Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Beal 1Vào thời xa xưa, khi Đức Phật còn tại thế, có một hành giả nọ trú ngụ dưới một gốc cây bên bờ sông. Sau khi thực hành các bài tập thiền định trong suốt mười hai năm, ông vẫn không thể dứt bỏ được những ý nghĩ trần tục, hoặc xua tan những ký ức về khoái lạc thế gian—cụ thể là những gì phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, hay những suy nghĩ về đặc tính của vạn vật xung quanh (pháp)—và do đó sau mười hai năm ấy, ông vẫn chưa đạt được sự chuyển hóa. Đức Phật nhận thấy khả năng giác ngộ của ông, nên đã biến hình thành một Sa-môn, đi đến gốc cây nơi ông đang ngồi và ngồi xuống gần đó. Một lát sau, dưới ánh trăng sáng, kìa! họ thấy một con rùa từ dưới sông bò lên và tiến về phía gốc cây; cùng lúc đó, một con chó rừng đang đói đi ngang qua cố gắng bắt con rùa để ăn thịt. Nhưng ngay khi con chó vừa định ra tay, con rùa liền thu đầu, đuôi và bốn chân vào trong mai, nên tuyệt đối an toàn, và con chó không thể làm hại được nó. Nhưng ngay khi con chó vừa bỏ đi, con rùa liền chui ra khỏi chỗ ẩn nấp và tiếp tục bò đi như trước. Thấy vậy, vị tu sĩ nói với vị Sa-môn: “Con rùa này, nhờ có sự bảo vệ an toàn như vậy (nghĩa đen: 'cái nón sắt của sự giải thoát'), nên con chó đã phải thất vọng vì vồ hụt bữa ăn.” Vị Sa-môn đáp lại: “Tôi nhớ có một người rất khác với con rùa này. Người này quên đi tính vô thường của mọi sự trên đời, đắm chìm trong sáu lạc thú của các căn, nên đã trở thành nạn nhân dễ dàng cho Ma-vương (Māra); thân xác tan rã, thần thức ra đi, ông ta lại bị cuốn vào vòng luân hồi bất tận của các hình thức sinh tử lặp đi lặp lại, là nạn nhân của những nỗi buồn và đau khổ do những suy nghĩ không được kiểm soát của mình tạo nên; và rồi Ngài lặp lại những bài kệ này:
“Thân xác này của ngươi sẽ sớm trở về với đất bụi—hình hài bị hủy hoại, thần thức bay đi—vậy thì, tại sao lại ham muốn một nơi trú ngụ như thế? Chính tâm tạo ra nơi trú ngụ cho riêng mình; từ thời xa xưa, tâm suy ngẫm về những nẻo tà, chính nó chuốc lấy nỗi khổ cho chính nó. Chính suy nghĩ tự tạo ra (nỗi đau của nó). Không cha hay mẹ nào có thể làm được nhiều như vậy; nếu chỉ cần những suy nghĩ được hướng về điều chân chính thì chắc chắn hạnh phúc sẽ theo sau. Che giấu lục dục như con rùa thu mình trong mai, canh giữ tâm ý như một thành phố được bao quanh bởi hào sâu, thì bậc trí giả trong cuộc chiến với Ma-vương chắc chắn sẽ chiến thắng, và tự giải thoát mình khỏi mọi khổ đau trong tương lai.”
Sau khi nghe những lời này, vị Tỳ-kheo đã từ bỏ mọi ham muốn dục lạc, đắc quả A-la-hán, và nhận ra Đức Phật trong hiện thân vị Sa-môn, liền phủ phục dưới chân Ngài; và tất cả chư Thiên, Rồng và các Thần xung quanh đó đều tràn ngập niềm hỷ lạc không thể tả xẻ.”
T 0584b11昔佛在世,時有一道人,在河邊樹下學道,十T 0584b12二年中貪想不除,走心散意但念六欲,目T 0584b13色耳聲鼻香口味身更心法,身靜意遊曾無寧T 0584b14息,十二年中不能得道。佛知可度,化作沙門T 0584b15往至其所,樹下共宿。須臾月明,有龜從河T 0584b16中出來至樹下,復有一水狗飢行求食,與龜T 0584b17相逢便欲噉龜,龜縮其頭尾及其四脚藏於T 0584b18甲中,不能得噉。水狗小遠,復出頭足行步如T 0584b19故,不能奈何遂便得脫。於是道人問化沙門:T 0584b20「此龜有護命之鎧,水狗不能得其便。」化沙T 0584b21門答曰:「吾念世人不如此龜,不知無常放T 0584b22恣六情,外魔得便形壞神去,生死無端輪T 0584b23轉五道,苦惱百千皆意所造,宜自勉勵求滅T 0584b24度安。」於是化沙門即說偈言:T 0584b25
SC Verse 84Verse 11.1「有身不久, 皆當歸土,
形壞神去,T 0584b26 寄住何貪?
SC Verse 85Verse 11.2心豫造處, 往來無端,T 0584b27
念多邪僻, 自為招患。
SC Verse 86Verse 11.3是意自造,T 0584b28 非父母為,
可勉向正, 為福勿廻。T 0584b29
SC Verse 87Verse 11.4藏六如龜, 防意如城,
慧與魔戰,T 0584c01 勝則無患。」T 0584c02
於是比丘聞說此偈,貪斷望止,即得羅漢道。T 0584c03知化沙門是佛世尊,敬肅整服稽首佛足,天T 0584c04龍鬼神莫不歡喜。
T 0584c05 Beal 1In times of old, when Buddha dwelt in the world, there was a certain religious person who had taken his abode under a tree beside the bank of a river. After practising himself in religious exercises for twelve years, he was still unable to get rid of worldly thoughts, or to banish recollections of worldly pleasures—to wit, those resulting from sight, or hearing, or smelling, or tasting, or handling, or thoughts about the properties of things around him (dharma)—and thus after these twelve years he was still unconverted. Buddha, perceiving his capability of conversion, transformed himself into a Shaman, and came to the tree where he sat, and occupied a place near the other. After a while, in an interval of moonshining, lo! they saw a tortoise come up out of the river, and come towards the tree; at the same time a hungry river-dog coming along endeavoured to lay hold of the tortoise to eat him. But no sooner did he make the attempt than the tortoise, gathering up his head and tail and legs into his shell, was in perfect safety, and the dog could do him no harm. But no sooner had the dog gone on than the tortoise, emerging from his concealment, walked on again as before. On this the ascetic observed to the Shaman—"This tortoise, because it possesses such a safe protection (lit. 'a casque of salvation'), the dog was disappointed of his meal.” To which the Shaman replied—"I remember a man who was very different from this. This man, forgetting the impermanency of all earthly things, and indulging in the six pleasures of sense, fell an easy victim to Māra; his body dissolved, his spirit gone, he was whirled again through the endless forms of repeated births, a victim of the sorrows and the misery formed by his ill-regulated thoughts; and then he repeated these gāthās:
“This body of thine shall soon return to the earth—your form destroyed, your spirit fled—why, then, covet such an abode? It is the mind that makes its own dwelling-place; from earliest time, the mind reflecting on evil ways, itself courts its own misery. It is the very thought that itself makes (its sorrow). Not a father or mother can do so much; if only the thoughts be directed to that which is right, then happiness must necessarily follow. Concealing the six appetites as the tortoise conceals his limbs, guarding the thoughts as a city is surrounded by the ditch, then the wise man in his struggle with Māra shall certainly conquer, and free himself from all future misery.”
Then the Bhikshu, having heard these words, putting away all lustful desires, attained Rahatship, and recognising Buddha in the form of the Shaman, he prostrated himself at his feet; and all the Devas, Nāgas, and Spirits, who surrounded the spot, were filled with unutterable joy.
Beal 1Vào thời xa xưa, khi Đức Phật còn tại thế, có một hành giả nọ trú ngụ dưới một gốc cây bên bờ sông. Sau khi thực hành các bài tập thiền định trong suốt mười hai năm, ông vẫn không thể dứt bỏ được những ý nghĩ trần tục, hoặc xua tan những ký ức về khoái lạc thế gian—cụ thể là những gì phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, hay những suy nghĩ về đặc tính của vạn vật xung quanh (pháp)—và do đó sau mười hai năm ấy, ông vẫn chưa đạt được sự chuyển hóa. Đức Phật nhận thấy khả năng giác ngộ của ông, nên đã biến hình thành một Sa-môn, đi đến gốc cây nơi ông đang ngồi và ngồi xuống gần đó. Một lát sau, dưới ánh trăng sáng, kìa! họ thấy một con rùa từ dưới sông bò lên và tiến về phía gốc cây; cùng lúc đó, một con chó rừng đang đói đi ngang qua cố gắng bắt con rùa để ăn thịt. Nhưng ngay khi con chó vừa định ra tay, con rùa liền thu đầu, đuôi và bốn chân vào trong mai, nên tuyệt đối an toàn, và con chó không thể làm hại được nó. Nhưng ngay khi con chó vừa bỏ đi, con rùa liền chui ra khỏi chỗ ẩn nấp và tiếp tục bò đi như trước. Thấy vậy, vị tu sĩ nói với vị Sa-môn: “Con rùa này, nhờ có sự bảo vệ an toàn như vậy (nghĩa đen: 'cái nón sắt của sự giải thoát'), nên con chó đã phải thất vọng vì vồ hụt bữa ăn.” Vị Sa-môn đáp lại: “Tôi nhớ có một người rất khác với con rùa này. Người này quên đi tính vô thường của mọi sự trên đời, đắm chìm trong sáu lạc thú của các căn, nên đã trở thành nạn nhân dễ dàng cho Ma-vương (Māra); thân xác tan rã, thần thức ra đi, ông ta lại bị cuốn vào vòng luân hồi bất tận của các hình thức sinh tử lặp đi lặp lại, là nạn nhân của những nỗi buồn và đau khổ do những suy nghĩ không được kiểm soát của mình tạo nên; và rồi Ngài lặp lại những bài kệ này:
“Thân xác này của ngươi sẽ sớm trở về với đất bụi—hình hài bị hủy hoại, thần thức bay đi—vậy thì, tại sao lại ham muốn một nơi trú ngụ như thế? Chính tâm tạo ra nơi trú ngụ cho riêng mình; từ thời xa xưa, tâm suy ngẫm về những nẻo tà, chính nó chuốc lấy nỗi khổ cho chính nó. Chính suy nghĩ tự tạo ra (nỗi đau của nó). Không cha hay mẹ nào có thể làm được nhiều như vậy; nếu chỉ cần những suy nghĩ được hướng về điều chân chính thì chắc chắn hạnh phúc sẽ theo sau. Che giấu lục dục như con rùa thu mình trong mai, canh giữ tâm ý như một thành phố được bao quanh bởi hào sâu, thì bậc trí giả trong cuộc chiến với Ma-vương chắc chắn sẽ chiến thắng, và tự giải thoát mình khỏi mọi khổ đau trong tương lai.”
Sau khi nghe những lời này, vị Tỳ-kheo đã từ bỏ mọi ham muốn dục lạc, đắc quả A-la-hán, và nhận ra Đức Phật trong hiện thân vị Sa-môn, liền phủ phục dưới chân Ngài; và tất cả chư Thiên, Rồng và các Thần xung quanh đó đều tràn ngập niềm hỷ lạc không thể tả xẻ.”
Beal 1In times of old, when Buddha dwelt in the world, there was a certain religious person who had taken his abode under a tree beside the bank of a river. After practising himself in religious exercises for twelve years, he was still unable to get rid of worldly thoughts, or to banish recollections of worldly pleasures—to wit, those resulting from sight, or hearing, or smelling, or tasting, or handling, or thoughts about the properties of things around him (dharma)—and thus after these twelve years he was still unconverted. Buddha, perceiving his capability of conversion, transformed himself into a Shaman, and came to the tree where he sat, and occupied a place near the other. After a while, in an interval of moonshining, lo! they saw a tortoise come up out of the river, and come towards the tree; at the same time a hungry river-dog coming along endeavoured to lay hold of the tortoise to eat him. But no sooner did he make the attempt than the tortoise, gathering up his head and tail and legs into his shell, was in perfect safety, and the dog could do him no harm. But no sooner had the dog gone on than the tortoise, emerging from his concealment, walked on again as before. On this the ascetic observed to the Shaman—"This tortoise, because it possesses such a safe protection (lit. 'a casque of salvation'), the dog was disappointed of his meal.” To which the Shaman replied—"I remember a man who was very different from this. This man, forgetting the impermanency of all earthly things, and indulging in the six pleasures of sense, fell an easy victim to Māra; his body dissolved, his spirit gone, he was whirled again through the endless forms of repeated births, a victim of the sorrows and the misery formed by his ill-regulated thoughts; and then he repeated these gāthās:
“This body of thine shall soon return to the earth—your form destroyed, your spirit fled—why, then, covet such an abode? It is the mind that makes its own dwelling-place; from earliest time, the mind reflecting on evil ways, itself courts its own misery. It is the very thought that itself makes (its sorrow). Not a father or mother can do so much; if only the thoughts be directed to that which is right, then happiness must necessarily follow. Concealing the six appetites as the tortoise conceals his limbs, guarding the thoughts as a city is surrounded by the ditch, then the wise man in his struggle with Māra shall certainly conquer, and free himself from all future misery.”
Then the Bhikshu, having heard these words, putting away all lustful desires, attained Rahatship, and recognising Buddha in the form of the Shaman, he prostrated himself at his feet; and all the Devas, Nāgas, and Spirits, who surrounded the spot, were filled with unutterable joy.