount the deva-like vehicle without hesitation.’ Ānanda, King Nimi consented by becoming silent.
Dhdas-bh 25Then, Ānanda, Sakka, the lord of devas, summoned the charioteer Mātali and said: ‘Come you, good Mātali, having harnessed a chariot with a thousand thoroughbreds, and having approached King Nimi, speak thus: “This chariot, harnessed with a thousand thoroughbreds, has been sent to you by Sakka, the lord of devas. Sire, you should mount the deva-like vehicle without hesitation.”’ ‘So be it, your honour.’
Dhdas-bh 26And, Ānanda, Mātali the charioteer, having answered Sakka, the lord of devas, in assent, having harnessed a chariot with a thousand thoroughbreds and having approached King Nimi, spoke thus: ‘This chariot, sire, harnessed with a thousand thoroughbreds, has been sent to you by Sakka, the lord of devas; sire, you should mount the deva-like vehicle without hesitation. And, moreover, sire, by which (route) do I conduct you, that by which evil deeds undergo the ripening of evil deeds or that by which lovely deeds undergo the ripening of lovely deeds?’ ‘Conduct me by both, Mātali.’ So, Ānanda, the charioteer Mātali brought King Nimi to the Sudhammā debating hall.
Dhdas-bh 27And, Ānanda, Sakka, the lord of devas, saw King Nimi approaching from the distance; seeing him, he spoke to King Nimi: ‘Come, sire, you are welcome, sire. Sire, the Devas of the Thirty-Three are sitting down in the Sudhammā debating hall praising you, and saying: “Indeed it is a gain for the Videhas indeed it is well gotten by the Videhas in that their King Nimi is a Dhamma-man, a king under Dhamma, firm in Dhamma, a great king who fares by Dhamma among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk, and who observes the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month.” Sire, the Devas of the Thirty-Three are anxious to see you. Rejoice, sire, among the Devas with a deva's majesty.’ ‘Enough, good sir; let me return to Mithilā itself, where I will fare by Dhamma among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk and will observe the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month.’
Dhdas-bh 28Then, Ānanda, Sakka, the lord of devas, summoned the charioteer Mātali and said: ‘Come you, good Mātali, having harnessed a chariot with a thousand thoroughbreds, take King Nimi back to Mithilā itself.’ PTS vp En 272 ‘So be it, your honour.’ And, Ānanda, Mātali the charioteer, having answered Sakka, the lord of devas, in assent, harnessed a chariot with a thousand thoroughbreds and took King Nimi back to Mithilā itself. While he was there, Ānanda, King Nimi fared by Dhamma, among brahmans and householders, townsfolk and countryfolk, and he observed the Observance on the fourteenth, fifteenth and eighth days of the half-month.
Dhdas-bh 29Then, Ānanda, at the end of many years, many hundreds of years, many thousands of years, King Nimi addressed his barber, saying: ‘When, good barber, you see grey hairs growing on my head, then you may tell me.’ Ānanda, the barber answered King Nimi in assent, saying, ‘Yes, sire.’ Then, Ānanda, at the end of many years, many hundreds of years, many thousands of years, the barber saw grey hairs growing on King Nimi's head. Seeing that, Ānanda, he spoke thus to King Nimi: ‘Death's messengers have appeared to his majesty; grey hairs are to be seen growing on his head.’ ‘Well then, good barber, when you have pulled out those grey hairs properly with the tweezers, place them on my fingers.’ ‘Yes, your majesty.’ And when, Ānanda, the barber had answered King Nimi in assent, he pulled out the grey hairs properly with the tweezers and placed them on King Nimi's fingers.
Dhdas-bh 30And, Ānanda, King Nimi, having given the boon of a village to the barber, had the prince who was his eldest son summoned and spoke thus: ‘Dear Prince, Death's messengers have appeared to me; grey hairs are to be seen growing on my head. Human sense-pleasures have been enjoyed by me; it is now time to seek deva-like sense-pleasures. Come you, dear Prince, rule this kingdom. For I, having cut off my hair and beard, having donned saffron garments, will go forth from home into homelessness. And now, dear Prince, when you too see grey hairs growing on your head, then, having given the boon of a village to the barber, having handed over the kingdom properly to the prince who is your eldest son, having cut off your hair and beard, having donned saffron garments, you should go forth from home into homelessness. This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me. Dear Prince, while two persons exist and there is a breaking of such a lovely custom, whichever of these (breaks it) he is the last man. So I, dear Prince, speak thus to you: This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me.’
Dhdas-bh 31Then, Ānanda, King Nimi, having given the boon of the village to the barber, having handed over the kingdom properly to the prince who was his eldest son, having in this very Makhādeva Mango Grove cut off his hair and beard, having donned saffron garments, went forth from home into homelessness.
Dhdas-bh 32He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of friendliness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of friendliness that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 33He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of compassion, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of compassion that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 34He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of sympathetic joy, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of sympathetic joy that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 35He dwelt, having suffused the first quarter with a mind of equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; he dwelt having suffused the whole world everywhere, in every way, with a mind of equanimity that was far-reaching, wide-spread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 36But, Ānanda, King Nimi had played at boys' sports for 84,000 years, had ruled as a viceroy for 84,000 years, and had ruled as a king for 84,000 years; for 84,000 years, gone forth from home into homelessness in this very Makhādeva Mango Grove, he fared the Brahma-faring. He, having developed the four Brahma-abidings, was one who at the breaking up of the body after dying reached the Brahma-world. But, Ānanda, King Nimi's son was called Kaḷārajanaka. He did not go forth from home into homelessness. He broke that lovely custom; of those (who observed it) he was the last man.
Dhdas-bh 37It may be that this occurs to you, Ānanda: ‘At that time King Makhādeva by whom that lovely custom was founded was someone else.’ But this, Ānanda, must not be understood thus. I, at that time, was King Makhādeva, I founded that lovely custom; the folk that came after maintained that lovely custom founded by me. But that lovely custom, Ānanda, did not conduce to turning away from, nor to dispassion, stopping, tranquillity, super-knowledge, self-awakening or nibbāna, only to reaching the Brahma-world.
Dhdas-bh 38But this lovely custom founded by me now, Ānanda, conduces to absolute turning away from, to dispassion, stopping, tranquillity, super-knowledge, self-awakening and nibbāna. And what, Ānanda, is the lovely custom founded by me now that conduces to absolute turning away from, to dispassion, stopping, tranquillity, super-knowledge, self-awakening and nibbāna? It is this Ariyan Eightfold Way itself, that is to say, perfect view, perfect thought, perfect speech, perfect action, perfect mode of livelihood, perfect endeavour, perfect mindfulness, perfect concentration. It is this lovely custom founded by me now, Ānanda, that conduces to absolute turning away from away from, to dispassion, stopping, tranquillity, super-knowledge, self-awakening and nibbāna.
Dhdas-bh 39I, Ānanda, speak about it thus: This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me. Ānanda, while two persons exist and there is a breaking of such a lovely custom, whichever one of these (breaks it), he is the last man. In regard to this, I, Ānanda, speak to you thus: This lovely custom founded by me you should maintain; do not you be the last man after me.”
Dhdas-bh 40PTS vp En 273 Thus spoke the Lord. Delighted, the venerable Ānanda rejoiced in what the Lord had said.
Discourse on Makhādeva: The Third
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Mithila (Di-tát-la), tại rừng Makhadevamba.
SC 2Rồi Thế Tôn mỉm cười khi đến tại một địa điểm. Tôn giả Ānanda liền suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không có lý do khiến Thế Tôn mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ānanda, đắp y phía một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do khiến Thế Tôn mỉm cười.
SC 4—Thuở xưa, này Ānanda, vị vua chính nước Mithila này tên là Makhadeva, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp, giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8. Rồi này Ānanda, vua Makhadeva sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, bảo người thợ cạo tóc:
SC 5“—Này Thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu ta, có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 6“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 7Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Makhadeva. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu vua Makhadeva có sanh tóc bạc, thấy vậy liền tâu vua Makhadeva:
SC 8“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 9“—Vậy này Thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 10“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 11Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Makhadeva, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay của vua Makhadeva. Rồi này Ānanda, vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi hoàng tử con đầu và nói:
SC 12“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ các dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, này Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia cho hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 13Rồi này Ānanda, vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như là một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, vua Makhadeva đã xuất gia.
SC 14Vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 15Với tâm thấm nhuần lòng bi … với tâm thấm nhuần lòng hỷ, … an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 16Nhưng này Ānanda, vua Makhadeva, tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử, tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tụ tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 17Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người thợ cạo tóc:
SC 18“—Này thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu Ta có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 19“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 20Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp con vua Makhadeva. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu con vua Makhadeva có sanh tóc bạc, thấy vậy liền tâu với con vua Makhadeva:
SC 21“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 22“—Vậy này thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 23“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 24Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp con vua Makhadeva, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay của con vua Makhadeva. Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi vị hoàng tử con đầu và nói:
SC 25“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã thấy sanh ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, này Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và nay, này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia này cho vị hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập. Con phải tiếp tục duy trì, chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 26Rồi này Ānanda, con vua Makhadeva, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho vị hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài này, con vua Makhadeva, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Nhưng này Ānanda, con vua Makhadeva tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử; tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài này, con vua Makhadeva sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 27Rồi này Ānanda, các tử tôn của vua Makhadeva truyền nối tiếp tục vua ấy, sau tám vạn bốn ngàn năm làm vương tộc (Khattiya), chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các vị ấy biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … … an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, những vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy tám vạn bốn ngàn năm đã chơi trò chơi của hoàng tử, tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như một phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Các vị ấy, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 28Nemi là vị cuối cùng của các vị vua ấy, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị đại vương thực hành Chánh pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
SC 29Thuở xưa, này Ānanda, khi chư Thiên ở Tāvatiṁsa (Tam thập tam thiên) ngồi hội họp với nhau tại giảng đường Thiện Pháp (Sudhamma), cuộc đối thoại sau đây được khởi lên: “Thật hạnh phúc thay cho dân chúng Videha, thật tốt đẹp thay cho dân chúng Videha, được vua Nemi là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
SC 30Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba:
SC 31“—Chư Khanh, chư Khanh có muốn yết kiến vua Nemi không?”.
SC 32“—Thưa Thiên chủ, chúng tôi muốn yết kiến vua Nemi”.
SC 33Lúc bấy giờ, vua Nemi trong ngày rằm lễ Bố-Tát (Uposatha), đã gội đầu, giữ trai giới đang ngồi trên lầu cung điện. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thiên chủ biến mất giữa chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, và hiện ra trước mặt vua Nemi. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với vua Nemi:
SC 34“—Tâu Ðại vương, thật hạnh phúc thay cho Ðại vương, thật tốt lành thay cho Ðại vương! Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba đang ngồi tại giảng đường Thiện Pháp tán thán Ðại vương và nói: “Thật hạnh phúc thay cho dân chúng Videha … và ngày mồng 8”. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba muốn yết kiến Ðại vương. Tâu Ðại vương, tôi sẽ gởi cho Ðại vương một cỗ xe có ngàn ngựa kéo, Ðại vương hãy cưỡi thiên xa ấy, chớ có sợ hãi! ”
SC 35Này Ānanda, vua Nemi im lặng nhận lời. Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka, sau khi biết được vua Nemi đã nhận lời, như nhà lực sĩ … liền biến mất và hiện ra giữa chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba.
SC 36Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka gọi người đánh xe Mātali và nói:
SC 37“—Này Mātali, sau khi thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo hãy đi đến vua Nemi và nói: “Tâu Ðại vương, đây là cỗ xe có ngàn ngựa kéo do Thiên chủ Sakka gửi đến cho Ðại vương. Ðại vương hãy cưỡi thiên xa, chớ có sợ hãi! ”.
SC 38“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 39Người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka, cho thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, đi đến vua Nemi và thưa:
SC 40“—Tâu Ðại vương, đây là cỗ xe có ngàn ngựa kéo do Thiên chủ Sakka gửi đến cho Ðại vương. Ðại vương hãy cưỡi thiên xa, chớ có sợ hãi! Và tâu Ðại vương, con sẽ dẫn Ðại vương đi đường nào? Con đường do đó các nghiệp ác đưa đến sự cảm thọ quả báo các nghiệp ác hay con đường do đó các thiện nghiệp đưa đến sự cảm thọ quả báo các thiện nghiệp”.
SC 41“—Hãy đưa Ta đi, cả hai con đường”.
SC 42Và này Ānanda, người đánh xe Mātali đưa vua Nemi đến giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp). Này Ānanda, Thiên chủ Sakka thấy vua Nemi đường xa đi đến, sau khi thấy vậy, liền nói với vua Nemi:
SC 43“—Hãy đến, tâu Ðại vương; thiện lai, tâu Ðại vương. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba ngồi ở giảng đường Sudhamma, tán thán Ðại vương như sau: “Thật là hạnh phúc … và ngày mồng 8”. Tâu Ðại vương, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba muốn yết kiến Ðại vương. Tâu Ðại vương, hãy hoan lạc với thiên uy lực giữa chư Thiên”.
SC 44“—Thôi vừa rồi, Tôn giả. Hãy đưa tôi về Mithila, tại đấy tôi sẽ sống theo Chánh pháp giữa các vị Bà-la-môn, gia chủ, và giữa các thị dân và thôn dân và thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
SC 45Rồi này Ānanda, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Mātali:
SC 46“—Này Mātali, sau khi thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, hãy đưa vua Nemi về tại Mithila”.
SC 47“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 48Này Ānanda, người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka, thắng cỗ xe có ngàn ngựa kéo, và đưa vua Nemi về Mithila.
SC 49Ở đây, này Ānanda, vua Nemi sống như pháp giữa các Bà-la-môn, gia chủ và giữa thị dân và thôn dân, thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
SC 50Và này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm; vua Nemi gọi người thợ cạo tóc:
SC 51“—Này Thợ cạo tóc, khi nào Ông thấy trên đầu ta có mọc tóc bạc, hãy báo cho ta biết”.
SC 52“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 53Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Nemi. Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người thợ cạo tóc thấy trên đầu vua Nemi có mọc tóc bạc, thấy vậy liền tâu với vua Nemi:
SC 54“—Các Thiên sứ đã hiện cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
SC 55“—Vậy này Thợ cạo tóc, hãy khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, và đặt chúng trên bàn tay của ta”.
SC 56“—Thưa vâng, tâu Ðại vương”.
SC 57Này Ānanda, người thợ cạo tóc vâng đáp vua Nemi, sau khi khéo nhổ những sợi tóc bạc ấy với cái nhíp, đặt chúng trên bàn tay vua Nemi. Rồi này Ānanda, vua Nemi, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, liền cho gọi vị hoàng tử con đầu và nói:
SC 58“—Này Hoàng tử thân yêu, các Thiên sứ đã hiện ra cho ta, tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu. Ta đã hưởng thọ các dục lạc thế gian, nay đã đến thời đi tìm kiếm các thiên lạc. Hãy đến đây, Hoàng tử thân yêu, hãy trị vì quốc độ này. Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, ta sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và này Hoàng tử thân yêu, khi nào con thấy tóc bạc mọc ra trên đầu, thời hãy cho người thợ cạo tóc một lương ấp như một ân tứ, sau khi khéo giao lại quốc gia cho vị hoàng tử con đầu, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, hãy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta. Này Hoàng tử thân yêu, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Này Hoàng tử thân yêu, ta nói với con: “Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta”.
SC 59Rồi này Ānanda, vua Nemi, sau khi cho người thợ cạo tóc một lương ấp như là một ân tứ, sau khi khéo giao quốc gia cho vị Hoàng tử con đầu, chính tại rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm thấm nhuần lòng bi … … Với tâm thấm nhuần lòng hỷ … … an trú biến mãn mọt phương với tâm thấm nhuần lòng xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm thấm nhuần lòng xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Nhưng này Ānanda, vua Nemi, tám vạn bốn ngàn năm, đã chơi trò chơi của hoàng tử; tám vạn bốn ngàn năm, đã trị vì như phó vương; tám vạn bốn ngàn năm, đã chấp chánh như một quốc vương; tám vạn bốn ngàn năm, chính tại ngôi rừng xoài Makhadeva này, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống theo Phạm hạnh. Vị này, sau khi tu tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
SC 60Nhưng này Ānanda, người con của vua Nemi tên là Kalarajanaka. Vị này không xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị này đã cắt đứt truyền thống tốt đẹp ấy. Vị này là người tối hậu của các vị ấy. Này Ānanda, rất có thể Ông nghĩ như sau: “Trong thời ấy, vua Makhadeva, vị đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy là một vị khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có hiểu như vậy. Trong thời ấy, ta là Makhadeva. Ta đã thiết lập truyền thống tốt đẹp ấy. Dân chúng đến sau cho rằng truyền thống tốt đẹp ấy được Ta thiết lập. Nhưng này Ānanda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ānanda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ānanda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 61Này Ānanda, về vấn đề này, Ta nói như sau: “Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta”. Này Ānanda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ānanda, Ta nói với Ông: “Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta”.
SC 62Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā mithilāyaṁ viharati maghadevaambavane.
Atha kho bhagavā aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“ko nu kho hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
Atha kho āyasmā ānando ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imissāyeva mithilāyaṁ rājā ahosi maghadevo nāma dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi:
‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha me āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena rañño maghadevassa sirasmiṁ palitāni jātāni.
Disvāna rājānaṁ maghadevaṁ etadavoca:
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā, dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā rañño maghadevassa añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca:
‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni;
bhuttā kho pana me mānusakā kāmā;
samayo dibbe kāme pariyesituṁ.
Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja.
Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi.
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi—
yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā maghadevo kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Rājā kho panānanda, maghadevo caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Atha kho rañño, ānanda, maghadevassa putto bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi:
‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kho āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa puttassa paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena rañño maghadevassa puttassa sirasmiṁ palitāni jātāni.
Disvāna rañño maghadevassa puttaṁ etadavoca:
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako rañño maghadevassa puttassa paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā rañño maghadevassa puttassa añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Atha kho, ānanda, rañño maghadevassa putto kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca:
‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni;
bhuttā kho pana me mānusakā kāmā;
samayo dibbe kāme pariyesituṁ.
Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja.
Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi.
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi—
yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī’ti.
Atha kho, ānanda, rañño maghadevassa putto kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Rañño kho panānanda, maghadevassa putto caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Rañño kho panānanda, maghadevassa puttapaputtakā tassa paramparā caturāsītirājasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁsu.
Te mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷiṁsu, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresuṁ, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresuṁ, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā brahmacariyamacariṁsu.
Te cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpagā ahesuṁ.
Nimi tesaṁ rājā pacchimako ahosi dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
‘lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ,
yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘iccheyyātha no tumhe, mārisā, nimiṁ rājānaṁ daṭṭhun’ti?
‘Icchāma mayaṁ, mārisa, nimiṁ rājānaṁ daṭṭhun’ti.
Tena kho pana, ānanda, samayena nimi rājā tadahuposathe pannarase sīsaṁnhāto uposathiko uparipāsādavaragato nisinno hoti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito nimissa rañño pamukhe pāturahosi.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo nimiṁ rājānaṁ etadavoca:
‘lābhā te, mahārāja, suladdhaṁ te, mahārāja.
Devā, mahārāja, tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ kittayamānarūpā sannisinnā:
“lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ,
yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā”ti.
Devā te, mahārāja, tāvatiṁsā dassanakāmā.
Tassa te ahaṁ, mahārāja, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ pahiṇissāmi;
abhiruheyyāsi, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, nimi rājā tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo nimissa rañño adhivāsanaṁ viditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—nimissa rañño pamukhe antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadehi—
ayaṁ te, mahārāja, sahassayutto ājaññaratho sakkena devānamindena pesito;
abhiruheyyāsi, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ upasaṅkamitvā etadavoca:
‘ayaṁ te, mahārāja, sahassayutto ājaññaratho sakkena devānamindena pesito;
abhiruha, mahārāja, dibbaṁ yānaṁ avikampamāno.
Api ca, mahārāja, katamena taṁ nemi, yena vā pāpakammā pāpakānaṁ kammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedenti, yena vā kalyāṇakammā kalyāṇakammānaṁ vipākaṁ paṭisaṁvedentī’ti?
‘Ubhayeneva maṁ, mātali, nehī’ti.
Sampavesesi kho, ānanda, mātali, saṅgāhako nimiṁ rājānaṁ sudhammaṁ sabhaṁ.
Addasā kho, ānanda, sakko devānamindo nimiṁ rājānaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna nimiṁ rājānaṁ etadavoca:
‘ehi kho, mahārāja.
Svāgataṁ, mahārāja.
Devā te dassanakāmā, mahārāja, tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ kittayamānarūpā sannisinnā:
“lābhā vata, bho, videhānaṁ, suladdhaṁ vata, bho, videhānaṁ,
yesaṁ nimi rājā dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā;
dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā”ti.
Devā te, mahārāja, tāvatiṁsā dassanakāmā.
Abhirama, mahārāja, devesu devānubhāvenā’ti.
‘Alaṁ, mārisa, tattheva maṁ mithilaṁ paṭinetu.
Tathāhaṁ dhammaṁ carissāmi brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca;
uposathañca upavasāmi cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ tattheva mithilaṁ paṭinehī’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā nimiṁ rājānaṁ tattheva mithilaṁ paṭinesi.
Tatra sudaṁ, ānanda, nimi rājā dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca, uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassāti.
Atha kho, ānanda, nimi rājā bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena kappakaṁ āmantesi:
‘yadā me, samma kappaka, passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha me āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako nimissa rañño paccassosi.
Addasā kho, ānanda, kappako bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena nimissa rañño sirasmiṁ palitāni jātāni.
Disvāna nimiṁ rājānaṁ etadavoca:
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
‘Tena hi, samma kappaka, tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā mama añjalismiṁ patiṭṭhāpehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, kappako nimissa rañño paṭissutvā tāni palitāni sādhukaṁ saṇḍāsena uddharitvā nimissa rañño añjalismiṁ patiṭṭhāpesi.
Atha kho, ānanda, nimi rājā kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca:
‘pātubhūtā kho me, tāta kumāra, devadūtā;
dissanti sirasmiṁ palitāni jātāni;
bhuttā kho pana me mānusakā kāmā;
samayo dibbe kāme pariyesituṁ.
Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ rajjaṁ paṭipajja.
Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi.
Tena hi, tāta kumāra, yadā tvampi passeyyāsi sirasmiṁ palitāni jātāni, atha kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyāsi.
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Yasmiṁ kho, tāta kumāra, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ tāhaṁ, tāta kumāra, evaṁ vadāmi:
“yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosī”’ti.
Atha kho, ānanda, nimi rājā kappakassa gāmavaraṁ datvā jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā imasmiṁyeva maghadevaambavane kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …
muditāsahagatena cetasā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Nimi kho panānanda, rājā caturāsītivassasahassāni kumārakīḷitaṁ kīḷi, caturāsītivassasahassāni oparajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni rajjaṁ kāresi, caturāsītivassasahassāni imasmiṁyeva maghadevaambavane agārasmā anagāriyaṁ pabbajito brahmacariyamacari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Nimissa kho panānanda, rañño kaḷārajanako nāma putto ahosi.
Na so agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
So taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ samucchindi.
So tesaṁ antimapuriso ahosi.
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa:
‘añño nūna tena samayena rājā maghadevo ahosi, yena taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitan’ti.
Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena rājā maghadevo ahosiṁ.
Ahaṁ taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihiniṁ, mayā taṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ;
pacchimā janatā anuppavattesi.
Taṁ kho panānanda, kalyāṇaṁ vattaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva brahmalokūpapattiyā.
Idaṁ kho panānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamañcānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Idaṁ kho, ānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Taṁ vo ahaṁ, ānanda, evaṁ vadāmi:
‘yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyātha, mā kho me tumhe antimapurisā ahuvattha’.
Yasmiṁ kho, ānanda, purisayuge vattamāne evarūpassa kalyāṇassa vattassa samucchedo hoti so tesaṁ antimapuriso hoti.
Taṁ vo ahaṁ, ānanda, evaṁ vadāmi:
‘yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyātha, mā kho me tumhe antimapurisā ahuvatthā’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Maghadevasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.